DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,800,495

Trần Yên Hòa - Đoạn Đường Chiến Binh

13 Tháng Tám 201811:35 SA(Xem: 524)
Trần Yên Hòa - Đoạn Đường Chiến Binh
 
Đoạn Đường Chiến Binh
(Những hồi ức đan xen giữa thực và hư cấu)


blank
 

Mới đó mà Hoán đã thay đổi nghề làm ăn của mình cũng đã năm tháng. Bên ngoài thì thấy thời gian lướt qua như gió thoảng, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác...Nhưng trong đời sống của chàng thì thời gian đi qua chậm như rùa bò, chậm rì. Một ngày với chàng là một ngày tranh đấu không ngừng để kiếm miếng ăn, với cố gắng vượt lên, vươn lên...


Có nhiều người nói một câu nghe thấm thía, "lò cải tạo" là "tù trong", còn được thả về với đời sống bên ngoài là "tù ngoài". Hoán suy nghĩ cũng đúng như vậy.

Từ ngày Hoán theo Phụng, bỏ nghề mua bán lạc xon, ve chai, chàng quyết chí theo nghề bỏ hàng xe đạp. Mới đầu cái gì cũng khó khăn vất vã, nhất là với một người chất phát như chàng. Thực ra, được đào tạo trong "lò cải tạo" gần bảy năm - người ta thường gọi những người này là "tiến sĩ cuốc" - cũng đúng. Vì họ đã trải qua với biết bao cực khổ, nhục nhằn. Có người lại nói thêm rằng, khi người đã kinh qua "lò cải tạo" rồi thì mọi chuyện xảy ra trong đời đều coi như "pha", không có một trở lực nào khiến người tù cải tạo lùi bước được.


Chàng quyết chí không lùi bước trong nghề mua bán ve chai, đã ngủ trên sạp cá, ngủ trong mộ ông tướng, thì nay, sá gì chuyện đi lấy hàng từ các hãng sản xuất phụ tùng xe đạp ở Chợ Lớn, đem bỏ hàng ở những tiệm, sạp, suốt các ngả đường Sài Gòn, dưới cái nắng như trong lò nung, cháy da cháy thịt.
 
Câu nói người xưa là "có chí thì nên" hay "có công mài sắt có ngày nên kim" thật sự rành rành ra đó. Năm tháng, Hoán đã có một số đổi thay trong cuộc sống, mà đổi thay có chiều tiến triển, đi lên, lạc quan, chứ không phải đi xuống. Nghĩa là chàng đã thực hiện được ý nguyện từ lâu, là không còn ngủ trong ngôi mộ nữa, chàng đã tìm thuê (chung) một căn gác gỗ ở khu cư xá Cửu Long, với gia đình một người "bạn gái".

Nói đến "bạn gái", người ta có thể lẫn lộn đây là bồ của chàng, thực sự thì không phải. Chữ "bạn gái" ở đây đúng nghĩa bạn gái, vì Hương là người "đàn bà" và là bạn, của Hoán.

Cuộc đời là một bi kịch, nếu một người con gái bình thường, sống trong một môi trường bình thường, lớn lên, có chồng có con, suông sẻ, thì không nói làm gì. Nhưng trong một xã hội toàn dân bị đói rả, ngoi ngóp sống...thì biết bao nhiêu chuyện xảy ra, nghĩa là những tranh ăn, giành giựt miếng ăn...đã khiến con người so kè từng chút, nhìn nhau từng chút, thủ đoạn, mưu mô với nhau từng chút.

Hương, cô gái người Huế, cùng ba đứa con, bỏ Huế vào Sài Gòn, thuê một căn nhà nhỏ ở khu cư xá Cửu Long. Nàng tấp từ Huế vào Sài Gòn với bốn miệng ăn, như bốn cái tàu há mồm, vì ở Huế không thể nào sống nổi. Hương và ba đứa con thuê nhà tạm trú, nên được gọi là dân nhập cư. Nàng và đứa con gái lớn sắm một xe bánh mì đặt bán trước cửa nhà Hiền...Nên từ đó, Hương quen với Hiền và Thu...

Ba người đàn bà tự nhiên thân nhau, vì hoàn cảnh giống nhau, mà sự việc thân thiết, chính đáng nhất là cô nào cũng ở "bến không chồng". Hoàn cảnh cuộc sống dễ làm ba người đàn bà xáp lại gần, chia xẻ nỗi niềm cho nhau, những lúc "cô đơn".

Nhưng trong thâm tâm mỗi người, ai cũng muốn tìm một người đàn ông để lấp đi khoảng trống, Hiền và Thu đã có Hoán và Phụng. Còn Hương thì chưa. Nhưng đời nàng cũng có những đắng cay là yêu một người đàn ông đã có vợ, mà người vợ thì đúng là sư tử hà đông, đã rình mò, đánh đập nàng mấy lần.


Để che mắt người vợ dữ dằn kia, Hiền giới thiệu cho Hoán vào ở chung với Hương, thứ nhất là đưa Hoán về cuộc sống của một con người, nghĩa là sống với con người, chứ không phải sống với những thây ma ở nghĩa địa, thứ hai chia sẻ với Hương món tiền thuê nhà, món tiền mà Hương với cái xe bánh mì và nuôi ba con, là quá tải. Nhưng trong sâu kín, cũng muốn chứng tỏ với người đàn bà "hoạn thư" kia, là Hương đã có một người đàn ông kề cận.
Cho nên đến tháng thứ hai, từ ngày chàng đi theo nghề mới, Hoán đã dọn nhà từ nghĩa địa, về nhà Hương, ở cư xá Cửu Long.

Cư xá Cửu Long là cư xá của hải quân chế độ cũ, nay chế độ này đã sụp tiệm, một số gia đình hải quân di tản theo tàu ra nước ngoài, một số còn lại bị chèn ép phải rời khỏi nơi đây, còn toàn lại những người lạ. Những chủ mới cũng chẳng giàu có gì, chỉ muốn có căn nhà để rúc ra, rúc vào, có người khá hơn một chút, dư nhà, thì họ cho thuê. Hương nhờ người chỉ dẫn, cô thuê được một căn nhà ở đây, cũng tạm cho nàng và ba con tá túc.

Hoán với Hiền thì ở trong tình trạng già nhân ngãi non vợ chồng. Hai người mỗi người đều có gánh nặng trên vai phải suy nghĩ, lo toan, nên hai người chưa muốn tiến xa hơn. Tiến xa hơn nghĩa là đến ở chung một nhà, là vợ chồng, thì có biết bao nhiêu điều phải gánh lấy, thôi thì thôi. Già nhân ngãi, non vợ chồng, lo cho nhau chút nào được chút nấy.

Theo nghề này mấy tháng qua, Hoán đã có một số mối bỏ hàng ổn định. Tính chàng uy tín và hiền lành, nên chiếm cảm tình của nhiều bạn hàng. "Bỏ sỉ", danh từ dành cho người bỏ mối, chỉ ăn lời tí đỉnh, chỉ mong sao bỏ mối được số nhiều, để bạn hàng còn bán kiếm lời nữa chứ. Chàng tâm niệm như vậy, nên đã có một số mối ổn định, kể cả mấy ông chủ hãng, chủ xưởng sản xuất ở Chợ Lớn, chàng cũng lấy được cảm tình, vì tính chàng thiệt thà, nên các ông chủ này cho chàng lấy hàng nhiều mà không sợ bị gạt.

                                     *

Hiền nói với Hương, trong một buổi sáng ở xe bánh mì lề đường:
- Bà Hương, tui có ý này muốn hỏi bà, nhờ bà chút, được hôn?
- Chuyện gì vậy sư cô.
Vì thấy Hiền hay đi chùa, và cô hiền như Phật, nên Hương và Thu thường gọi như thế.
- Thì chuyện anh Hoán, ảnh bây giờ một thân một mình, đang ở trong một ngôi mộ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, tui thấy tội nghiệp ảnh quá. Nay ảnh theo anh Phụng đi bỏ mối xe đạp cũng khá khá rồi, mình khuyên ảnh đừng nên ở trong ngôi mộ nữa, ảnh đồng ý, nhưng một mình ảnh thuê nhà thì mắc quá, không kham nổi, hay là Hương cho ảnh ở chung với, rồi chia tiền thuê ra, cũng đỡ cho Hương một ít. Hương nghĩ sao?

Hương thì biết Hoán qua sự giới thiệu của Hiền và cũng có mấy lần đi ăn chung ở quán vịt Thanh Đa. Hương cũng thấy Hoán hiền lành, dễ mến. Nhưng chuyện ở chung một nhà, nàng chưa nghĩ tới, bởi vì, căn nhà nàng nhỏ híu, diện tích khoảng 15 mét vuông, ngoài cái bếp, thì còn rộng khoảng 12 mét vuông thôi, buối tối mẹ con nàng trải 2 bức chiếu và treo hai cái mùng lên là ngủ. Nếu có Hoán nữa thì sắp xếp anh ngủ ở đâu đây.
Hương bày tỏ:
- Nè Hiền, cho anh Hoán ở chung thì mình không ngại, nhưng mà nhà nhỏ quá làm răng, mấy mẹ con mình thì dễ, còn có Hoán là đàn ông?
Hiền cố ép:
- Không sao đâu. Ăn thì nhiều chứ ở thì bao nhiêu. Thấy ảnh chui rúc trong nghĩa địa tui thương quá, mà thuê phòng riêng chắc ảnh không đủ tiền. Thôi thì cứ để ảnh ở chỗ Hương đi, tối cho ảnh ngủ chung với thằng út.

