DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,144,975

CHIỀU XUỐNG BÊN ĐỒI - NT4 Phạm Hữu Huê

Friday, November 5, 201012:00 AM(View: 14011)
CHIỀU XUỐNG BÊN ĐỒI - NT4 Phạm Hữu Huê

NT4 PHẠM HỮU HUÊ

 

CHIỀU XUỐNG BÊN ĐỒI

 

  Mái tóc dài của mẹ tôi không còn nữa, nhìn chiếc đầu trọc, ba không còn vẻ đẹp dịu dàng ngày nào nữa. Ngay sau ngày đất nước rơi vào tay cộng sản, bà bương mình đi tìm con, và khi đã cầm chặc thật chắc cánh tay tôi, lúc ấy vết thương trên thân thể tôi chưa lành và lớp băng còn dính ngực, bà bảo:

- Thôi! Con về với mạ, sớm hôm có nhau, chiến tranh qua rồi và con đã trở về toàn vẹn thân xác là mạ mừng rồi.

Tôi có quen người đàn bà già ở phố Duy Tân, Đà Lạt, bà tìm tôi ra là người cùng quê vào những tháng cuối cùng trước khi di tản. Bà có một sạp vải lớn ở khu Hòa Bình và mỗi chủ nhật đi phép, bà đòi cho được tôi và các bạn Khóa 4 như Chi, Thanh, Nghĩa ra nha để ăn cơm và nghỉ ngơi. Bà xa quê lâu, nhiều năm không về quê do ảnh hưởng của chiến tranh.

Vào đầu tháng 6/1975, khi về quê chạp giỗ, tôi nhận ra bà ngay và kêu lên mừng rỡ. Không tin ở mắt mình, bà nhìn tôi thật lâu rồi mới lắc đầu ngao ngán:

- Trời ơi! Sao con ra nông nổi thế này!

Tôi cười chua chát:

- Bác quen nhìn con với mấy bộ đồ sĩ quan trên Đà Lạt, con cũng mặc được bộ đồ thủy lợi đầy sình như vậy.

imagescayhce1y

 Trại tù cải tạo CS


Tôi độ tuổi thanh niên, chiến dịch “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” nên suốt bảy ngày một tuần, người tôi lem luốt sình lầy - bọn cộng sản thường hô hào một cách ngạo mạn: “nghiêng sông làm nước, vắt nước làm trời” và biết bao người sống trong cảnh trông tối sợ sáng vì nạn cưỡng bách lao động trắng trợn này. Những lúc khổ quá, tôi nhớ đến bạn bè cùng khóa, thằng Nguyễn x Thu, Ng Tam, P v Tiên…đang ở bên thiên đường nước Mỹ. Tụi bay tốt số, thoát được thảm nạn này là phước to lắm đó.

 

 Nửa tháng sau, du kích đến gõ cửa nhà và đọc lệnh cải tạo tập trung. Mẹ tôi nghẹn ngào:

- Con tôi mới ra trường mấy ngày, vết thương còn chưa lành, đạn còn trong người…Ai thương con tôi với, trời ơi!

 Mẹ tôi đã xuống tóc khi tôi ra đi. Lần này bà khấn nguyện với Trời Phật cho tôi được bình yên ở nơi rừng thiêng nước độc. Ai ngờ tôi đi xa và lâu thế, các bạn bè sĩ quan trong làng, lớn có, nhỏ có, chỉ có một, hai năm là về hết. Còn tôi cứ gỡ hết cuốn loch này đến cuôn1 lịch khác, lại đi quá xa, từ Cồn Tiên về Ái Tử, ra Nghệ Tĩnh, đến Thanh Hóa, rồi mới trở lại Bình Điền-Huế.

 Chuyến đi của tôi làm mẹ tôi ngóng chờ dài cổ, bà tụng kinh, niệm Phật và phát tâm làm những điều thiện. Cuối năm 77, bà cõng trên vai hai bao cát đựng đồ ăn để lên trại Ái Tử thăm, thì nghe tin tôi ở trong đoàn người được chuyển ra Bắc trên những chiếc molotova. Nhiều người xầm xì:

- Tậi con bà là sĩ quan Chiến Tranh chính Trị mà, đi bắc là đúng rồi.

 Mẹ tôi buồn bã trở về, khi qua đò Bao Vinh để về làng thì ngã té vì đường sá bị ngập lụt. Bà bị gãy một chân giữa đêm khuya mưa gió - nhớ con - xa nhà - và người ướt sũng, không biết lúc đó mẹ khóc được không?

