DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,482,528

Bùi Văn Phú - Ngã ba Ông Tạ ở chỗ nào, dân Ông Tạ là ai?

Saturday, April 3, 202112:21 PM(View: 243)
Bùi Văn Phú - Ngã ba Ông Tạ ở chỗ nào, dân Ông Tạ là ai?
Ngã ba Ông Tạ ở chỗ nào,

dân Ông Tạ là ai?



Thời Việt Nam Cộng hòa, Thủ đô Sài Gòn có 9 quận, sau thêm quận10, rồi 11. Như tôi còn nhớ.
Các khu vực được nhiều người biết, hay nghe nói đến là Bàn Cờ, Xóm Chiếu, Thị Nghè, Tân Định, Vườn Chuối, Ngã ba Ông Tạ.


blank
Sách về dân Ông Tạ của Cù Mai Công
[Nxb Trẻ. 2021] (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Tôi sinh ra và lớn lên trong một xứ đạo ở khu vực Ngã ba Ông Tạ, mà sau này những lúc khai hồ sơ, đơn từ về nơi sinh tôi vẫn không biết là ghi thế nào cho đúng vì ấp, xã nhà tôi lúc thì thuộc về Gia Định, lúc thuộc về Sài Gòn, bây giờ là một phường của TP SG.

Mới đây có sách “Sài Gòn một thuở - Dân Ông Tạ đó!” [Nxb. Trẻ, 2021] của nhà báo Cù Mai Công ghi lại khá rõ lịch sử và con người của khu vực này. Sách đã được đón nhận nồng nhiệt,được tái bản ngay và là “Best Seller” trong nhiều tuần qua.

Nhà báo họ Cù, hiện đang công tác tại báo Tuổi Trẻ, nổi tiếng từ những ngày còn là “Cỏ Cú”, “Lí Lắc” bên “Mực Tím” với sinh viên học sinh và sau đó có nhiều tác phẩm phóng sự xã hội qua 6 tập “Saigon by Night”.

Là dân gốc Ông Tạ nên tôi cũng tìm đọc sách của Cù Mai Công để xem nơi thân thương cũđã có thay đổi trong địa chí, trong nếp sống, trong tâm tình con người ở làng xưa xóm cũ ra sao. Nhất là khi tác phẩm do chính người con của Ông Tạ viết ra, vì tác giả được sinh ra ở xứ đạo Tân Chí Linh và sống ở đó cho đến nay.


Anh Cù Mai Công đã trân quý gửi tặng tôi một bản. Cám ơn tác giả và chị Thanh Thu, chủ quán Bánh cuốn Ông Tạ trong khu Vietnam Town ở San Jose, đã tạo cơ hội cho tôi nhận được sách sớm nhất trong hoàn cảnh Covid-19 với nhiều khó khăn.


Tập sách mở đầu với bài viết về địa chí khu vực, có bản đồ phác hoạ ranh giới từ hơn 150 năm trước.


Trải qua lịch sử, với trận đánh chiếm đại đồn Chí Hoà năm 1861, xem như thủ phủ của khu vực Ông Tạ ngày nay, là trận đánh với quân Pháp và Tây Ban Nha lớn nhất trước năm 1945 của dân quân triều Nguyễn, tuy thất bại, với hàng nghìn người hy sinh và tướng chỉ huyNguyễn Tri Phương bị thương nặng.


“Địa linh nhân kiệt” ngày xưa có ảnh hưởng đến người dân đến sống trên vùng đất này, đó là bản tính: “chấp nhận, kiên cường đối đầu gian khó với máu liều lĩnh trên vùng đất mới vốn toàn đầm lầy, mồ mả…” Theo nhận định của tác giả.


Dân Ông Tạ đã thể hiện những cá tính từ đó, qua bao thăng trầm lịch sử, dù là dân gốc Nam sống lâu đời ở đó, hay người Bắc 1954 di cư và cả những người đến đó sau năm 1975.


