DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,707,542

Trần Doãn Nho - Tạp ghi tháng hai: Muốn quên, nhưng không thể quên!

10 Tháng Hai 20187:22 CH(Xem: 487)
Trần Doãn Nho - Tạp ghi tháng hai: Muốn quên, nhưng không thể quên!

Tạp ghi tháng hai:
Muốn quên, nhưng không thể quên!


blank
 
Nguyễn Quý Đức: Năm mươi năm sau nhìn lại… 

Đó là tựa đề một bài viết của Nguyễn Quý Đức đăng trên tạp chí Smithsonian (Washington DC) số tháng 1&2/2018, nguyên văn, “Revisiting Vietnam 50 Years After the Tet Offensive” (Nhìn lại Việt Nam 50 năm sau Cuộc Tổng Tấn Công Tết).[1] Qua bài viết, Đức kể lại câu chuyện gia đình trong bối cảnh của một cuộc vi phạm thỏa ước ngừng bắn trắng trợn nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đưa đến một vụ thảm sát lớn nhất trong lịch sử dân tộc: thảm sát Mậu Thân.
Nguyễn Quý Đức là con của một công chức cao cấp của VNCH. Tết năm 1968, gia đình anh từ Đà Nẵng ra Huế ăn Tết. Lúc đó, anh mới chỉ là cậu bé 9 tuổi. Cậu bé Đức chứng kiến cảnh bộ đội vào nhà khách nơi gia đình ở, bắt cha cậu. “Tôi leo lên giường và cố nhìn ra ngoài. Đám lính bộ đội đã bắt những người đàn ông sắp thành hàng và trói khuỷu tay họ sau lưng. Một lúc sau, họ dẫn giải những người đàn ông đi. Tôi nhìn thấy cha tôi trong đó.” Sau khi Cộng quân rút lui, gia đình Đức trở lại Đà Nẵng, sống một cơn khủng khoảng nặng nề: không cách gì tìm ra tông tích của người cha, cũng không biết ông sống chết ra sao. Khi nghe tin khai quật những bãi chôn tập thể, mẹ Đức về Huế mong tìm xác chồng, nhưng bà quá “khiếp hãi khi nhìn thấy những thây ma thối rữa và đầy thương tật,” nên không trở lại nữa. Cậu bé Đức “lớn lên không hẳn như một đứa trẻ mồ côi: Trong khi những gia đình khác đã chôn cất người thân của họ, lập bàn thờ và đã phần nào khép lại nỗi buồn, thì gia đình tôi vẫn sống trong nỗi đau thầm không giấu giếm này (open secret).”

Mãi đến 5 năm sau khi hiệp định Paris được ký kết và hai bên trao trả tù binh, gia đình anh mới biết tin là cha còn sống nhưng bị đày ải ở một trại tù nào rất xa ở vùng biên giới Trung Quốc. Ông được thả về năm 1980 và được cho phép qua Hoa Kỳ định cư. Gặp lại nhau sau 16 năm xa cách, hai cha con nói chuyện với nhau về quá khứ, nhưng “không bao giờ nói về năm 1968” vì điều đó quá nặng nề. Ông đọc sách, xem phim và cho in một tập thơ mà ông đã làm khi bị giam cầm, với một nhóm từ được dùng như lời đề tựa: “Tôi đau khổ, vậy tôi hiện hữu” (I suffer, therefore I am). Sáu năm khi ông mất vào năm 2000, Nguyễn Quý Đức, có lẽ để hòa giải với chính mình, nên về kinh doanh tại Hà Nội, nơi mà những kẻ bắt cha anh đã chỉ huy cuộc chiến. Dù đau đớn, nhưng câu chuyện gia đình anh có lẽ là một câu chuyện may mắn nhất, “có hậu” nhất của một gia đình có nạn nhân bị Cộng Sản bắt năm 1968.