Thằng út con Hương, khoảng sáu, bảy tuổi, đang học lớp một, không có cha, nên nhìn hoàn cảnh cũng thương lắm. Hương ngồi ở xe bánh mì suốt ngày, đi từ 5 giờ sáng đến 9, 10 giờ tối mới về đến nhà, khi những nhà kế bên đã tắt đèn đi ngủ...nên Hương cũng muốn cho thằng út có một người đàn ông lớn tuổi, ở cạnh nó, cho nó vui.


Vậy là Hoán di chuyển gia tài của của mình về nhà Hương thuê. Gia tài của anh chỉ có cái mền rách, cái gối cũ và một số vật dụng linh tinh, cùng chiếc xe đạp cà tàng. Chừng ấy thôi, cho một cuộc sống mới.

Nhưng dù gì, trong anh, tình yêu dịu ngọt của Hiền vẫn đẫm hương hoa bưởi, hoa chanh, vẫn ngời ngời vang động trong lòng.

Tình với Hiền là mối tình sâu sắc và lóng trong. Hoán không muốn vẩn đục nó và lợi dụng nó. Đã mấy tháng trôi qua, hai người đã có những lần tựa kề nhau, âu yếm nhau, có khi trong cơn say chàng còn ôm nàng ngủ ngon lành. Nhưng sự việc ấy cũng chưa đưa đến việc "yêu" với Hiền, vì chàng nghĩ chuyện này nếu xảy ra, sẽ liên quan đến trách nhiệm, bổn phận. Bây giờ Hoán mới ba sáu, Hiền ba hai, còn rừng rực tuổi xuân với bao khát khao về thân xác. "Dính bầu" dễ như chơi. Chàng rùng mình nghĩ tới chuyện này. Đừng làm cho Hiền khổ nữa. Đời nàng đã khổ quá rồi.

                                     *


Sáng nay đi bỏ hàng, rảo xe đạp quanh khu Chợ Lớn, vào mấy con đường nhỏ như Nhật Tảo, Sư Vạn Hạnh hay những con đường trước Chợ Tân Thành, nơi mà hằng ngày chàng hay ghé qua một, hai lượt để lấy hàng, những món hàng mà trong hãng không có.

Đi trên đường Ngô Quyền, chàng nghe mệt mỏi trong người, thấy cần một ly cà phê nên Hoán tấp vô một quán cà phê bít tất ngồi nghỉ mệt. Bỗng thấy Phụng chạy mobilette ngang qua, chàng đứng dậy kêu:
- Phụng, Phụng.
Phụng quay đầu lại nhìn vào, thấy Hoán, nên tấp xe ngay vào bên lề.
Hoán gọi thêm:
- Vào đây uống cà phê đi Phụng, mấy tuần rồi mày biến đâu mất biệt vậy.
Phụng cho xe vào lề, rồi vào ngồi cùng Hoán.
Phụng hỏi:
- Sao độ rày khá không? Nghe nói mày ăn nên làm ra lắm mà?
Đôi bạn bây giờ thân thiết, nên đã đổi cách xưng hô mày, tau:
- Thì cũng đỡ, tau cố cày để kiếm chiếc xe như mày chạy, chứ chạy xe đạp hoài rã giò rã cẳng hết.
- Thì từ từ cũng có thôi. Tau cày hai năm mới mua nổi đó. À, mày qua ở nhà bà Hương ra sao rồi?
- Thì cũng được, vui vẻ thôi mà. Hương thì tối 10 giờ mới về, Hương về tau đã ngủ rồi. Sáng Hương 5 giờ đã thức dậy đi bán, khi thức dậy chỉ còn mình tau.
- Thế hả? Thôi sống như vậy cũng được, có một nơi tối về trải chiếu nằm, có những con người chung quanh thì cũng an ủi và bớt đi sự lạnh lẽo. À, mày với bà Hiền sao rồi? Thấy bà Hiền cũng tội, bả hiền quá mà, đúng như cái tên.
- Thì bả hiền nên tau không giám động tới.
- Sao? Chưa xơ múi gì à?
- Chưa, tau ngại quá, nếu tau muốn thì bả cho liền, nhưng tau sợ, bả thì hiền, lỡ dính bầu thì mệt lắm. Không kham nổi đâu.
- Ô! Đồ nhát gan. Chuyện này không có gì lo sợ à nghen. Trai thất lạc vợ, gái li dị chồng, đến với nhau là chuyện thường, mày sợ dính bầu thì mang bao. Sợ gì.

Hoán khù khờ thấy rõ, dù sức trai sùng sục, nhưng chàng cố nén lại, sợ mang bầu, sợ trách nhiệm. Nhiều lúc anh phải nén mình để tự cho "ra", còn hơn là cùng với Hiền ân ái, để di họa về sau, làm khổ nàng. Còn nếu hai bên rỗ rá cặp lại làm vợ chồng thì anh chưa muốn. Anh còn phải đi tìm người vợ và hai con thất lạc từ ngày đi tù.

Phụng biết tính Hoán nhút nhát, trong hoàn cảnh này, Hoán có vẻ tự ép mình quá, nên Phụng gợi ý:
- Hoán à. Tau thấy mày cổ lỗ sỉ quá rồi nghe. Mày đã có con và Hiền cũng vậy, ai cũng biết chuyện trai gái, ái ân, nhưng tại sao lại không biết hưởng mà vẫn im lìm, để "mặt trận miền tây vẫn yên tỉnh" vậy. Tau chỉ cho mày nè, mày đạp xe vòng vòng khu Chợ Lớn này, mầy thấy mấy xe thuốc lá bán trên các đường Tạ Uyên, Hải Thượng Lãn Ông, chỗ nào cũng bán đầy bao cao su. Mày hỏi mua một vài cái bỏ sẳn trong túi mà xử dụng. Hai đứa có con có cái rồi, sợ gì nữa, cứ tròng nó vào rồi chơi xả láng, ép mình làm chi cho khổ.
Hoán hỏi lại:
- Mày với Thu cũng vậy hả?
- Chớ sao nữa, có tội lỗi gì đâu, có lừa gạt hay phá gia cang của ai đâu nào. Mày đừng ép mình quá, cuộc đời mình đâu có lừa đảo, lường gạt  mà sợ quả báo. Nếu yêu nhau thành thật thì cầu mong cho nhau sung sướng. Nếu sợ mang bầu thì tìm cách ngừa thai. Mày lớn rồi, chuyện đó mày hiểu mà, mày đâu có còn con nít mà ngại ngùng, mắc cở. Tụi mình đã sống tận cùng bằng số rồi, đừng có ép mình quá, mày nghe tau đi.

Hoán ngồi nghe Phụng thuyết giảng một chặp cũng đã thấm. Thật sự chàng hiền, hiền khô. Dù rằng, những lúc ngồi bên Hiền, chàng hôn Hiền, thấy Hiền thở hào hểnh, mồ hôi mồ kê toát ra. Chàng biết Hiền đang xúc động. Người đàn bà ba mươi hai tuổi, li dị chồng đã hai năm, chưa quen biết lại một người đàn ông nào. Bây giờ gặp chàng và hai người thương nhau, mà chàng cứ rủ đi ngồi cà phê hay đi ăn, nói toàn chuyện trời trăng mây nước, thì nghe chán chết. Chàng biết thêm là bên cạnh sự hiền hòa, tốt bụng của Hiền, như bồ tát Quan Thế Âm, nhưng bên trong nàng là một hỏa diệm sơn đang ẩn chứa, có sức phun lửa cháy hàng chục khu rừng cũng nên. Trong người nàng, nhiều lúc nàng muốn tung hê tất cả. Dĩ nhiên chỉ với người  nàng yêu là Hoán thôi, chứ không ai khác, nhưng Hoán là ông Phật sống, hiền như bụt, khiến nàng có ham muốn bao nhiêu cũng phải dừng lại và bật lên tiếng thở dài.

Bây giờ theo Phụng nói, thì mình cũng hơi quá khắt khe với chính mình. Thật ra trời sinh ra chuyện đó, cho hai kẻ yêu nhau quấn quít lấy nhau, thế mà mình làm tượng đá bao lâu nay, cũng tội cho Hiền thiệt.
Phụng bồi thêm:
- Mày tin tau đi, không ai có tội cả. Mày dửng dưng như không vậy mới có tội với nàng. Cứ như tau và Thu, hai đứa thương nhau, nhưng Thu đợi đi xuất cảnh nên tau không muốn phiền hà, cản trở Thu, tuy nhiên Thu yêu tau, cho tau, thì tau nhận thôi. Đôi bên cùng vui vẻ mà.
Hoán nghe thấm ý, anh mở cờ trong bụng. Phụng bồi tiếp, xúi giục tiếp:
- Bây giờ mày đạp xe lên đường Tạ Uyên, ghé mấy quày thuốc lá hỏi mua vài cái áo mưa, để ngừa. Bỏ vào bóp rồi khi nào gặp Hiền thì "thi hành án" với nàng, nhớ mang cái đó vào cho an toàn, không sao đâu, "chắc khé" trăm phần trăm.
Phụng uống cạn nốt ly cà phê rồi đứng lên:
- Thôi tau dọt đây, hôm nay bạn hàng đặt hàng hơi nhiều, tau phải quần lên Chợ lớn lấy một số dè inoc nữa. Mày đi sau nhe. Cố gắng thực hiện lời tau.
Khi Phụng đi rồi, Hoán mới hoàn hồn. Thật ra mình cả quỷnh quá, cả quỷnh thiệt tình.
Chàng kêu trả tiền cà phê và đạp xe lên đường Tạ Uyên.