 Mỗi lần nhớ mẹ, vì mẹ rất thương tôi, nhất là từ ngày vào lính, tôi ưa khóc lắm, mà sao nước mắt khô rồi, chỉ nghe thấy trong lòng rưng rức như tiếng sóng vỗ ở nhịp tim mình.

 

 Tại trại Cồn Tiên, gần cầu Hiền Lương, Quảng Trị, vào cuối năm 1975, nhóm anh em tù cũ gom lại từ Tà Cơn, Hương hóa, Khe Sanh, đứng nhìn chúng tôi chăm chú, họ xúm lại dưới các m1i hiên của những ngôi nhà tranh được cất lên hai dãy đều đặn quanh sân banh, nơi chính giữa có một hội trường lớn, đàng sau là một dãy nhà nho nhỏ, chỗ cán bộ trại sinh hoạt. Từ đầu ngõ vào trại ta có thể nhìn thấy màu xanh thăm thẳm của núi rừng Hoành sơn, nơi muôn trùng điệp điệp những hàng cây rừng in bóng giữa gió ngàn vi vu, bên những áng mây trời trải rộng và phía dưới là bát ngát vùng núi đồi sừng sững bên những dòng suối lạch uốn lượn chập chúng…Thiên nhiên bao la và hùng vĩ qúa! Nghĩ lại mình, những tháng tù đày không biết mênh mông ra sao đây.

 

 Tối hôm qua, tại nhà lao tạm Thừa Thiên, anh bạn đồng hành N. V Hảo, Sư Đoàn 1, đam mê đọc lại từng trang cuốn nhật ký của vợ mình trao lại trước khi lên đường, cô đã dệt yêu thương lên từng mặt giấy. Hảo lim dim tận hưởng và cố name lấy tất cả những gì gọi là vị ngọt của tình yêu hạnh phúc…Họ mới cưới nhau thật vội vàng để có nhau, để đừng mất nhau và hơn nữa, một đứa con trong bụng mẹ sắp sửa chào đời thì bố đi tù. Cũng trong giây phút đó, một người bạn khác, bức xúc trong đầu, vuột miệng nói một câu làm Hảo cụt hứng: “…người đi, đi mây về gió, đi có về không, đi đông về ít…”. Và từ một người năng động, nói nhiều, tôi cũng thành trầm ngâm, tư lự, mặc cho những ý nghĩ vu vơ chạy loạn xạ trong đầu.

 

 Ngày đầu tiên đến trại, tôi gặp Ngô Chi, hắn name tay tôi:

- Định mệnh cuộc đời gắn liền thêm một chuỗi đường nữa rồi. Đã ba năm tròn chung khóa trên trường ĐH/CTCT Đà Lạt- bây giờ trời khiến mi lại gặp tao ở chỗ ni.

 Ngô Chi dắt tôi tìm Phan Duyệt, ba thằng như cùng cha, cùng mẹ san sẻ từng đớn đau, cay đắng va tủi nhục trong trại tù khắc nghiệt ở cái xứ nắng cháy mưa dầm khốn khổ này.

 Tiêu chuẩn định lượng của trại làm tôi thích nghi ngay với cuộc sống mới. Đói! Mỗi ngày hai lần, mọi người ăn uống tập thể sau tiếng kẻng, lấy cơm từ láng anh nuôi. Bữa ăn chỉ một chén cơm nấu từ hạt gạo ham dự trữ lâu ngày ở Trường Sơn, bữa ăn đã tạo sự cồn cào thiếu thốn ngay, gay trăn trở hết sức cho mọi người, từ đó, mỗi lần ra trại để vào rừng đón củi, chặt cây, cắt tranh, đôi mắt ai nay đều lướt nhanh tìm kiếm tất cả những gì có thể bỏ vào bụng để chống cơn đói. Vô phước cho những con each, nhái, cóc, rắn, chuột, sùng, mỗi khi được lọt vào mắt xanh của chúng tôi…đã được “xử lý” ngay. Có những lúc trời thương, khi băng qua rừng cây, khi phá ray, gặp chú chồn, chim, gà rừng đang vướng bay của ai đó là được giải quyết tại chỗ. Cũng có lúc trên đường về, khi băng qua nông trường đậu nành nằm bên cạnh trại, gặp được bãi nấm mối mọc lên tua tủa bên đồi, niềm sung sướng tựa như gặp được loài hoa dại bên đường mỗi khi hành quân.