Nhìn lại thời kỳ đó, Nguyễn Quý Đức cho rằng cuộc chiến tranh vừa qua là chiến tranh Mỹ và Chiến Tranh Lạnh đã góp phần lớn tạo nên nó. Nhưng, “cuộc Tổng Tấn Công Tết  và 1968 là cuộc chiến của chúng ta: Người Việt chúng ta đã giết lẫn nhau.”Ấy thế mà ở Việt Nam hiện nay, biến cố 1968 được mô tả như một chiến công anh hùng, và bộ máy tuyên truyền nhà nước cứ vài năm một lần vẫn cứ tiếp tục tăng tốc ca ngợi nó. “Nhưng về cuộc tàn sát hàng ngàn người dân Huế thì sao? Không một lời,” theo anh. Huế bây giờ rất nhiều khách du lịch. Họ viếng thăm lăng tẩm, hoàng thành, đền đài miếu mạo. “Hướng dẫn viên du lịch nói với họ về quá khứ, nhưng họ làm như không biết những lỗ đạn chọc thủng những bức tường thành bên trong Hoàng Thành và ở khắp nơi. Không có du khách nào được dẫn đi xem những khu mộ tàn sát tập thể y như họ được dẫn đi thăm những “cánh đồng chết”nổi tiếng của Khmer Đỏ ở Cam Bốt.” Đã 50 năm rồi, trong khi cuộc thảm sát Mậu Thân không thể thoát khỏi ký ức của anh và của người dân Huế, thì vẫn bị nhà nước Cộng Sản che giấu, mà anh gọi là một “sự im lặng toàn quốc về biến cố 1968” (The national silence about 1968) và tự hỏi chẳng biết bao giờ sự im lặng đó mới được giở bỏ.

Mấy năm trước đây, theo Nguyễn QuýĐức, một nhóm phóng viên truyền hình Pháp-Đức đến nhà anh ở Hà Nội để phỏng vấn về tình hình hậu chiến ở Việt Nam, đi kèm có một viên chức của bộ ngoại giao Việt Nam. Khi câu chuyện đề cập đến những vấn đề liên quan đến vụ Tổng Tấn Công Tết, thì viên chức đó ngắt lời, cấm không được bàn về đề tài này, thậm chí không được nhắc đến, nếu không bà ta sẽ không cho phép cuộc phỏng vấn được tiếp tục. Anh tức giận nhưng cố gắng thương lượng với bà. Cuối cùng, anh cũng được trao đổi đôi điều với nhóm truyền hình. Nhưng cuộc phỏng vấn ấy không hề được chiếu ở bất cứ đâu ở Việt Nam. Hoàn toàn im lặng.

Nguyễn QuýĐức không im lặng. Anh viết. Thay vì viết để “vinh danh một phiên bản lịch sử do những người còn sống, những người chiến thắng viết,” như bà nhân viên bộ ngoại giao muốn, anh viết lên là để “vinh danh những người đã chết và tưởng niệm họ,” như lời khuyên của một nhà văn quen, Bảo Ninh.
Năm mươi năm nhìn lại, làm sao quên: 
Lắng nghe: trong chòm lá, tiếng gió 
Quanh đây còn tiếng oan hồn nỉ non, 
Quanh đây còn tiếng oan hồn nỉ non.
Em học cách cầu nguyện 
với những hạt tràng thơm. Anh vẫn sống 
với mùi hương nhang 
đốt trong một ngàn tang lễ 
hè năm đó ở Huế.
(Ngôn từ/thơ Nguyễn Quý Đức)[2]

Lá cờ 

Nguyễn Quý Đức ở phía nam sông Hương. Tôi ở phía bắc sông Hương, trong Thành Nội. Tôi rủi hơn Nguyễn Quý Đức, và cũng may hơn anh vì bị/ và được ở trong… khu chiến trường. Sáng mồng 2 Tết, sau một đêm kinh hoàng vì nghe tiếng súng nổ vang rền khắp nơi và tiếng hô xung phong từ cửa thành (cửa Hữu), tôi thức dậy, vô cùng hoang mang. Mở cửa bước ra ngoài, đứng ở góc vườn trước nhà, nhìn về hướng đông, tôi thực sự kinh hoàng. Khuất sau mấy đọt tre, trên ngọn Kỳ Đài vươn cao trong bầu trời thấp xám, là lá cờ! Không phải là lá cờ thân quen vẫn nhìn thấy hàng ngày mà là một lá cờ lạ, lạ hoắc: cờ Mặt Trận Giải Phóng.