                                   *

Một tuần sau.

Buổi chiều xuống thật chậm, bầu trời màu hoàng hôn trông thật rực rỡ ở phương tây, nắng lóa lên một màu hồng chan hòa cả một khoảng trời. Hoán đạp xe về nhà sau khi cùng Phụng ngồi lai rai chút ở quán lẫu bò bình dân bên lề đường Điện Biên Phủ. Buổi chiều hôm nay bỏ hàng xong sớm hơn thường lệ, vì cũng có dụng ý để lai rai tí đỉnh với Phụng. Hồi trưa gặp Phụng ở Chợ Lớn trên đường đi lấy hàng, Phụng nói, hôm nay thứ bảy, về sớm nhe mày, kiếm chút gì lai rai chơi, cày hoài cũng vậy. Hoán hỏi lại, ở đâu, thì chỗ cũ, chỗ lẩu bò trên đường Điện Biên Phủ đó. Rồi. Tau sẽ về sớm. Thế là hai sĩ quan thất trận, hai cựu tù nhân cải tạo, hai tay buôn bán, bỏ hàng xe đạp, lại tấp về đây, buổi chiều thứ bảy, cho cái lẫu hai người đi ông chủ ơi, và một xị rượu đế ngâm hột chuối già nhe.

Nhậu, đó là thói quen của người miền nam mỗi khi rảnh rỗi, hay gặp bạn bè, tụ năm tụ ba ở một một nơi nào đó, mồi "đưa cay" có thể là lát cá đuối khô, con khô cá sặc, ngon hơn la cá lóc nướng trui, còn cùng lắm là trái cóc, trái ổi. Văn hóa ẩm thực người miền nam dài và rộng, kể ra không hết. Nhưng nói chung, nhậu vì vui, nhậu vì buồn, nhậu vì thấy mình cô đơn trống rỗng tìm bạn để chia xẻ nỗi lòng, nói chung cái gì cũng "gầy sòng" nhậu được, dĩ nhiên có hứng thú, có khoái lạc, có bừng bốc, khi hơi cay len vào bao tử, kích thích những đường dây thần kinh, nhậu để quên, nhậu để nhớ. Buồn cũng nhậu, vui cũng nhậu.

Ai ai cũng thích nhậu, đàn ông nhậu, đàn bà nhậu, trẻ em tập tò nhậu, sáng ra mới tám giờ các quán bia, quán rượu đế đã ì xèo "dô dô, một trăm phần trăm".
Hoán với Phụng ít nhậu thôi, hai ba tuần mới gặp nhau một lần. Nhậu là để dàn trải, bày tỏ tâm tư. Hình như những người lính thất trận thường buồn. Buồn đủ mọi chuyện. Thời thế đưa đẩy họ xuống tận cùng dưới đáy xã hội, bây giờ họ muốn vươn lên bằng cách "nhậu". Sự vươn lên đầy mồ hôi vất vã, nhiều khi họ mất niềm tin lại khụy xuống, nhậu cũng là cách họ kéo nhau đứng lên trong trí tưởng. Bây giờ họ còn có nhau trong tình bằng hữu, trong những cơn say chếnh choáng.

Với Hoán, lúc nào cũng trở lại trong anh, hình ảnh người lính bộ binh hành quân trên chiến trường Nam Ngãi, những bãi mìn, những đợt pháo kích, những tiếng hô xung phong của địch, những "thằng con" nằm lăn lóc, máu tuông xối xả, gọi trực thăng tản thương, những chiếc máy bay quần thảo tìm bãi đáp, thẩm quyền, thẩm quyền ơi, cứu em...Đó là những ngày cũ đã qua cũng trên mười năm, mà mỗi khi có chút rượu vào là những hình ảnh đó lại hiện lên, chàng lạng quạng, nói, thôi về Phụng. Chàng kêu chủ quán thanh toán tiền, rồi dắt xe ra về. Phụng cũng ngất ngưỡng đứng lên dặn dò, mày đi cẩn thận nhe.

Buổi chiều gần tối chàng cho xe đạp vào sân, leo lên gác. Chàng thấy nhớp nháp trong người, phải tắm cái đã, chàng lấy áo quần sạch rồi vào phòng tắm. Cả nhà vắng tanh, Hương và mấy đứa nhỏ bán ngoài xe bánh mì, ngày nào cũng thế. Chàng nghe một nỗi cô đơn bát ngát. Những lúc uống rượu về, nỗi buồn và cô đơn càng dâng cao hơn.

Tắm xong, chàng ra trước ngồi trên chiếc ghế đẩu, thì Hiền tới. Hiền đứng dưới sân kêu với lên:
- Anh Hoán, anh Hoán ơi!
Hoán nói:
- Hiền đó hả? Cửa không khóa. Em lên đi.
Thường thì Hiền vẫn đến nhà chơi mỗi chiều khi đi làm về. Tới để xem Hoán ăn uống gì chưa? Chứ ông thần này là một tay bất cần đời, ăn uống chả đâu vào đâu, chẳng giữ gìn sức khỏe gì cả, đi ra đường gặp đâu ăn đó, gặp gì ăn nấy. Nhiều khi làm biếng Hoán dặn Hương đem mấy ổ bánh mì bán ế, anh ăn dùm và trả tiền cho Hương, để Hương khỏi lổ. Hiền lo cho Hoán như vậy đó.

Hiền bước lên cầu thang. Nàng bận một chiếc robe màu xanh đậm, trông nàng trẻ và nền nã hẳn ra. Giống như cô gái chưa tới tuổi ba mươi. Hiền có nước da trắng hồng và nụ cười rất có duyên nhờ cái núm đồng tiền nhỏ bên miệng. Hoán thấy vui khi Hiền đến.

Anh chợt giật mình nghĩ đến điều thằng Phụng đã hướng dẫn và thấy mình háo hức. Hiền thường đến với anh buổi chiều gần tối. Những ngày trước vẫn bình thường, hai người nói chuyện với nhau về trời mưa, trời nắng, buôn bán đắt ế ra sao, trong hợp tác xã giấy của Hiền thùng giấy đã về chưa? Rồi Hiền lui cui xuống bếp hâm lại thức ăn cho Hoán... rồi Hoán hôn nhẹ Hiền. Thế thôi.

Nhưng hôm nay sao lạ quá, vì mình say hay lời nói của Phụng văng vẳng lúc chiều ở quán lẫu dê. Mày lơ Hiền, không động đậy gì tới Hiền là mày có tội đó nhe. Mày ác lắm nghe. Người ta là đàn bà, li dị chồng đã lâu, yêu mày thế kia mà mày yêu chỉ để nhìn thì đâu có được. Ai cũng cần chuyện đó như đói ăn, khát uống chứ có gì mà xấu hổ, đó là sinh lý mà. Mày hãy nghĩ cho Hiền, thương Hiền, yêu không phải để nhìn đâu nhe. Tối nay Hiền có tới thì hành động đi. Sĩ quan tác chiến gì mà nhát như cáy, nhát như thỏ đế...
 
Hiền bước lên thang gác căn nhà Hoán ở. Dáng nàng nhún nhẩy như con chim sâu chuyền trên cành cây, chuyền từ cành này qua cành khác, rồi ríu rít kêu:
- Anh Hoán ơi! Hôm nay anh về sớm ha? Anh ăn gì chưa? Em có mua cơm hộp cho anh nè. Có canh chua cá bông lau nữa nè.
Hiền xách trên tay một bịch nhựa, tung tăng đi vào phòng. Hoán đang trong cơn "sật sừ". Tính anh vẫn thế, cứ có chút rượu vào là anh hay "sật sừ" như vậy. Sật sừ có nghĩa là... nửa tỉnh nửa mê. Chàng ngồi nơi đây, trên ghế đẩu, mà tâm hồn chàng như thả về đâu đâu, lững lơ về một miền ký ức xa xôi của dĩ vãng. Kí ức...những mảng nhớ rời rạc của mười mấy năm về trước...

                                     *


blank
                                                                                                                                                                                    hình minh họa


Cả trung đoàn nhận lệnh hành quân vùng Đổ Xá, để phá áp lực địch đang đè nặng lên khu ba biên giới Việt, Miên, Lào. Hoán được tiểu đoàn trưởng cho đi theo Bộ Chỉ Huy, không chức vụ. Chàng le te mang theo cái ba lô, có đựng mấy bộ áo quần, cái poncho, cái võng và một cây tiểu liên M.16. Thiếu úy Hoán không có một người lính dưới quyền để sai vặt, chàng đúng là một khinh binh, chỉ hơn một khinh binh là được ở bộ chỉ huy tiểu đoàn. Thế thôi. Toàn tiểu đoàn được trực thăng vận bốc, thảy xuống khu vực núi Tròn, Sơn Tịnh ba ngày nay. Vùng này là vùng xôi đậu, ban ngày của ta, ban đêm của địch. 