Đêm về, trả lại một ngày mỏi mệt với đôi chân rã rời, nhưng giấc ngủ vẫn chập chờn bởi dư âm lời quản giaó mắng xối xả trong ngày, ở bất kỳ lúc nào…”Các anh là những người bán nước, ôm chân đế quốc, có tôi với nhân dân, nay được cách mạng khoan hồng, các anh phải tỏ ra tích cực trong học tập, trong lao động mới có ngày về…” Đêm về, những hình ảnh về người thân, hki ẩn, khi hiện, cơn đói, nỗi khát đành hòa đồng cho sự phó mặc của thời gian…may mắn là còn độc thân, sức trai trẻ còn tiềm tàng và ý chí nung nấu qua bao năm tháng ở quân trường đã tôi luyện nên đôi chân không lảo đảo.

 Có những khoảnh khắc về sáng đang chập chờn trong những bước phiêu du của giấc mơ mình không là tù…chợt nghe tiếng rít thuốc lào rout nhẹ âm thanh. “ngọt” tựa tiếng đàn và thoang thoảng sau đó là mùi ba số tám bát tiên thật quyến rũ! Tôi hé chiếc mền, nhìn ra thấy đôi mắt lim dim thú vị của ông già Tấn đang ngồi với người bạn, vị thuyền trưởng tàu chiến đỗ quân PCF. Tàu ông bị mắc cạn khi đang bốc quân tại cảng Thuận An ngày 26/3/1975 vì bị thủy triều rút mà chưa kịp ra khơi. Ông bị thương ở đầu khi đang đứng trên đài chỉ huy vì một miểng đạn M.79 trong khi loan xộn tranh nhau lên tàu vào buổi chiều định mệnh đó! Sau tiếng rít thuốc lào là tiếng chip nhẹ, giây lát sau ông khà một tiếng thú vị do hương cà phê thơm ngát của ông. Anh em trong lán đều thưởng thức hết. dù là hưởng hàm thụ, nhưng cũng vô cùng thú vị, bởi đa số ở xa gia đình, toàn là con bà xơ, ít ai được thăm viếng, tiếp tế. Phần lớn anh em ở trong trại này đều bị bắt ở cửa Tư Hiền, gần Cự Lại, sau đoạn đường dài từ cây số 23 lên Tà Cơn, Khe Sanh, Lao Bảo, cuối cùng được dừng chân ở trại này…Mùi hương thơm cà phê vô tình đánh thức hết anh em chúng tôi, đúng lúc này, tâm trí chợt xa dần mọi hình ảnh cuộc đời, hương cà phê như mê muội tình đời, như lảo đảo say, như nồng nàn ve vuốt, như ru ngủ cơn mê, như đam mê tình ái…mãi cho đến lúc tan hết mới có can đảm quay về giấc ngủ muộn với những suy tư vu vơ, chờ sáng.

 

 Đằng sau trại Cồn Tiên là nông trường, nơi có nhiều nam nữ thanh niên xung phong từ các miền xuôi lên đây tăng gia sản xuất. Có một lần, những cô công nhân vào trại để liên hệ sản xuất, các cô cũng bị khuỵu chân vì những tiếng hô đếm nhịp của những chàng tù trai trẻ, một, hai, ba, bốn…má của các cô cũng biết ửng hồng, bên chiếc nón cối cũng biết e lệ che nghiêng. Tội nghiệp! Tuổi mười tám, đôi mươi bị đánh lừa để đem tuổi trẻ lên Trường Sơn mịt mù đêm ngày gở loch. Một hôm vào ngày lễ lớn cuối năm, công nhân vào trại xem văn nghệ do tù binh diễn, họ được dịp nghe tiếng đàn guitar điêu luyện của các anh Châu Kế, Phát noon, Vệ còm, Thu đệm - quá kinh ngạc và thú vị, họ không kèm chế nỗi, la ré lên một cách thích thú và gần như kinh hoàng khi nhìn các cô con gái mơn mởn đào tơ, duyên dáng e lệ, mượt mà đầy quyến rũ trên sân khấu do các bạn tù thủ diễn, đẹp nhất là do anh Hậu tàlư, Thống quét chợ, Phùng, Ngọc Huệ đóng. Qua văn nghệ thể thao mới có cơ hội đem văn minh cuộc sống của miền Nam đến với họ, những người sống trong tuyên truyền bịp bợm của miền bắc.