Thôi rồi, Việt Cộng đã chiếm Huế!
Lá cờ không tung bay theo gió mà vướng víu quanh cột cờ, rủ xuống, thảm hại. Như cờ tang. Vì trời không có gió? Vì vướng víu cái gì? Không rõ. Suốt hai mươi sáu ngày trên ngọn Kỳ Đài, lá cờ vẫn như thế, ủ rũ. Bầu trời mênh mông, nặng, tủi hờn. Mùa xuân thảng thốt, vỡ. Lá cờ làm cho cái không khí vốn đã ảm đạm, lại còn tan tác, ảm đạm thêm. 
Tôi bước đikhông thấy phố, không thấy nhàchỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏđất nước khó khăn này sao không thấm được vào thơ.

Lời thơ của Trần Dần mô tả cảnh quan đâu đó ở miền Bắc (hay chỉ là cách nói hình tượng của nhà thơ), đột nhiên trở thành hiện thực một cách lạ lùng: cờ đỏ ở Huế!
Huế không phố, không nhà. Không nắng, không trăng, không hoa, không mứt bánh, không hột dưa, không tổ tiên, ông bà, không truyền thống. Không gì cả. Không có tiếng cười, đã hẳn - mà tiếng khóc cũng không. Chỉ có tiếng súng nổ và một sự lặng lẽ đến rợn người. Huế rơi vào trạng thái âm bản. Người người đi đi, đứng đứng như  những bóng ma. Chợt gặp nhau, ai cũng tưởng ai đang từ cõi chết trở về. Mây, một khối màu chì đông cứng trên bầu trời xám đặc.  Lạnh. Mưa, thỉnh thoảng, nhỏ, hãi sợ. Cỏ cây rưng rưng. Uất, nghẹn. Ngoài tiếng súng, thành phố mất đi tiếng động cuộc đời. Mọi thứ thin thít im, tự thu mình vào bên trong, khe khẽ, rón rén, ngập ngừng. Không ai giúp gì được ai. Mình cũng chẳng giúp gì được chính mình. Sợ. Nỗi sợ còn ghê gớm hơn cả cái chết.

May và rủi 

Khu vực tôi ở nằm phía tây nam Thành Nội, chỉ có bộ đội chính quy, toàn là dân Bắc, lo canh gác, đào hầm đào hố sẵn sàng chiến đấu. Anh cả tôi, cảnh sát, tôi và hai người lính tiểu khu thuộc một đơn vị gác cửa thành bị Cộng quân đánh bật khuya mồng Một, trốn trong nhà, thấp thỏm đứng, ngồi, lòng như lửa đốt. Cái lạ là, đám lính bộ đội chỉ ở bên ngoài, không ai vào nhà dân. Hôm sau, thấy êm êm, hai người lính xin hai bộ áo quần dân sự, luồn lách qua các vườn cây, trốn đi. Anh tôi và tôi cũng không dám ở trong nhà. Đêm, đi ngủ nhà khác, ngày, tạt về nhà ăn vội ăn vàng rồi lại đi, loanh quanh nơi mấy nhà bà con, nghe ngóng. Không khí lạnh ngắt. Đường vắng tanh. Thỉnh thoảng, có vài bộ đội gánh thương binh đi ngang. Đến mồng Bốn, đạn pháo hai bên vang rền đây đó, khi ngày, lúc đêm, khi nhiều lúc ít. Không có hầm, cả nhà chui đại xuống giường, phản ẩn nấp, vừa niệm Phật vừa run. Hết tiếng nổ, chui ra. Đợi yên, lẻn qua nhà bên, hỏi han. Nghe chị Dách nhà phía bên kia đường bị miểng đạn văng khi đi tiểu, chết. Nghe xóm sau, nhiều người trong một gia đình mới đến ngụ cư bị thương vì pháo rơi ngay cửa hầm. Nghe dưới khu cống Vĩnh Lợi cũng có người chết. Nghe phía sau hồ Xã Tắc có người bị thương. Cứ thế…, ngày nào cũng nghe tin xấu. Nhưng nhà ai nấy lo, sụt sùi, lặng lẽ, câm nín.