Buổi sáng... đại đội 3 của thiếu úy Bé dẫn đến nộp cho an ninh tiểu đoàn một tù binh, báo cáo là khi đại đội nhảy trực thăng xuống, tràn vào làng, thấy một người thanh niên đang bỏ chạy. Lính đại đội bắt được và khai thác sơ qua. Người thanh niên khai là thợ hớt tóc dưới quận, nhân dịp về thăm nhà thì bị bắt, anh ta không tham dự gì, không liên quan gì đến quân du kích hay nằm vùng cả. Khai thế nhưng có ai tin? Anh được đại đội giao nộp cho ban 2 tiểu đoàn.

Buổi tối, nhân lúc cả bộ chỉ huy tiểu đoàn đang ngủ, người tù hay người hàng binh này đã tìm cách trốn. Anh ta chạy xuống khúc suối gần đó và biến mất trong bóng đêm. Khi tiểu đoàn phát giác, cho lính lục soát và kêu pháo binh bắn nát cả một đoạn suối dài, người thanh niên vẫn biệt tăm, lính lục soát không tìm được dấu vết nào cả.

Buổi sáng ra, thiếu úy Bé nghe tin người thanh niên trốn thoát, Bé liền cho lính đi lùng sục trong những nhà dân. Cuối cùng lính của Bé bắt khoảng hai chục người, là đàn bà, con gái và ông già. Tất cả bị trói thúc ké và xâu chuỗi vào nhau, dẫn lên bộ chỉ huy tiểu đoàn. Thiếu úy Bé nói với đám người, tụi mày phải bị xử thay cho tên địch trốn thoát khi hôm. Đám người, dân hay địch, trông lê thê lếch thếch, mặt người nào người nấy xanh xao như tàu lá rũ, vì sự sợ hãi của họ đã lên đến tột đỉnh.

Đám người đứng trên một mảnh sân, thiếu úy Bé cầm cây M.16 huơ huơ, nói:
- Mấy người phải khai ra ở đây ai là VC, như tên chạy thoát khi hôm, hắn khai là thợ hớt tóc, thế mà đã bỏ trốn, thì chính thị nó là VC rồi. Nếu không khai các người sẽ bị bắn tất cả.

Đám người bị bắt trói từng xâu nhốn nháo, đôi mắt người nào cũng lạc thần. Không ai lên tiếng, thiếu úy Bé lựa ra một một người đàn ông cho đứng riêng, hỏi:
- Ông có biết trong đám này ai là du kích, là cán bộ VC nằm vùng không?
Người đàn ông run rẫy, mặt mày tái xanh, lắp bắp nói:
- Dạ, thưa ông, tui không biết.

Thiếu úy Bé bóp cò, người đàn ông gục xuống, máu từ ngực phun ra, thân ông lật bật, rồi quỵ xuống, nằm im. Đám người kia, nhất là đàn bà, con gái, sợ quá la thất thanh, nháo nhào, tha cho chúng tôi đi thiếu úy ơi, chúng tôi là dân đâu có biết gì.
Thiếu úy Bé tiếp tục:
- Khai ra đi, ai, ai trong đám này là du kích, cán bộ. Không thì tôi sẽ tiếp tục bắn.
Lúc đó, tiểu đoàn trưởng Hoành, đang ở trong lô cốt bộ chỉ huy, nghe tiếng súng nổ, vội chạy ra hiện trường, thấy cảnh trên, tiểu đoàn trưởng Hoành kêu lớn:
- Thôi đi thiếu úy Bé, để đó tôi xử cho. Đừng bắn nữa.

Đại úy Hoành cho lính dẫn đoàn người vào một căn nhà bỏ hoang, nhốt ở đó. Và Hoán được tiểu đoàn trưởng ra lệnh chôn cất người đàn ông bị bắn.
Hoán nhờ lính xin hai chiếc chiếu của dân, bó xác người đàn ông lại, rồi đào một cái hố, đặt xác người đàn ông xuống. Anh tự nhiên thấy mình bất lực trước chiến tranh. Rồi anh nhờ lính xuống khu dân cư mua một thẻ hương, đôi đèn cầy, thắp trên ngôi mộ vừa lấp đất. Ngôi mộ trơ khốc, không có một bản tên, không có một người thân đưa tiễn, cái chết thật dễ như một con chó, (thua con chó) không hơn không kém.

Còn đám đàn bà, con gái, đâu mười người, tuổi khoảng hai mươi đến ba mươi. Nhìn nét mặt sợ hãi của họ mà tội nghiệp. Gương mặt họ thất thần, như một cành lá rũ.
Sau đó, tiểu đoàn tiếp tục hành quân, đóng tại một căn cứ có tên là Vạn Kiếp.
Một đêm khuya khoảng 1 giờ, tiểu đoàn bị lực lượng địch đánh đặc công. Căn hầm của thiếu úy Bé bị ném beta, một loại chất nổ có sức công phá mạnh, làm tung lên, thiếu úy Bé chết tại chỗ, không toàn thây.
Có người nói đó là luật nhân quả. 

Hai tuần sau, tiểu đoàn về đóng quân ở căn cứ Hoàng Oanh. Hoán lại gặp lại những người đàn bà, con gái ấy, độ năm, sáu người anh còn nhớ mặt. Ban 2 tiểu đoàn giam họ trong một căn hầm rộng. Buổi chiều gần tối, trung úy Trung, trưởng ban 2, qua hầm Hoán trú, rủ Hoán, có em ngon, thiếu úy có thích không, tôi khao. Trung úy Trung vừa nói, vừa chỉ xuống căn hầm.
Hoán lắc đầu.



blank

                                   
                                       *


Hiền kêu lên, giọng nhõng nhẽo:
- Anh Hoán! Sao anh không bật điện để nhà tối om như thế này? Anh uống rượu sao, chắc là nhậu với anh Phụng hả? A, hôm nay thứ bảy mà...hai ông tướng chắc lai rai mới về, hả anh?
Hoán chợt giật mình, chàng thấy Hiền đang đứng trước mặt mình. Hiền đang loay huay sắp đồ ăn lên bàn:
Hiền nói tiếp:
- Anh đói bụng ăn cơm đi, em mua cơm hộp cho anh đây nè, nhớ ai mà ngồi thừ ra vậy?
Hoán chợt giựt mình lần nữa. Nhớ ai? Hồi ức vẫn thường đến với anh như cuộn phim quay chậm.
Anh trả lời Hiền:
- Anh ăn rồi. Hôm nay thứ bảy, gặp Phụng ở chợ Tân Thành, hai đứa hẹn nhau đi ăn lẩu bò, có uống chút rượu, bây giờ còn no. Em đói bụng thì ăn cơm trước đi.
Tiếng Hiền:
- Em cũng chưa đói, em định mua cơm tới ăn với anh cho vui, mà anh ăn rồi thì thôi. Em cất trong tủ, tối anh đói lấy ra ăn nhe.

Hiền dọn dẹp, cất thức ăn vào tủ, rồi đến ngồi bên Hoán. Nàng bận cái robe màu xanh thật dễ thương, để lộ cặp đùi thon, tròn lẵng. Hoán lại nhớ về lời của thằng Phụng chiều nay. Mày bỏ em, lơ em như vậy là có tội lắm đó, em cũng là con người, cũng thèm khát sinh lý mấy năm rồi, tuổi xuân phơi phới thế mà mày chỉ để "thờ". Mày muốn thành Phật hay sao hở thằng cả ngố.
Hoán tự dưng mĩm cười. Hiền thấy Hoán cười, liền hỏi:
- Anh cười gì vậy?
Hoán lớ ngớ trả lời, thật vô duyên:
- Không, em đẹp lắm, nhưng...
Hoán bỏ lỡ câu nói, anh choàng tay qua vai Hiền, Hiền ngồi sát bên, anh nghe hơi thở của Hiền nặng và gấp gáp. Căn nhà vắng tanh. Hoán xoay mặt Hiền lại sát bên mình. Anh hôn nàng vồ vập, tới tấp.
Cái nụ hôn của Hoán làm Hiền điếng người, từ ngày quen nhau và đến bây giờ, có bao giờ Hoán vồ vập như vậy đâu. Nàng nghe châu thân mình nóng rang lên, tứ chi như muốn khuỵu xuống.

Hơn hai năm, từ ngày Thao, người chồng cũ, bỏ nàng mà đi, nàng có lúc cũng thèm muốn một vòng tay đàn ông, nhưng những lo sợ, ghét cay ghét đắng sự phụ bạc của chồng, nàng sợ cả những người đàn ông nàng gặp sau này. Sự sợ hãi làm nàng mất đi những ham muốn. Nhưng nói gì thì nói, những tế bào cảm giác của nàng vẫn dội lên trong những đêm khuya khoắt,  ngủ một mình. Nàng thường đưa tay sờ xuống... mình và tự tìm cảm giác. Đó là cách giải quyết tốt nhất, trong âm thầm. Nàng thấy mình không liên lụy đến ai, trong khi tự thỏa mãn, có lúc cả thân hình nàng run bật lên như có nghìn mũi kim chích vào, nàng giật giật như những người bị động kinh đang lên cơn. Trong âm thầm chỉ mình mình biết, chỉ mình mình hay. Nàng không có lỗi với ai, kể cả với Phật.