Về địa dư, Ngã ba Ông Tạ là ngã ba đường Phạm Hồng Thái, nối dài Lê Văn Duyệt (nay là Cách mạng Tháng 8) và đường Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai), với tiệm chụp ảnh Á Đông cao sừng sững, một thời là dấu mốc để nhận ra từ xa.


Khu vực này trước khi tràn ngập người di cư là những đầm lầy, là vườn cao su, vườn nhài, vườn lay-ơn mà tôi thường nghe thày u, cô chú bác nhắc đến. Hoa nhài tôi không còn nhìn thấy, nhưng vườn cao su thì ngày còn bé hay ra đó bắt dế, nhặt trái quay tung lên trời, xem cải mộ tây.


Qua tác phẩm, tác giả dựng lại hành trình hội nhập của hàng vạn dân Bắc di cư vào Nam, lập nên những xứ đạo Nghĩa Hoà, Nam Thái, Nam Hoà, An Lạc, Sao Mai, Tân Chí Linh, Thái Hoà, Lộc Hưng mang theo nhiều gắn bó trong tình đồng hương và nề nếp sinh hoạt từ quê Bắc.


Chẳng hạn như Nghĩa Hoà là tên ghép của xứ Nghĩa Chính ngoài Bắc và vùng đất mới Chí Hoà. Giáo xứ do cha Đinh Huy Năng trông coi hàng nghìn con chiên, được thành lập ngày 1/11/1954 trên đầm lầy và sau đó trở thành một xứ đạo rộng lớn nhất và đông giáo dân nhất vùng.


Xứ Nam Thái, nằm ngay trung tâm Ông Tạ, là tên ghép của hai tỉnh Nam Định và Thái Bình.


Qua tác phẩm, hình ảnh những con người tiêu biểu của khu vực Ông Tạ hiện lên, từ một phụ nữ buôn gánh bán bún nuôi con rồi trở thành ông bà chủ quán bún chả Ngọc Hà thơm lừng. Từ những xe phở Mầm, xe phở Phú Vinh đến các tiệm phở Bình, Hồng Châu, Cường mà khẩu vị chuyển dần từ Bắc sang Nam. Từ nhiều nhà làm giò bán trong vùng và phân phối đến nhiều nơi trong thủ đô. Từ xôi Nam Thái đến phở tái An Lạc. Các tiệm vàng, tiệm bánh các loại phù hợp và cần thiết cho việc cưới hỏi.


Khu vực Ngã ba Ông Tạ ngày trước nằm lọt trong xã Tân Sơn Hoà, tuy không phải là tên một đơn vị hành chánh hay tên đường, nhưng có thể nói đó là trung tâm thương mại của quận Tân Bình từ thập niên 1950 tới nay.


Nhưng dân Ông Tạ cũng không phải toàn những câu chuyện gầy dựng cơ sở thương mại thành công trong tinh thần “phi thương bất phú”, hay toàn những người hiền lành tử tế.


Kỹ sư Đặng Đình Đáng trong thương vụ nhập cảng và lắp ráp xe máy Puch từ châu Âu,với cơ sở lớn nhất vùng Đông Nam Á vào những năm giữa thập niên 1960, đã gặp thất bại kéo dài.


“Trùm Sơn Đảo” gốc Ông Tạ, khét tiếng du côn đã bị một trùm băng đảng khác thanh toán.


“Trai Nam Thái” hăng say xuống đường biểu tình chống chính phủ, “gái An Lạc” mang dao răng cưa chặt đá sẵn sàng chém đám thanh niên từ khu khác qua cướp tiền bầu cua vào một dịp Tết.


“Dân Ông Tạ ra ngõ không đụng giang hồ thì gặp… văn nghệ sĩ” là tựa một bài viết về giới văn nghệ sĩ có gốc từ đây.