Rủi, nhưng sau này mới biết là may. Đang là chiến trường tranh chấp, nên không có du kích địa phương, không có bóng dáng của các thành phần sinh viên học sinh nhảy núi trở về. Chưa có chuyện lùng sục, mời đi làm việc hay trình diện để rồi…vĩnh viễn nằm trong những hố chôn tập thể.

Một tuần sau, buổi sáng, bỗng nghe tiếng loa từ khu Quân Cụ, cách nhà chừng ba, bốn cây số, vang lên. Thì ra, quân đội VNCH còn giữ được đồn Mang Cá, khu Tịnh Tâm, phi trường Thành Nội, khu Tây Linh, khu chợ Cầu Kho, tất cả khoảng một phần tư khu vực nội thành. Thế là, cả nhà vội vàng dắt díu nhau băng từ vườn nhà này qua vườn nhà khác, đạn pháo, mặc, súng nổ, mặc. Nấp, chun, lủi, bước, chạy hướng về phía có tiếng loa. Vừa đến khu hồ Tịnh Tâm, thấy bóng những người lính VNCH canh gác chỗ này chỗ nọ, vẫy tay giục chúng tôi đi tiếp, mừng, thấy mình sống lại. Gia đình tôi ở tạm trong nhà một người quen. Dân ở các vùng khác trong Thành Nội cũng tìm cách thoát về đây. Cư dân Cầu Kho, Mang Cá hào phóng tiếp nhận hết, lạ cũng như quen. Nhà nào cũng đầy người. Chia xẻ nhau cái ăn, cái mặc, không ai tiếc ai cái gì.