Bây giờ Hoán ghì giữ môi nàng mạnh bạo trong miệng Hoán, Hiền lè lưỡi ra, Hoán nuốt lấy, quấn tròn lưỡi trong miệng...Hiền ú ớ, rùng mình. Theo các nhà tình dục học, món này là món kích thích đầu tiên, có thể làm người đàn bà mê sảng đi, không còn giữ gìn được gì nữa. Nhưng với Hiền, sau nụ hôn đầu tiên của Hoán tại cafe bụi rậm Thị Nghè, nàng đã quyết trong lòng là cho, là hiến dâng. Nên lần này nàng chủ động cùng Hóan đi theo cơn đòi hỏi của thân xác, cái mà nàng đã mất từ hơn hai năm. Nàng nghe rần rần trong người một nỗi khao khát, đam mê ngun ngút.

Trong tình trường, có thể nói, khi "tác nghiệp" như vậy, trong lúc run lẫy bẫy, con người thường nghĩ đến một người nào đó, trước đây đã cùng nhau hoan lạc. Và Hiền, tuy không còn yêu chồng nữa, nhưng những ngày tháng đầu khi xa Thao, nàng vẫn nhớ những phút ân ái mặn nồng với Thao. Chỉ trong 6 năm nàng đã sinh 4 đứa con, có thể nói là Hiền mắn đẻ, và người chồng cũng biết cách làm cho nàng sung sướng thỏa mãn, vì Thao biết rằng, khi người đàn bà đạt tới đỉnh cao nhất, là người đàn ông đã thành công.

Còn Hoán thì chàng đuối sức lắm rồi, có thể bảy năm tù làm người chàng khô quắt đi những ham muốn. Rồi ngày về lại với đời thường, chàng đã mất hết. Điều đó đã làm kiệt quệ tâm hồn chàng thêm. May là những ngày sau này, khi gặp Hiền, Hiền đã là sức bật nâng chàng lên một chút. Và kể cả những tình cảm bạn bè, như Phụng, như Thu, như Hương...Chàng thấy mình lấy lại sức sống. Tuy nhiên, cái đó cũng chỉ là bên ngoài, còn trong những giấc ngủ, chàng lúc nào chập chờn hình ảnh những ngày hành quân trên núi cao, rừng rậm, hay trong trại giam...Điều đó cũng là một tệ hại.

Hoán vẫn biết là, đời sống có nhiều mặt. Tình yêu Hiền, chàng cũng tha thiết lắm, nên chàng cố vùng dậy, vươn cao lên, chàng nghĩ phải cố lên, phải cố gắng làm cho Hiền vui, Hiền thỏa mãn...
Hoán vừa hôn môi, quấn lưỡi chàng vào lưỡi Hiền, hai người trong cảm giác sướng khoái. Chàng tiến sâu hơn, một tay chàng đưa xuống ngực Hiền. Những khuy nút bật ra. Cái cột sê trắng mỏng bao trùm trùm lấy đôi vú thon nhỏ của Hiền.

Người đàn bà bốn con mà núm vú vẫn còn tươi hồng, thật là một tuyệt diệu. Thường thì, qua sinh nở, qua cho con bú, vú của người mẹ thường chảy xệ và cái núm thâm đi. Nhưng Hiền thì không, cái của trời cho này nàng có một đặc biệt là không xệ xuống, không bị thâm đen. Hoán tự nhiên nhìn cặp vú của Hiền, lòng chàng nóng lên. Chàng đưa tay bóp nhẹ, xoa xoa.
Hiền kêu khần khật trong cổ họng, như con heo bị cắt tiết. Chàng vân vê hết vú bên này qua vú bên kia. Hiền tiếp tục khần khật, khần khật và rên rỉ lảm nhảm. Chàng đứng dậy, rời khỏi chiếc ghế đẩu, kéo Hiền nằm xuống sàn nhà.
Nhưng chàng không giữ được lâu. Hình như khoảng năm phút.


                                    *



blank

Nằm trên đồn Hoàng Oanh. Tên đồn không biết ai đặt ra, là tên của một cô ca sĩ thời danh, hay hát những bản nhạc về quê hương, về lính, như những đóm mắt hỏa châu, tiễn người đi. Hoán cùng trung úy Tín, người đàn anh, ở chung một căn hầm. Căn hầm của bộ chỉ huy tiểu đoàn được xây rất kiên cố. Hầm được đào sâu xuống dưới mặt đất khoảng hai mét, chung quanh trên trần được lợp bằng những bao cát Mỹ.

Tín học trước Hoán một khóa, được đào tạo chính quy, khi ra trường, ai cũng thích ở hậu tuyến để ấm thân và mang chữ thọ trên người. Tín là con một chủ tiệm vàng ở thị xã, người anh nho nhã, nói năng nhẹ nhàng, rất dễ mến. Tín đổi về trung đoàn vì gần nhà, và nhất là anh nghĩ đến sự quen biết của người cha, chủ tiệm vàng, với các quan tỉnh và sư đoàn, trung đoàn, chàng sẽ ở được hậu cứ.

Trong đêm đầu tiên lên căn cứ Hoàng Oanh, Tín trầm tư thấy rõ. Anh ra trường đã hơn hai năm, cứ nghĩ rằng sẽ yên tâm làm việc ở một văn phòng nào đó, nhưng sự thật phủ phàng. Tất cả Tín và bạn cùng khóa của Tín đều ra tác chiến. Đó cũng là một điều hay, nếu sống trong một xã hội "chưa tan rã", và còn hy vọng, còn niềm tin. Nhưng thực sự không phải như vậy. Nhiều bạn bè cùng khóa của Tín, nếu có "ô dù" chống lưng, có vàng cây, vàng lượng, tiền bạc bề bề, đem nộp cho chỉ huy trưởng, tư lệnh sư đoàn, trung đoàn trưởng, thì sẽ được cho về nơi không tác chiến, trong ấm ngoài êm ngay.

Trung úy Tín nhiều lần được người cha "chạy" cho về trung đoàn, nhưng dù giàu bao nhiêu làm sao có thể nộp cho những "con tàu há mồm" từ trung đoàn trưởng Ngàn, đến tư lệnh sư đoàn Toàn, hàng tháng một số tiền lớn.

Với lại ở một tỉnh miền trung đầy bom đạn, gai lửa, trong chiến tranh, ai mà có tiền mua vàng nhiều để làm trang sức được. Người dân chạy loạn tránh bom đạn như con kiến chạy quanh cái nồi rang, không biết chạy đi đâu, chạy đi đâu cũng chết. Nên họ lấy tiền đâu mà sắm sửa, chưng diện. Chỉ có vợ mấy sĩ quan từ cấp tiểu đoàn trưởng trở lên, sĩ quan quân số, sĩ quan tổng quản trị trung đoàn, sư đoàn, sĩ quan ban tư, trưởng phòng tư, tiếp liệu, hay các sĩ quan đầu ngành tiếp liệu, truyền tin...mới có nhiều tiền rủng rỉnh, mới có tiền sắm vàng hàng tháng.

Còn dân ngu, khu đen chỉ từ chết đến bị thương, sống không ra sống, chết không thể chết, sống lê lếch, lây lất ở các trại tị nạn CS.
Vì vậy nên gia đình Tín làm ăn thất bát thấy rõ.

Nằm bên Hoán trong hầm tại căn cứ Hoàng Oanh, Hoán thấy thương Tín quá. Tín tâm sự những ngày lặn lội ở trung đoàn 4, những người bạn cùng khóa, ra trường bị đẩy đi làm đại đội phó, không lính, không quyền hành, không có việc gì làm ở một đơn vị tác chiến. Mà quân đội chỉ nhắm quan trọng chuyện hành quân, tiêu diệt địch là chính, không tâm lý chiến gì cả. Chính Hoán cũng từ một trường chính quy ra, với đầy đủ lý thuyết, nhưng anh đã nhận ra trước mắt, những điều bất công, quân phiệt, quá đổi.

Tín kể về những ngày tuổi thơ của anh ở Quảng Ngãi, thị xã nhỏ bé có con sông Trà Khúc hiền hòa, vây bọc thành phố. Con sông cho anh một tuổi thơ trong sáng. Anh nghĩ, lớn lên mình sẽ là một thầy giáo đứng lớp, dạy cho học sinh những điều nhân nghĩa. Nhưng thời cuộc đã xô đẩy anh vào lính. Rồi anh ra trường, làm con "chốt thí" trong quân đội và trong những đảo điên của con người. Người cha không đủ vàng chi đủ cho trung đoàn trưởng Ngàn, nên Tín đành ra tác chiến.

Hoán ở căn cứ Hoàng Oanh với Tín được hai tháng, thì Tín có lệnh đổi qua tiểu đoàn khác. Trong trận hành quân giải tỏa Quế Sơn, Tín bị pháo kích chết ngay tại chiến trường. Ngày đưa tiễn Tín về với đất, Hoán không về được vì bận hành quân.

Từ đó, Hoán luôn luôn "sật sừ" nghĩ đến cái chết của Tín, người đàn anh dễ thương, của Bút, của Triệu, của Dân, những người bạn cùng khóa, những cái chết thật oan uổng. Những sĩ quan từ một trường hiện dịch ra, không cầm quân, không có một người lính dưới quyền để làm cảnh, đã chết trong oan ức, không một anh dũng bội tinh. 
 