Các nhạc sĩ Văn Giảng với “Ai về sông Tương”, “Hoa cài mái tóc”; Hoài An với “Tâm sự ngày xuân”, “Ngày xuân thăm nhau” là những ca khúc đã đi vào lòng người.


Ca sĩ có Giang Tử, Duy Khánh, Đàm Vĩnh Hưng, Minh Thuận, Tóc Tiên. MC Nguyễn Ngọc Ngạn, MC Đại Nghĩa. Nhạc sĩ có Hùng Lân, Ngọc Chánh, Ngọc Trọng, Vũ Xuân Hùng.


Các nhà văn Hoàng Hải Thuỷ, Nguyễn Đình Toàn, Võ Hà Anh – Dung Saigon, Nguyễn Ngọc Thuần; thi sĩ Đỗ Trung Quân, hoạ sĩ Bùi Đức Lâm, nhà báo Nguyễn Hồng Lam, Trương Bảo Châu; hoạ sĩ và nhà điêu khắc Lữ Thê (Đinh Văn Rật) cũng là người Ông Tạ. Còn nhiều nữa.


Trong bài viết, tác giả ghi nhầm về giải thưởng hội hoạ Việt-Mỹ của Lữ Thê. Nhà ông ngay sau nhà tôi và tôi có học vẽ và làm trong tiệm vẽ quảng cáo của ông vài năm, Lữ Thê được giải khuyến khích điêu khắc Giải Văn học Nghệ thuật Việt Nam Cộng hoà 1971 với bức tượng “Một hướng”, cùng năm với ca sĩ Thanh Lan được giải nữ tài tử điện ảnh có nhiều triển vọng nhất.


Dân gốc Ông Tạ cũng một thời nổi tiếng là những tay vô địch đấm bốc trên võ đài với nhiều giải thưởng.


Đọc “Dân Ông Tạ đó!”sẽ thấy lịch sử thành hình của những ngôi trường Nghĩa Hoà, Thánh Tâm, Ngô Sĩ Liên. Hay trường Mai Khôi, Nguyễn Thượng Hiền là nơi tác giả đã mài đũng quần nhiều năm.


Nghe kể chuyện ma cũng rờn rợn tóc gáy. Khu vực là mồ chôn của hàng vạn người trong chục nghĩa địa, nhưng vẫn có những bộ xương rải rác dưới nền nhà vì thế mới có chuyện ma ám tác giả khi còn bé. Ma trong ao cá trước nhà thờ An Lạc.


Lịch sử xa xưa của khu vực gắn liền với tên tuổi của Giám mục Bá Đa Lộc, được chôn trong “Lăng Cha Cả”, gần cổng vào phi trường Tân Sơn Nhất, mà sau 1975 đã được cải táng mang về Pháp.


Gần hơn là ông Huyện Sĩ Lê Phát Đạt, ông ngoại của Hoàng hậu Nam Phương, đã cống hiến khu đất xây nhà thờ Chí Hoà hơn trăm năm trước.
Sau đến Ông Tạ là thày thuốc nam Thủ Tạ, tên thật là Trần Văn Bỉ (1918-1983) hay giúp đỡ người nghèo, làm việc nghĩa nên đã lưu danh trong lòng người.


Khởi đi từ vùng đất bùn lầy nước đọng, Ngã ba Ông Tạ sau bao thăng trầm của lịch sử vẫn hừng hực sức sống. Người Ông Tạ cũng đã trải qua bao nhiêu khốn khó thời bao cấp, thời vượt biên, vượt biển mà tác giả chưa nhắc đến trong tập sách này.


Ngày nay người Ông Tạ có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, tiếp tục vươn lên. Trang “Hội đồng hương vùng Ông Tạ” trên Face Book, do anh Bùi Xuân Thái, gốc giáo xứ Nghĩa Hoà, điều hành là một trang mang tên một khu vực của Sài Gòn có đông thành viên, trên 9 nghìn và có những trao đổi trong tinh thần tương kính nhau. Đó cũng là đặc tính của dân Ông Tạ.