Vài ngày sau, trong lúc lang thang giữa một con đường hẻm gần hồ Tịnh Tâm, tôi tình cờ gặp người bạn học thân từ cửa Đông Ba vừa chạy lên. Anh bạn đứng sửng nhìn tôi, hỏi:
- Mày còn đó à? Có phải mày là T. không?
- Ừ, tau đây chứ còn ai. Đúng mày là U. phải không?
- Tau đây. Vậy mà tau tưởng mày là ma hiện về.  Ở vùng tau, tụi nó về, đi kiếm mày quá trời. Thằng S. ép tau phải chỉ nhà mày cho được. Kẹt quá, tau tìm đường tẩu.
Hai đứa ôm nhau, im lặng tận hưởng niềm vui của những người sống sót.
Suốt thời gian chiến sự, trong lúc các trận đánh ác liệt diễn ra cách đó không bao xa (ở Đại Nội, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba, khu Tây Lộc, khu Tri Vụ), ở đây chợ vẫn mở, quán cà phê vẫn mở, mua mua bán bán. Khi có bất cứ đơn vị quân đội VNCH hay quân đội Mỹ từ trong đồn Mang Cá tiến ra đi hành quân giải tỏa, là dân lại ùa ra, chào đón, hỏi han, cổ võ. Dẫu vậy, tình hình vẫn rất căng thẳng. Việt Cộng pháo kích thường xuyên, thỉnh thoảng rơi vào nhà dân, khiến nhiều người chết thảm. Anh Thọ, bạn tôi, mất một lần cả mẹ và em gái khi đạn pháo 22 ly của Cộng Sản rơi ngay ngôi nhà tạm trú, giết hơn chục người; anh Tuệ, cũng bạn tôi, mất người vợ trẻ mới cưới hơn năm vừa có con đầu lòng, vì trúng đạn khi chị đang đi bộ trên một con đường hẻm. Không biết làm gì hơn, thân nhân đành bó chiếu chôn cất người thân bên vệ đường và dọc theo bờ hồ Tịnh Tâm.
Khu Mang Cá và chợ Cầu Kho bỗng nhiên hình thành một Huế khác, bấp bênh, căng thẳng,hy vọng và chờ đợi.
Cho đến cuối tháng Giêng.                       
Về nhà           
Vừa mới nghe đài phát thanh loan tin Việt Cộng rút đi, trong lúc ai cũng đang chờ lệnh, tôi nóng ruột, vội vàng cùng bà chị trở về thăm nhà. Đường còn vắng tanh. Khi đến đường Lê Huân, cách nhà chừng hai cây số, thấy có xác bộ đội. Từ đó trở lên phía thành, nhất là trên các con đường quanh quanh phường Tri Vụ, Thuận Cát, khu Cầu Đất, khu cống Vĩnh Lợi, vùng Tây Lộc, khu phi trường, vân vân, nơi diễn ra những trận đánh vô cùng ác liệt, xác bộ đội nằm rải rác khắp nơi, chỗ một, hai xác, chỗ thì mười, mười mấy xác nằm vắt lên nhau. Có đến hàng trăm. Nhiều xác đã trương phình. Mùi hôi bốc lên nghẹt thở. Hai chị em nhắm mắt, bịt mũi mà đi. Ngay trước cửa ngõ nhà tôi, 3, 4 xác bộ đội nằm vắt vẻo bên hàng chìa tàu. May mà trong vườn cũng như trong nhà, không thấy có xác nào. Những đứa con miền Bắc nằm lại trên những con đường xa lạ xứ Huế, trông khuôn mặt ai cũng còn rất trẻ.

Vào lúc cuối đời, Chế Lan Viên, nhà thơ suốt đời trung kiên với đảng Cộng Sản, viết: 

Mậu Thân 2000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó?
Tôi.
Tôi - người viết những câu thơ cổ võ…
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong 
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm 
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ 
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ 
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ! 
Ai chịu trách nhiệm vậy? 
Lại chính là tôi! 
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời 
Tôi ú ớ 
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong 
Mà tôi xấu hổ 
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay 
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ 
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười (Ai? Tôi)[3]

Chế Lan Viên chỉ nói về bi kịch bộ đội, không hề biết đến bi kịch Huế! Nhưng dù sao, so với những người nhảy núi trở về Huế tìm cách chối là mình không hề cầm súng bắn giết một ai, chỉ đọc tuyên ngôn và làm công tác dân vận, Chế Lan Viên cũng còn “nhất điểm lương tâm”, nhận phần trách nhiệm về mình. Thảm sát Mậu Thân phải xuất phát từ một Chính Sách và chính sách được thi hành bởi một “Guồng Máy”. Ai ở trong guồng máy thì phải quay đều quay đều, gánh lấy trách nhiệm, dù có cầm súng giết người hay không, không thể phủi tay đổ lỗi cho người khác.[4]

Hầu hết khu vực tôi, nhà cửa, vườn tược tan hoang. Căn nhà tôi bị phá hủy hoàn toàn, vết đạn lỗ chỗ khắp nơi. Cây cối trong vườn bị bom đạn cày xới tơi tả. Hai cây nhãn cổ thụ trái rất ngon vốn là một nguồn lợi mà mẹ tôi dùng để nuôi tôi đi học, trốc gốc, cành nhánh gãy đổ bịt hết lối đi. Hầm hố khắp nơi trong vuờn, kể cả một cái hầm dài đào dọc theo và xuyên dưới thềm nhà.