 Từ phía Tây của đội 8 trại Cồn Tiên là hai ngọn đồi A1, A2, nơi xuất phát hàng rào điện tử Mac Namara. Khi trốn ra rừng để tìm, đổi mua đồ ăn, tù binh thường gặp các sensors, tức cây nhiệt đới, hình thù, màu sắc y hệt một cành cây, rất khó khăn nhận ra ở giữa rừng, được phóng cuống từ máy bay dọc theo con đường rào chiến lược này, Khi có tiếng động, sensor này tiếp nhận tín hiệu, truyền qua vệ tinh và chuyển ngược về về trung tâm phối hợp hỏa lực, các đơn vị sẽ giải đoán, đọc được toạ độ và B52 nhờ đó mà rải…thảm. Khi chưa có con đường mòn HCM, người Mỹ tin tưởng sẽ dùng hàng rào này ngăn chận đường tiếp vận của cộng sản miền bắc vào miền nam, qua đó sẽ nhẹ áp lực và sớm kết thúc chiến tranh. Với sự tinh vi của thứ vũ khí hiện đại này, quanh Khe Sanh, Đông Hà, Cam Lộ, Ái Tử, đầy dẫy các hố bom, đồi núi thêm chập chùng. Có một hôm, trên đường liên tỉnh 42, tôi đi tìm kiếm mua đồ ăn, đang đi dọc căn cứ A2 hướng về cầu hiền Lương, Bến Hải, tôi bắt gặp một anh bộ đội, tôi cố rảo bước tránh né để khỏi bị bắt, nhưng không kịp, anh ta tươi cười nói với tôi: Tôi không phải là vệ binh trại, đừng lo. Và anh chìa bao thuốc lá Tam Đảo mời tôi hút, vẻ rất thàn nhiên, bỗng anh ta vuột miệng nói: Hồi đó, cuối năm 72, khi oanh tạc miền Bắc, sao các anh không làm tới một bước nữa, tôi cứ tưởng miền Bắc sẽ được giải pho`ng chứ!

 

 Đoàn 74 quản lý tù binh (trại Cồn Tiên) có một vệ binh khét tiếng tàn nhẫn, hắn nguyên là tù binh Côn Đảo thời trước 75 nên hận phe ta lắm và rất nặng tay. Cú mỗi lần vi phạm là nó xài toàn thanh giường mà đánh. Anh em đặt tên cho nó là “xác ướp” bởi bản mặt lạnh như tiền. Có một kỷ niệm khó quean, bên bản làng 42 Hương Hóa, bảy, tám anh em tù trốn ra uống rượu, lột áo ra đổi chứ không có tiền, dân làng rất thích áo quần của phe ta. Xa gia đình lâu, phần đông anh em ở trong Nam chưa liên lạc được với gia đình, lại bị hứa hẹn lâu quá mà không có ngày về - Tôi còn nhớ rõ Châu lác, Sơn ướt, Cẩm lai, hiền ngồi, Phước sún, vì quá ức chí nên làm dữ, men say không làm các anh kèm chế cảnh người thua trận nên la hét và khóc rống lên, không thèm biết trời trăng mây nước chi nữa…Trời về chiều, con đường về trại lại xa, nếu như không đi mau thì chết cả đám, “xác ướp” sẽ có cơ hội “đốn” anh em. Trong đám này có anh Nguyễn Văn Chót là người điềm đạm và đạo đức. Chót bỗng nói:

- Nè, anh Châu, anh Phước, anh Cẩm, các anh thường nói các anh đánh giặc hay lắm, các anh ngon lành lắm! Xem ra có ngon hơn tôi không nào! Có dám ra đây chơi với tôi một keo không nào.

 Cả đám nghe nói khích bèn xô bàn rượt bắt quyết “tẩn” cho anh một tận. Anh Chót nhỏ con, lanh lẹ, bỏ chạy đàng trước như mồi chài, các anh em lảo đảo chạy theo sau, càng chạy càng tức tối vì cú nghe lời thách thức phía trước…cuộc tranh chấp căng thẳng dần và quyết bắt cho bằng được. Anh Chót âm thầm chạy hướng về trại, lên đồi, xuống hố, loon lách qua các hố bom B52, tất cả đều toát mồ hôi hột. Khi gần tới trại, anh nói:

- Anh em nghe đây, trò đùa đến đây đã chấm dứt! Mục đích của tôi chỉ làm cho các anh tỉnh táo. Hãy chuan bị đi vào trại cho an toàn bằng các lối mòn và coi chừng vệ binh phát hiện. hôm đó nhờ anh Chót, anh em đã được an toàn.