Nhiều người đang mong đọc tập sách kế tiếp của Cù Mai Công, vì với 172 trang của “Sài Gòn một thuở - Dân Ông Tạ đó!”, đọc xong chỉ như mới cảm nhận là phần giới thiệu về địa phương chí Ông Tạ.


Bùi Văn Phú
(từ: DĐTK)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, February 25, 20215:05 PM(View: 332)
Nói đến thơ Nguyễn Lương Vỵ trước tiên tôi hình dung khối lượng thơ khổng lồ của anh. Làm thơ từ thuở bé và xem thơ như thứ nghiệp dĩ cuộc đời thử hỏi đến tuổi gần bảy mươi, sự nghiệp thơ của Nguyễn Lương Vỵ không thể đề cập đến kiểu bài thơ này hoặc tập thơ kia mà phải nói tầm vóc một đời thơ, một gia sản thi ca ấy như thế nào? Và có nói như thế cũng chỉ là gượng ép bởi muốn nói như thế, ít ra bạn phải mất nhiều thời gian để đọc hết các tập thơ của anh. Tôi đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ từ thuở còn là một sinh viên văn khoa năm thứ nhất. Lúc bấy giờ thơ anh đăng trên tạp chí Khởi Hành hoặc Văn. Tôi thích thơ anh ngoài bản thân yêu thơ, tôi còn là người luôn cổ xúy tinh thần văn nghệ của thế hệ trẻ miền Trung (đầu thập niên 1970) mà lúc bấy giờ dường như trăm hoa đua nở. Đến khi tham dự quân sự học đường khóa đầu tiên, tôi gặp anh qua một người bạn học miền Trung. Cũng khá đặc biệt là tôi cùng người bạn đến thăm anh tại bệnh viện Sùng Chính. Nguyễn Lương Vỵ bị thương do xô xát với quân cả
Wednesday, February 24, 202110:52 AM(View: 308)
Từ đầu đến cuối, già 400 trang sách, tiểu thuyết “Đất mồ côi”[1] mô tả đầy rẫy những cái chết. Chết đơn chết chùm. Chết cá nhân chết nhóm. Chết trong các phong trào chính trị – xã hội, chết trong chiến tranh. Chết xưa chết nay. Chết Nam chết Bắc… Đây là một tiểu thuyết dành để nói về cái chết. Thật thế. Đến nỗi một nhà thơ, bạn tôi (mà không chỉ bạn tôi) quả quyết rằng cái tên tiểu thuyết “Đất mồ côi” lẽ ra phải là “Đất chết” thì mới thâu tóm chính xác được tinh thần của tác phẩm này. Cái chết chính là kết quả, đồng thời là hiện thân của BẠO LỰC. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về bạo lực, thứ bạo lực tác oai tác quái, hoành hành công khai, trắng trợn trong suốt lịch sử người Việt. Có thể hình dung mấy loại cái chết. Loại đầu tiên là cái chết do định kiến xã hội. Những lớp người mang bệnh hủi đi qua ngôi làng bị dân làng chôn sống. Mở đầu tiểu thuyết, tác giả dựng lên khung cảnh những người hủi bị giết chết, và cả người đàn ông kỳ dị chăm sóc đoàn người hủi mang dán
Sunday, February 21, 20218:37 AM(View: 375)