Vừa bước vào thềm, đang ngậm ngùi nhìn đống gạch vụn, chợt một tiếng hô lớn vang lên,“Đứng lại, giơ tay lên.” Tôi rụng rời tay chân, đứng sững, run rẩy đưa hai tay lên trời. Từ sau bức tường nhà đổ nát, hai lính Thủy Quân Lục Chiến xuất hiện. Hoàn hồn, thế mà cứ tưởng là Việt Cộng! Họ chĩa súng vào hai chị em, mặt mày căng thẳng. Một người tiến lại, “Đứng yên, không được nhúc nhích.” Anh ta sờ nắn khắp người tôi, rồi bảo, “Xắn quần lên, cởi dép ra.” Tôi làm theo. Anh ta xem kỹ ống chân và bàn chân tôi. Sau đó, hỏi, giọng hơi có chút thân thiện:
Ở đâu đến, vào đây làm gì?

Dạ, đây là nhà tôi. Chúng tôi lánh nạn ở Mang Cá, nghe tin Việt Cộng rút đi, nên vội về xem nhà cửa ra sao.
Chắc không?
Dạ chắc.
Trước làm gì?
Sinh viên.
Lại sinh viên, sinh viên! Còn đây là ai?
Dạ, chị ruột.
Giấy tờ đâu, đưa xem.
Chúng tôi đưa giấy căn cước. Xem xong, người lính bảo:
Được, tôi tin cậu. Chân này không phải là chân đi dép râu. May cho cậu đấy, lớ xớ gặp người khác là đi đời. Đây vẫn còn là vùng chiến trường, chưa được phép vào, biết chưa? Bọn du kích và bọn sinh viên học sinh nằm vùng vẫn còn lẩn quất đâu đây, phải thanh toán trước khi cho đồng bào về nhà.
Hú hồn! Hai chị em chỉ biết lí nhí cám ơn rồi vội vàng rời nhà, lòng vẫn chưa nguôi kinh khiếp.

                                                                               * 

Quân Cộng Sản rút đi rồi, để lại một Huế ngổn ngang, tang thương, rách nát. Thành quách tan hoang, người người ngơ ngác. Người gặp người mà vẫn tưởng như đang còn ở trong giấc mơ. Dắt díu nhau từ chỗ tạm trú về nhà cũ, biết là còn sống, biết là mình may mắn, nhưng cõi lòng ai cũng vỡ nát, vụn vằn, đờ đẫn. Những câu hỏi ném vào nhau, thổn thức. Ai còn? Ai mất? Chồng đâu? Con đâu? Chị đâu? Em đâu? Bạn đâu? Thầy đâu? Học trò đâu? Chao ôi, Huế đã làm gì nên tội mà ra nông nỗi này!

Năm mươi năm rồi! Bây giờ Huế đã khác, tất nhiên. Vết tích cuộc chiến năm xưa cũng như cái chết tức tưởi của hàng ngàn người tưởng như đã biến mất sau lớp bụi thời gian và nỗ lực không ngừng nghỉ của nhà cầm quyền Cộng Sản nhằm xóa nhòa nó. Không! Hàng năm, cứ đến Tết, trong lúc bộ máy tuyên truyền nhà nước vẫn, nói như Nguyễn Quý Đức, “tiếp tục tăng tốc ca ngợi chiến công,” thì có hàng ngàn gia đình vẫn âm thầm cúng kiến và đau xót nhớ đến cái chết thảm của cha, của anh, của con, của em mình. Không bao giờ nguôi. Không gì làm nguôi. Không ai làm nguôi. Di luỵ Mậu Thân mãi mãi còn đó. Là oan trái Huế. Cũng là oan trái Việt Nam. Oan trái cần được giải oan. Đó là lẽ Đất Trời. Ngày nào oan chưa được giải thì mọi chính sách, mọi thủ đoạn tuyên truyền, mọi chạy tội, mọi đổ lỗi, dù trên bình diện cá nhân hay nhà nước, đều chỉ là nước đổ lá môn, nếu không muốn nói là làm cho oan trái càng thêm oan trái.[5]

                                                                 Trần Doãn Nho
                                                                                                                                                                           (từ: DĐTK)