                                      *


blank

Cái run sợ, hốt hoảng đó, đã đeo bám chàng, có lẽ là nguyên nhân anh bị "teo chim"? Cho nên anh thấy mình có lỗi với Hiền là chỉ kéo dài có năm phút.

Hiền nguyên xi là một thánh nữ. Thánh nữ trong tình yêu, trong thể xác. Dù xác thân của nàng không nhận đủ những khoái cảm mà nàng mong muốn, nhưng nàng thấy thương Hoán hơn trong cuộc "yêu" vừa qua. Nàng biết Hoán có một nỗi đau không rời về dĩ vãng, một dĩ vãng đầy hãi hùng của cuộc chiến trước đây, khi anh tham dự và là nhân chứng. Dĩ vãng đau thương với gần bảy năm tù.

Trong lúc Hoán mệt nhoài nằm lật sang một bên trên sàn gỗ, Hiền sờ xuống... mình, chất nước sền sệt chảy quanh đầy đặc. Nàng với tay lấy trong hộp giấy lau ra lau cho khô những vết ướt. Tấm thân nàng vẫn còn rung động như qua một cơn địa chấn.
Hoán nói nhỏ:
- Anh xin lỗi em. Anh dở quá, phải không?
Hiền cũng nói thật lòng mình:
- Không có gì đâu anh. Em hiểu anh mà. Em thấy hạnh phúc. Anh đừng suy nghĩ gì nhé anh.
Hai người nằm úp mặt xuống chiếc chiếu cũ, họ ngủ vùi đi.
 
Ngủ vùi. Hai người cứ nghĩ đây là nhà của mình, trong căn gác nhỏ bé này, họ là của nhau. Hoàn toàn tự do. Họ không nghĩ gì ngoài tình yêu đang vây chung quanh họ. Như một lá bùa mê làm họ bàng hoàng. Hoán với chuyện vừa qua, như một cơn mộng, vừa dữ, vừa hiền, vừa đầy cõi thiên thai diễm lệ. Chàng nghĩ, chuyện sẽ xảy một lúc nào đó, chứ không phải buổi chiều tối hôm nay. Nhưng cũng may, chuyện sẽ đến, đã đến... Chàng cũng bình tĩnh để nhận ra rằng, trước khi "lâm trận", mình cần cái bao cao su theo lời dặn của thằng Phụng...Và chàng vội vàng lục ví lấy ra, may mà còn kịp.
Hình như cũng một giờ qua, Hoán trở dậy trong lúc Hiền còn mệt, ngủ vùi trong cơn mê thiếp...

Cơn say đã tàn dần, nhưng đầu óc Hoán lại trở về những cơn "sật sừ". Mặc cho Hiền ngủ say với chiếc váy mỏng để lộ ra cặp đùi trắng thon, Hoán lấy chiếc khăn lông đắp lên trên người nàng, từ thắt lưng trở xuống. Rồi chàng nằm xây mặt vô tường "sật sừ" tiếp.


                                    *

Hoán lại được đổi về tiểu đoàn của Thiếu tá Trần Phúc. Phúc, Võ bị khóa 1..., người hơi thấp nhưng nụ cười lúc nào cũng nở trên môi. Nụ cười đó chiếm rất nhiều trái tim con gái, đàn bà, nên khi còn trung úy, Phúc đã lấy được một nàng tiểu thư khuê các ở đất TK. Là con một doanh thương có tiếng, chuyên môn bán sỉ cho các bạn hàng ở vùng sâu, vùng xa, nào gạo, thóc, mắm, muối.


Nghĩa là mỗi lần chuyển hàng lên các quận miền cao, đi đường bộ thường bị VC đắp mô. Họ đón bắt cán bộ, công chức, sĩ quan quân đội. Đi xe hàng từ TK lên TP, TM, rủi gặp "mấy cha" đắp mô lục soát, kiểm tra giấy tờ, thì người nào có trong các diện kể trên, đều bị bắt dẫn đi. Biệt vô âm tín, nên ai cũng sợ, chẳng giám di chuyển bằng đường bộ.

Chuyện mắm, muối, gạo, thực phẩm chở lên TP, TM là một khó khăn. Gia đình cô học trò tiểu thư khuê các, quý phái nhất thành phố tên là Tần Phương, phải nhờ đến mỹ nhân kế của cô ta, là chiêu dụ Trần Phúc, khi chàng ta còn đóng quân ở đồn Suối Đá. Chàng có những chuyến trực thăng tiếp tế thực phẩm lên cho đại đội, chàng cho quá giang luôn gạo, mắm, muối, thực phẩm đủ loại, cho gia đình em Tần Phương. Nhờ vậy mà mối giao kết giữa Phúc và em Tần Phương ngày càng bền chặt. Gia đình Phương thấy Phúc là một sĩ quan đã tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia ra, chắc chắn sẽ có tương lai quan quyền, nếu không rủi ro bị xanh cỏ, thì chuyện làm lớn ông này, ông kia nắm chắc tay. Cho nên mối tình đó, có lợi cho đôi bên lắm lắm.

Phúc thăng quan tiến chức đều đều vì chàng dẽo miệng, nói chuyện với cấp trên ai cũng tin, cái mác Võ Bị cũng đánh bóng chàng được chỉ huy tin dùng. Phúc khôn lanh, nhanh lẹ, khi nói chuyện vui thì nụ cười chàng rạng rỡ, nhưng khi có chuyện gì chàng không bằng lòng, thì Phúc đổi khuôn mặt ngay, khuôn mặt đanh lại, đằng đằng sát khí, hung tợn đến độ ai nhìn vào cũng phát sợ. Nhất là đám lính, kể cả đám sĩ quan dưới quyền.

Khi Hoán đổi về tiểu đoàn này, đơn vị đang đóng tại một vùng biển phía bắc tỉnh Quảng Ngãi, tức phía đông quận Bình Sơn. Chàng ra đơn vị phải đi tàu hải quân, loại tàu PCF, duyên tốc đỉnh, của Mỹ mới viện trợ cho hải quân VN.
Chàng không ngờ nơi đây có một vùng biển rất đẹp, biển nước trong veo, đúng là quê hương của Tế Hanh, đã có những câu thơ Hoán đã học thuộc lòng từ nhỏ:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới.
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.
Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng.
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

Những câu thơ này đã ấp ủ trong chàng từ thuở ấu thơ, khi học tiểu học, đến bây giờ chàng chạm trán với quê hương đó. Nhưng oái ăm thay, quê hương đó đang bị chiến tranh, cũng là một vùng xôi đậu. Ban ngày quốc gia, lính tráng xuống nhà người dân ăn nhậu, mua thực phẩm, tán gái...trông rất vui vẻ và an bình. Nhưng ban đêm, lính về trong đồn, thì trong âm thầm, địch quân, nhất là những cán bộ nằm vùng, ngóc đầu lên hoạt động, có thể là ban ngày, họ ở trong một hầm bí mật nào đó, hay rút vào vùng xa hơn, ban đêm họ mò về. Cho nên không làm sao quân đội kiểm soát được hết.


Lần đầu tiên thiếu tá Phúc kêu Hoán vô trình diện, ông cười nói rất vui vẻ. Khi nói chuyện đến công việc, ông nghiêm mặt lại:
- Ở đây không có công tác chính trị, chính em cái con cặc gì hết, mấy chuyện đó bỏ đi, dẹp hết. Anh bây giờ làm sao lo cho tôi cái câu lạc bộ cho lính có nơi mua bán thức ăn, thức uống. Đây về Bình Sơn đi đường bộ được, nên khi nào chuyến súp lay, anh hãy kê cho tôi biết nhu cầu lính cần gì, mì gói, cà phê, thuốc lá, đường, bia, rượu...Anh cứ kê hết, nhu cầu lính tráng nhiều lắm, đại đội chỉ huy và ba đại đội lẻ, quân số gần bốn trăm, anh liệu đó mà kê hàng, tiền bạc tui lo, anh chỉ lo khâu tổ chức. Còn bán hàng thì tôi sẽ cử thiếu úy Hy.
- Thưa thiếu tá! Lỡ lính mua không có tiền trả thì thế nào?
- Thì cho tụi nó mua chịu, ghi sổ, cuối tháng trừ lương. Đưa danh sách lên cho phát ngân viên, họ sẽ trừ lương trước khi phát. Mình nắm đằng cán, lương của tụi nó mình giữ mà sợ cái chi. Giọng Quảng Trị của Phúc nghe khét lẹt.
Hoán chỉ biết vâng dạ, và hôm đó, anh lấy một cuốn sổ dày ghi hết những nhu cầu của lính. Gần bốn trăm người lính nên nhu cầu hàng tháng rất cao, chàng giao đơn đặt hàng cho thiếu tá Phúc và ông gọi thẳng về hậu cứ cho họ lo liệu.

Sau đó hơn tuần, hàng đổ xuống bằng nhiều phương tiện, xe tiếp tế tiểu đoàn, trực thăng hay tàu hải quân, cả một kho hàng lớn được chuyển tới. Thiếu úy Hy, được thiếu tá Đức tin dùng, coi việc bán hàng cho binh sĩ. Câu lạc bộ làm bằng tre và gỗ thông, đã được đại đội chỉ huy huy động cho cả trung đội lính, xuống dân xin tre chặt đem lên, tranh thì sai lính lên khu rừng gần đó cắt lợp. "Nước sông công lính" mà.