Chưa bao giờ câu ca dao ấy lại đúng hơn thế và cho ta lời khuyên đúng đắn, thiết thực nhất trong mùa đại dịch này. Cho dù tháng Giêng có “là tháng ăn chơi”, như một câu ca dao khác, thì cũng chỉ nên “ăn” và “chơi” ở trong nhà hoặc “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” hơn là du Xuân đến những chốn lao xao hội hè, đình đám. Một trong những “chốn vắng” ấy là dạo chơi trên cánh đồng thơ mùa xuân để hái về những bông hoa tươi thắm là những bài thơ, câu thơ tháng Giêng khoe sắc trong nắng xuân. Thơ hay, một đôi câu cũng hay. Những câu thơ trích dẫn trong bài này chỉ là tiện tay gặp đâu ghi xuống đó, không phân biệt, phân loại thơ cũ thơ mới, thơ già thơ trẻ, thơ ngoài Bắc thơ trong Nam, thơ ngoài nước thơ trong nước. Một bài thơ, câu thơ hay không bao giờ cũ. Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần (“Vội vàng”, Xuân Diệu) Câu thơ cũ nhưng vẫn cứ mới như mùa xuân chẳng bao giờ cũ, chẳng bao giờ già. “Tháng Giêng ngon”, không mới sao? Chẳng biết chơi Xuân, ăn Tết ngon, dở thế nào nhưng cứ
Sunday, February 14, 20218:56 AM(View: 451)
Thằng Nhớ giật mình tỉnh giấc khi nghe tiếng bà ngoại đang la cái gì đó ở ngoài sân. Ánh nắng xuyên qua khe hở của cửa sổ phết thành một vệt dài trên nền nhà. Nhớ đưa tay giụi mắt, vươn vai mấy cái. Nó bước xuống giường, vén mùng lên, xếp mền gối thật lẹ rồi bươn bả bước ra nhà sau xem có chuyện gì. Đứng gần bờ ao, bà ngoại đang nói thao thao, một tay chống nạnh, một tay chỉ trỏ, coi bộ giận dữ lắm. Thấy Nhớ ra, bà lại càng cao giọng như để phân bua: – Thiệt là quá sức chịu đựng rồi! Ai đời quần áo buổi tối còn phơi đầy một dây mà sáng ra mất ráo trọi. Thằng ăn trộm nào mà cả gan chọc tới nhà này vậy không biết! Nhớ hoảng hồn: – Mất quần áo hả ngoại? Còn bộ quần áo mới để mặc Tết của con ngoại giặt cho ra hồ đâu? Cũng mất luôn chớ gì? Bà ngoại thở ra: – May là ngoại giặt hôm bữa, thâu vô rồi. Lần này là lần thứ ba đó. Mất ba con gà tuần trước, rồi hôm kia mất thêm cái nồi đồng nữa. Điệu này chắc nhà mình hết ăn Tết quá! Ông ngoại đang ngồi đan rổ ở hàng hiên sau, cất giọng
Friday, February 12, 20219:47 AM(View: 464)
Ông Địa là người mang lại cái Tết cho mọi người. Giữa tiếng trống tiếng chiêng nhộn nhịp, ông nhảy múa với khuôn mặt không bao giờ tắt nụ cười. Tôi chưa bao giờ thấy ông Địa không cười. Nụ cười của ông không chỉ là nụ cười cứng ngắc trên mặt nạ mà còn hiển hiện trong bộ quần áo xanh đỏ lộn xộn, cái bụng phệ cố hữu và, nhất là điệu nhảy tung tăng với chiếc quạt bên những chú lân và những tràng pháo đang nhoáng lửa nổ vang lừng. Trong đoàn lân ngày tết, “nhân vật” nổi bật nhất dĩ nhiên là lân. Ngày xưa chỉ có một cặp lân, con đực là kỳ, con cái là lân. Ngày nay lân cũng như người, bị nạn nhân mãn nên có cả bày lân. Con xanh con đỏ, con trắng con vàng, hoa cả mắt. Bên cạnh lân là ông Địa. Ông này thờ chủ nghĩa độc thân nên xưa hay nay cũng vậy, cứ mình ên múa lung tung. Trẻ em thường khoái ông Địa. Nhạc sĩ Vũ Hoàng có bài hát “Bé Thương Ông Địa” nói lên sự yêu mến này: Ơi ông Địa có cái bụng ngộ ghê, Cầm cái quạt ông nhảy múa say mê. Ơi ông Địa có gương mặt thật duyên. Ông mãi cười