[1]Xem ở:https://www.smithsonianmag.com/history/revisiting-vietnam-50-years-after-tet-offensive-180967501/
[2] Xem: http://damau.org/archives/9797
[3]Rút trong sổ tay Thơ, tập 5. Nguồn: Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002 (do Vũ Thị Thường sưu tầm và biên soạn).
Xem: http://www.thivien.net/Ch%E1%BA%BF-Lan-Vi%C3%AAn/Ai-T%C3%B4i/poem-WyG1Cf5msDImxRJZJx-3Ug
[5] Xem thêm: Chiến dịch Mậu Thân 1968 và sự thật về nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường,
 http://danviet.vn/van-hoa/chien-dich-mau-than-1968-va-su-that-ve-nha-tho-hoang-phu-ngoc-tuong-842147.html




*

   Mời tìm đọc:


Amazon Sấp Ngửa

                                                                Bạch hóa Thái thượng hoàng - Trần Yên Hòa
                                                                  Xã trưởng tân truyện - Trần Yên Hòa
                                                                                   (từ: Sấp Ngửa)



Amazon Mẫu Hệ



*

Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

*


Mua bán nhà


- Quí vị ở VN mới sang định cư ở Nam California.
- Quí vị ở các tiểu bang xa muốn về sống ở Nam California nắng ấm.
Muốn mua một căn nhà hợp với túi tiền và điều kiện của mình.

Xin gọi ngay cho:
Marvin Trần
(714) 768-8810

Quí vị sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình
Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý


scan_pic0296-content



*


Phòng Khám Nha Khoa


Dream Dental Place


Hoàng Anh D.D.S

Làm mọi dịch vụ về Răng

Tận tâm, Vui vẻ, Kỹ lưỡng, Uy tín
Nhận Medicare, Medical, Obamacare, Bảo hiểm các loại
Gọi ngay:

Hoàng Anh

        (714) 724-5699


scan_pic0035-contenthoang_anh_1_0-content



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21 Tháng Năm 20182:23 CH(Xem: 165)
Một Đại Hội 21 của các cựu SVSQ Trường VBQGVN vừa được tổ chức vào những ngày 11, 12 và 13 tháng 5/2018 tại thành phố San Jose, miền Bắc Cali, đã thành công tốt đẹp. Xin được chúc mừng và ngợi ca ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức để có được một Đại Hội với nhiều hình thức truyền thống Võ Bị đáng được tự hào. Đại Hội cũng đã bầu ra một vị Tân Tổng Hội Trưởng, tốt nghiệp Khóa 24, có đầy đủ khả năng để chu toàn trách nhiệm.Tuy nhiên bên cạnh sự thành công và niềm tự hào đó, dường như vẫn phảng phất điều gì làm người ta cảm thấy ít nhiều tiếc nuối, xót xa. Bởi chỉ hơn một tháng sau, vào các ngày 23-24 và 25 tháng 6 tới đây, cũng sẽ có một Đại Hội 21 nữa được tổ chức tại Westminster, miền Nam Cali, và cũng để bầu một Tân Tổng Hội Trưởng. Điều khó hiểu là cả hai Đại Hội cùng mang tên Đại Hội 21 này đều nhân danh Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 293)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 123)
Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 212)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương
10 Tháng Năm 20186:11 CH(Xem: 186)
Tôi đọc bài thơ “Tau chưởi” dưới đây, và nghĩ rằng có lẽ trong văn học VN (và thế giới?!) khó tìm ra một bài thơ nào kinh dị, khốc liệt như bài thơ này. Điều gì làm cho tâm hồn con người – thi sĩ – phải đau đớn, quằn quại, căm hận, phẫn nộ đến vậy? Hai Bài thơ “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” và “Bài thơ của một người yêu nước mình” làm cho Trần Vàng Sao nổi tiếng, nhưng theo tôi, bài “Tau chưởi” mới là bài đáng kể nhất trong thơ của ông.