Chỉ trong một tuần, câu lạc bộ được hình thành và hôm khai trương, rôm rả tiếng dô dô của đám lính nhậu say vang râng cả một góc trời. Một ngày như vậy, bán cả hơn hai, ba trăm gói mì, mấy thùng bia larue, hàng mấy thùng rượu, thuốc lá. Lính tiền đồn ăn uống xả láng, ăn trước trả sau. Thiếu úy Hy sau đó được giữ một chức vụ không có trong cấp số, là quản lý câu lạc bộ. Hy đi đi về về hậu cứ như đi chợ, trong những chuyến xe tiếp tế lấy từ xe đốt cách tiểu đoàn, Hy chở mọi nhu yếu phẩm tươi sống từ Quảng Ngãi, Chu Lai, Châu Ổ, xuống đồn.

Ngoài số hàng đã định, theo sự đồng ý của thiếu tá Phúc, Hy còn mang theo nhiều nhu cầu khác như heroin hoặc bạch phiến...cho những tay lính ghiền nặng ở mấy đại đội lẻ. Trước mỗi cuối tháng khi lãnh lương, Hy làm một bản kê khai khoảng 10 tờ giấy, trong đó ghi hai mặt, chi chít tên lính thiếu tiền. Số tiền họ trả phải cao hơn gấp ba, gấp tư với giá chính thức. Nhiều lính đến kỳ lãnh lương, chỉ còn mấy trăm, tức ý, họ vào câu lạc bộ kêu mấy chai bia uống, là coi như xong một tháng lương, lại tiếp tục ghi sổ cho kỳ lương sau.

Như vậy thì tổ chức câu lạc bộ lính này thiếu tá Phúc hốt bạc, Hy cũng được hưởng ké những mặt hàng mua thêm và được ân huệ, là tuần nào cũng được về khu gia binh ngủ với vợ.

                                         *

Hiền loay quay rồi thức dậy hẳn. Nàng mở mắt nhìn. Hoán đang "sật sừ". Nhiều lúc nàng ngồi bên Hoán mà thấy như hồn chàng thoát xác đi mất. Hiền biết vậy nên nhỏ nhẹ hỏi:
- Anh thức dậy rồi hả Hoán?
Hoán giật mình, thấy Hiền đã thức, anh nói:
- Anh dậy trước em mà, thấy em ngủ ngon nên anh để em ngủ tiếp.

Hiền cười bẻn lẻn. Hai người tự nhiên không giám nhắc đến chuyện vừa qua, nhưng tự hiểu nhau, người này biết người kia tất tần tật, nghĩa là tất cả, từ trong ra ngoài, từ tính tình, nghề nghiệp, nơi chốn, thân thể.

Như Hiền vừa rồi, khám phá ra Hoán có bộ lông chân rất dày rất rậm, mỗi khi chàng co dẫy, hay cà xác với đôi chân nàng, nàng nghe nhột nhạt làm sao. Nhột nhạt xen lẫn thú vị, nao nao, tê tê, làm nàng co rúm lại. Và chàng còn có thêm bộ râu quai nón chỉ cạo qua sơ sài, còn lởm chởm những cộng râu cứng. Khi chàng hôn môi nàng, đám râu choi chỏi vào má, vào miệng nàng, cũng tạo cảm giác ngây ngất khó lường. Tài gì, nàng có nghe một câu mà các bạn gái, kể cả những người đàn ông, nói lén nói lút với nhau là, nhất lưỡi, nhì râu, tam đầu, tứ củ. Nàng tự thì thầm, món thứ tư anh hơi yếu đó nhe. Nàng cười thầm trong bụng cho anh khỏi ngượng. Thật ra với tình yêu thương, có thể xóa bỏ hết những trở ngại bình thường.
"Có cái này bù cho cái khác chớ, nhưng anh đâu có tệ, chỉ ôm anh và hôn anh thôi, mình cũng cảm thấy mê mẩn tâm thần ra rồi." Nàng nghĩ thế.

Với Hoán, chuyện vừa rồi với Hiền, chàng biết là mình vừa mới đi ra đến chợ, chưa mua hàng hóa thức ăn gì ráo trọi mà đã tiêu hết tiền, điều này làm chàng đỏ mặt.

Đó có thể là do chàng bị ở tù lâu quá, từ ngày xách cái giỏ lác đi cải tạo đến nay, cũng gần mười năm rồi, mà chàng đâu có gần người đàn bà nào. Trong tù, vừa ăn uống thiếu thốn, vừa lao động cưỡng bách, nên đã vắt kiệt hết sức lực của chàng. Nên chàng đủ sức sống được là may. Vượt qua lạnh lẽo, đói khổ, ốm đau nơi đó mà trở về lại được với đời sống thường nhật, cũng là một phép lạ rồi. Rồi ngày trở về, ra ngoài đời sống, lo kiếm ăn "vắt giò lên cổ mà chạy" còn chưa có hột cơm bỏ vào miệng, thì còn sức đâu mà nghĩ đến chuyện tình yêu, xác thịt.
 
Cứ coi như chuyện vừa qua là lần đầu sau hơn mười năm chay tịnh, thì như thế cũng "tạm" rồi, lo lắng gì ba chuyện trời ơi này. Tuy suy nghĩ vậy, nhưng chàng vẫn thấy mình hơi bị "dở òm", chưa đáp ứng lại đòi hỏi của người yêu, nên trong lòng quyết chí thực hiện lần hai, sao cho đạt.

Hiền ngồi dậy, rồi đứng lên. Hiền nói:
- Còn cơm em đem đến hồi chiều, để em đi hâm lại cho nóng, anh và em ăn cơm nhe.
Chàng vẫn thấy trước mắt mình cặp đùi tròn thon, cặp mông nhô ra đầy đặn, dáng đi liếng thoắn của Hiền, khi nàng đứng lên đi về phía bếp lò. Hoán lại thấy dợn trong lòng nỗi khát khao. Tuy nhiên anh cũng nói:
- Ừ, em hâm cơm lại đi.
Hoán đứng lên và ra ghế đẩu ngồi ngắm trời đang tối dần.
                                 
                                      *


Tiểu đoàn đóng ở miền đông Bình Sơn coi như giữ an ninh cho cả một vùng biển rộng suốt ba tháng. Các đại đội lẻ thì tối đi kích xa ở ngoài vòng đai các xã, chỉ có đại đội chỉ huy nằm giữa. Thời kỳ này lính có vẻ an nhàn vì không phải di chuyển, nhất là lính của đại đội chỉ huy.

Công việc bán câu lạc bộ lính rất khấm khá. Lính tác chiến sống nay chết mai, họ có cần gì, sống cho đã cuộc sống hiện tại, và cố hưởng thụ. Chứ suất ăn của lính bộ binh, toàn gạo sấy với cá hộp, thịt hộp, thì khô rang, chán chết, lấy sức đâu mà "lội". Dù đóng ở vùng biển nhiều cá, nhưng cá là của dân chài lưới ngoài khơi đem về, chỉ xin một vài lần thôi, chứ đâu có xin hoài được, mà lính tiểu đoàn hơn ba trăm chứ có ít ỏi gì đâu. Vậy nên lính thiếu thốn vẫn hoàn thiếu thốn. Thiếu thì mua mì gói chịu, thuốc lá chịu, bia chịu, rượu chịu, riết rồi đến tháng không còn một xu. Tiền lính tính liền.

Nhưng tính vẫn không đủ, đâm ra nợ. Nợ tháng này sang tháng khác. Chuyện đến tai Thiếu tá Phúc nên ông ra lệnh không bán thiếu cho những người lính thiếu qua tháng thứ hai. Mấy tay lính nghe vậy nên chữi thề loạn xị, chữi luôn cả gia đình vợ buôn bán bất nhơn của Phúc. Phúc nghe bọn tà lọt báo cáo, liền ra lệnh cho các đại đội trưởng "đì" mấy tên lính ba gai này, bằng cách đưa đi "tiền đồn".

"Đi tiền đồn" là danh từ dùng cho những người lính tiền tiêu đi kích giặc, nghĩa là một toán 2, 3, 4 người. Ban đêm đi ra xa đại đội để phục kích hay thám sát sự di chuyển của địch, thường, những người lính bị đày kiểu này, mạng sống không kéo dài một tháng, có khi một tuần, có khi ra đi chuyến đầu tiên là bị "dính chấu" liền.


Thằng "năm Dố" là thằng lính liều mạng, từng qua ba, bốn sắc lính, từ Thủy Quân Lục Chiến, rồi Dù, rồi Biệt đông quân. Bây giờ đến bộ binh, nó coi đây là tận cùng bằng số. Trong một đơn vị bộ binh, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng muốn "diệt" thằng lính nào thì dễ như trở bàn tay. Chỉ có việc cho nó đi kích, đi tiền đồn là ngày một, ngày hai, tụi nó sẽ về chầu ông bà ông vải ngay. Phúc đã làm vậy từ ngày còn đại đội trưởng, đến bây giờ, lính chết dưới tay Phúc ít nhất cũng trên dưới mười mạng.