Vào cuối năm 1976, sau hơn một năm ở trại Cồn Tiên, chúng tôi giả từ vùng núi đồi vốn từ trước rất xa lạ này trở than2h quen thuộc, với những hình ảnh non cao núi biếc, những giòng suối trong veo, những nông trường với những màu xanh tươi tốt sắn, khoai. Được “hành quân” tức là đi bộ về phía Quảng Trị, chúng tôi có dịp đi ngang vùng trung du gầm các đồi tranh và đầy dẫy những cụm sim già. Dọc vệ đường, cạnh những hố bom, rải rác vài xác xe tăng, vài chiếc giày trận, những mảnh bao cát…dấu vết cuộc chiến trải dài từ Khe Sanh về phía miền xuôi. Đất đai cằn cổi, cây cối mọc không nỗi, chỉ toàn lau lách, hoang sơ, chập chùng theo các hố bom B52 rải đều đến bất tận…Sức chịu đựng của người dân vùng giới tuyến Quảng Trị-Đông Hà trong chiến tranh thật khó tưởng tượng.

 Trở về Ái Tử, chúng tôi được nhập chung với anh em trại cũ nên tổng số tù cao lắm. Tại đây, đất đá khô cằn, cây cối thưa thớt. Mùa đông năm ấy giá rét kinh người, mọi đ65ng tác đều chậm chạp, đờ đẫn như mới bị bệnh xong, tiếp theo là mùa hạ đến với cơn gió lửa nam Lào, sức nóng thật khủng khiếp. Cứ tưởng tượng sau khi lao động trên rừng, lột quần áo và nhảy xuống suối tắm, liền có cảm tưởng một tiếng “xèo” khi gặp nước. Có những buổi chiều đi rừng đón củi về, đói rách han2h hạ thề xác mà cơn gió lào vẫn thổi ngược, có lúc tôi bị bật ngược ra đằng sau và đôi khi kiệt sức ngã nhào, trên vai còn đeo đòn xóc và hai bó củi từ đập Trấm gánh về, những lúc như thế, tôi tiếp tục nằm, để dư âm của đói, khát còn hành hạ đến mức nào trên cơ thể…mặc cho cơn gió cứ cứ gào thét, vần vũ, tôi quean cả niềm lo âu về chỉ tiêu đi rừng có đạt hay không…mặc kệ. Đến đâu tính tới đó…

Một buổi trưa mùa hè 77, đội 6 thuộc trại 2 Ái Tử đang lao động cuốc đất tại bờ ruộng ấp Xuân Khê, tôi chợt thấy anh em mình buông lơi cán cuốc và chăm chú nhìn một người phụ nữ lữ khách đang đi trên đường. Cô có dáng dấp trang nhã và một khuôn mặt đẹp tuyệt vời. Người vệ binh canh giữ tù cũng im lặng ngắm nhìn. Người con gái có đôi mắt đẹp sâu kín, gương mặt thùy mị và mái tóc xõa qua bờ vai…Thoáng mõi mệt cô cố tươi cười chào và hỏi thăm đường đến trại 7 Ái Tử, nơi người yêu của cô là Trung Úy Y Sĩ TQLC đang cải tạo tại đây, anh tên là Giang.

 Đã lâu lắm, từ lúc vào trại, đã xa, không biết bao nhiêu hình ảnh cuộc đời-nay thấy một người con gái đẹp, duyên dáng đầy loch lãm này, tất cả anh em đều lặng điếng người-đặc biệt khi nghe nói tên người yêu thì mọi người đều im lặng xúc động. Tuy từ Sài Gòn xa xôi đến đây, đoạn đường quá xa, mà bước chân cô vẫn dịu dàng trong một dáng dấp thiên thần, mặc dù hai tay mang hai túi xách chứa đầy thức ăn, quà cáp….Trong phút chốc, khi vừa nghe xong, tôi thấy như trái đất ngừng quay, nghe tim mình đập mạnh…Người vệ binh chỉ về phía trại, bảo cô ta đi chừng nửa tiếng…

 Người con gái đã gặp người yêu trước khi đến trại để xin thăm nuôi! Không phải khó khăn, nhưng thật tình cờ, cô tìm thấy bên vệ đường, cạnh những lùm sim tím, ngôi mộ mới còn còn dấu đất đỏ với tấm bia gỗ ghi danh tánh người sĩ quan trẻ đang nằm cô đơn bên đồi: Trung Úy Dỗ Giang - TQLC. Người chiến hữu đã an nghỉ nơi đây có dịp nhìn anh em sáng đi chiều về, ngày ngày xác xơ với những bó củi rừng, những vác tranh hay nhũng chiếc cuốc, rựa trên vai…Anh đang nằm đó trả lại nhọc nhằn cho ngày tháng mênh mông cảnh lầm than nước sông công tù, còn chôn kín trong lòng đất mẹ vùng Ái Tử bao căm hờn tuổi trẻ khi chưa tròn nợ núi sông. Những hoa sim tím trên đồi hoang đang mãi tô màu thời gian cho cuộc tình đôi uyên ương trai tài gái sắc bị gãy gánh theo vận nước điêu linh.

 Hôm đó, trên con đường về trại sau giờ lao động, những người tù binh anh em có dịp ngắm nhìn một vóc dáng của người con gái đứng yên lặng tựa tượng đá buồn đang in hình dưới bóng hoàng hôn, không gian quạnh quẽ, núi đồi hoang vắng đang làm chứng cho nỗi đau đời người.

 Ở mức sâu thẳm nhất của một cuộc tình, đôi chân đã mõi vì đường xa thiên lý, cuộc tình kết thúc bằng một nâm mồ hoang lạnh và ở giây phút này, một ngày sắp qua nơi vùng đất lạ. bóng đêm đang chìm xuống với cùng lúc với nỗi tận cùng của cô đơn và lạc long nơi người lữ khách. Mai này, trên đường về, có đớn đau nào bằng sự trống trải mênh mông trong một cảnh đời tan tác.

 Từ những ngày sau đó, vào các buổi sáng trên đường đi lao động, khi đi ngang qua khu đồi có ngôi mộ người chiến hữu đang an giấc nghìn thu, anh em đoàn tù binh Ái Tử đều sững sốt xúc động khi thấy bên cạnh nấm mộ với những hình ảnh cũ quen thuộc này, có hai túi quà thăm nuôi chứa đầy thức ăn và chiếc nón lá của người yêu anh để lại, cột chặt bên tấm bia mộ - trên đó có in dòng chữ: “Rất Tiếc Chưa Cho Anh Được Những Gì Em Có.”

 

HOA BIỂN

NT4 PHAM HỮU HUÊ

(Sacramento)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, February 12, 201112:00 AM(View: 13062)
Tháng 1 năm 2010, được tin nhà văn người Mỹ, J.D. Salinger , từ trần, tôi có những dòng ghi chép như sau: Trong mỗi người gìa đều có hình ảnh một đứa trẻ của qúa khứ. Đứa trẻ ấy nay không còn trẻ nữa, nhưng những hồi ức về cái thời tuổi trẻ ấy vẫn mãi mãi còn đó.
Thursday, February 10, 201112:00 AM(View: 13894)
Ngày 1/9/1442, vua Lê Thái Tông, đi duyệt võ ở Chí Linh, trên đường về ghé vào Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi có một người vợ lẽ là Nguyễn Thị Lộ vừa đẹp vừa hay chữ
Tuesday, February 1, 201112:00 AM(View: 17164)
Nguyễn Trãi là đệ nhất công thần đời nhà hậu Lê. Ông hiệu là Ức Trai, nên khi nói về Nguyễn Trãi, người đời sau thường kính trọng gọi là Ức Trai tiên sinh
Monday, January 31, 201112:00 AM(View: 15472)
Làng Nhị Khê xưa có tên nôm là làng Dũi (thuộc huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam thượng). Nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long, Nhị Khê không chỉ nổi tiếng với nghề tiện, cung cấp sản phẩm tinh xảo cho kinh thành và các tỉnh, mà còn là đất văn hiến, khoa bảng với các danh nhân Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Dương Bá Cung, Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến...
Friday, January 28, 201112:00 AM(View: 26746)
Cách đây vài năm, một người bạn ở bên Úc gởi cho tôi CD thâu lại chương trình “ 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam “ do Hòai Nam phụ trách trên đài phát thanh SBS ở Úc.