Thằng năm Dố về tiểu đoàn rồi ra đại đội lẻ. Nhưng mà đi đâu nó cũng là dân tác chiến, nên nó đâu có ngán. Về đây, nó kết thân với hai thằng từ lao công đào binh về. Tụi nó ăn nhậu, đến tháng không đủ tiền trả nên thiếu tá Phúc ra lệnh cho đại đội trưởng, đưa 3 đứa đi tiền đồn. Kết quả hai thằng kia về chầu diêm chúa sớm, còn năm Dố may là số chưa chết, nó thoát chuyến đó.

Nó căm thù thiếu tá Phúc, đã gián tiếp giết hai thằng bạn thân của nó, Phúc là kẻ thù thật sự chứ không phải là kẻ chỉ huy mình. Nó nghĩ thế, và đợi có dịp nó sẽ trả thù cho hai thằng bạn.


blank



Tháng sau, chiến trường Quế Sơn bất ngờ sôi động, tiểu đoàn về nghỉ tại Bình Liên, để chuẩn bị lên tiếp ứng Quế Sơn, năm Dố quyết chí trả thù. Nó vào quán rượu ven đường uống luôn mấy xị đế để lấy bình tĩnh và can đảm thêm. Khi thấy xe jeep của Phúc lái vô bộ chỉ huy tiểu đoàn, nó cầm chắc quả lựu đạn trên tay, thấy xe Phúc, tháo khóa an toàn, nhắm mục tiêu mà ném. Một tiếng ầm vang dội, khói bốc lên mù mịt, một số lính chung quanh bị thương nhẹ. May mà Phúc thoát hiểm, chỉ bị thương ở cánh tay...An ninh tới bắt ngay thằng năm Dố, dẫn đi. Còn Phúc thì vào bệnh viện dã chiến Quảng Ngãi nằm hơn một tuần.


Đó là chuyện lính ném lựu đạn vào cấp chỉ huy lần đầu tiên ở trung đoàn 6... chuyện đồn rầm lên, dân chúng ven đường quốc lộ xã Bình Liên truyền miệng nhau, ai cũng biết.

Nhưng đời vẫn trôi không ngừng nghỉ, thiếu tá Phúc sau đó được điều về làm quận trưởng Bình Sơn, rồi sau đó được thăng cấp trung tá, lên nắm trung đoàn trưởng của một trung đoàn ngoài sư đoàn 3.

Sau này, khi Hoán ra tù, được truyền tai nhau, những vị chỉ huy cũ, từ tướng Toàn, đại tá Ngàn, trung tá Phúc đã bỏ quân, bỏ dân dọt lẹ ra biển trước ngày miền Nam sụp tiệm. Chỉ còn lại đám sĩ quan nhoi nhoi bên dưới ở lại ôm sô. Ai cũng tròm trèm năm, sáu năm gỡ lịch...mất vợ mất con, xiêu tán, lạc nhau trong cơn hồng thủy tháng tư bảy lăm, như một cơn mộng dữ của loài người.

                                   *

Hiền mua cơm hộp nhưng đầy đủ thức ăn như cơm nấu ở nhà, có cá kho rim, canh chua cá bông lau, rau sống quế, ngò, húng...đủ loại. Mâm cơm đặt trong một cái khay nhỏ, hai cái chén, hai đôi đũa, như bữa cơm của tân lang và tân giai nhân, của hai người mới cưới nhau.
- Anh Hoán ơi! Lại ăn cơm đi anh.
Hoán rời chiếc ghế đẩu, đến bên bàn, có mấy cái ghế nhựa thấp. Đây là bàn ăn của mẹ con Hương, nhưng từ ngày về sống ở đây, Hoán ít khi thấy mẹ con Hương ngồi trên bàn này, ăn cơm với nhau. Cả nhà Hương là cơm hàng cháo chợ thấy rõ, mấy đứa con của Hương, sau khi đi học về đều chạy ra chơi quanh quẩn nơi vỉa hè, chỗ Hương đặt xe bán bánh mì. Cho đến tối, nếu bánh mì ế bán không hết, Hương phát cho mấy đứa con, mỗi đứa một ổ, ăn cho đỡ tốn tiền chợ.
Hoán ngồi xuống ghế và khen:
- A, em cho ăn cơm ngon quá.
Hiền cười, lỗ mũi hĩnh ra, như thật nàng nấu mấy món ăn này vậy.
- Anh ăn thử có vừa miệng không, em mua ở quán cơm hộp chỗ cầu Sơn.
- Nhìn không cũng đủ ngon rồi.
Hiền ước ao:
- Để hôm nao em đi làm sớm về, em mua cá tươi, thịt tươi về nấu cho anh ăn, những món mà anh thích.
Hoán hỏi lại:
- Em biết món anh thích là món gì nào?
- Thì anh thường kể với em, món mẹ anh vẫn thường nấu cho anh ăn hồi nhỏ đó, cá rô chiên dòn, cá ngừ kho ngọt, cá chim kho rim, rau ghém, canh rau muống...Em biết hết mà.
- Vậy thì ngon quá, hôm nào nhe.
Hiền nói qua chuyện làm ăn:
- Dạ. À, anh, mai anh nhớ đến chỗ em làm lấy thùng cạt tông, thùng về nhiều lắm rồi, em đã xếp gọn lại cho anh, anh chỉ đến bỏ vào giỏ cần xé rồi chở đi đến chỗ ve chai, bán xong anh đi bỏ hàng luôn, cũng tiện.
Hoán thấy lòng mình tràn ngập niềm vui. Anh cảm ơn Hiền nhiều lắm. Hiền vẫn dành cho anh một tình yêu thương chân thật.  Lo cho anh từng miếng ăn, giấc ngủ. Điều mà anh thấy như mình đã mất từ lâu.
Anh nghĩ, mình phải đền đáp cho Hiền bằng mọi cách. Dù tấm lòng nàng là bồ tát, nhưng bên trong vẫn âm ỉ của một hỏa diệm sơn. Anh biết vậy, và tự hứa với lòng, sẽ cho em lần thứ hai...thật đạt.

Hãy đợi đấy!
 
 

 

Trần Yên Hòa

(từ: nghiệp kiếp)





                                   *
                                                          Mời tìm đọc:

                         Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                                                        Click vào:

 






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Chín 20189:06 SA(Xem: 26)
Hàn Lâm Viện Thụy Điển quyết định hoãn công bố giải Nobel Văn Chương 2018 do các điều tiếng về scandal liên quan đến giám khảo của giải thưởng danh giá này. Vì lý do ấy, các quản thủ thư viện Thụy Điển cùng thành viên trong cộng đồng văn hóa và nghệ thuật quyết định lập ra một giải thưởng khác, chỉ trong năm nay, để lấp vào khoảng trống của Nobel Văn Chương. Văn bản nói về lý do ra đời của Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương có đoạn: “Trong thời điểm mà giá trị nhân văn ngày càng bị thách thức, thì văn chương trở thành lực đối kháng với sự đàn áp và thái độ vô cảm. Bây giờ là thời điểm quan trọng hơn bao giờ hết giải thưởng văn chương cao quý nhất thế giới phải được trao tặng.” Các thành viên trong ban tổ chức Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương chọn ra danh sách 47 nhà văn trên toàn thế giới, rồi để công chúng bình chọn. Bốn người có số phiếu cao nhất sẽ được xét chọn bởi ban giám khảo, gồm giáo sư văn chương Lisbeth Larsson, nhà báo kiêm thủ thư Marianne Steinsaphir, nhà phê bình
16 Tháng Chín 20188:47 SA(Xem: 110)
Gọi là Chuyện ngõ nghèo cũng được, vì ấy là chuyện một thời bao cấp kéo dài ngu dốt và kỳ quặc cả nhiều năm sau chiến tranh, tự mình làm khó mình khiến cả xã hội suy kiệt nghèo khốn một cách vô lý, bởi vì có một hệ ý thức chủ trương con người mà giàu thì tất hư hỏng (bắt nguồn từ quan niệm “tư hữu là nguồn gốc của mọi tội ác” chăng?), nghèo mới là tốt, càng nghèo càng trong sạch, càng tốt, tốt nhất. Mọi ngóc ngách để tìm cách sống khá lên một chút đều bị ngăn cấm nghiêm ngặt, là có tội, thậm chí tội hình sự (“Vua Lốp”)… Để sống sót, cả xã hội đổ đi nuôi lợn. Không phải, không chỉ ở nông thôn, nông thôn nuôi lợn là thường rồi. Cả ở thành phố, thậm chí chủ yếu ở thành phố. Đủ thành phần và khắp các thành phố lớn nhỏ, tràn ngập thủ đô. Nhà nhà nuôi lợn, người người nuôi lợn. Từ anh xích lô, qua người công chức, đến nhà khoa học, nhà văn hóa, người nghệ sĩ… đều nuôi lợn tuốt! Ở nhà riêng, ở chung cư, ở nhà trệt, ở nhà cao tầng. Có chuồng và không cần chuồng. Lợn. Lợn sống chung với người,
11 Tháng Chín 20189:44 SA(Xem: 151)
Ông Thạc liếm đôi môi khô. Trong giọng nói của ông có một chút khó chịu, hoặc một chút ghen tị, hoặc cả hai. - Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có - tôi thấy cần nói nhận xét của mình, tôi không thích cái sự khó chịu vì người khác giàu ở ông Thạc - Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang — một cái BMW không còn mới. Đại khái thì cũng như mọi người khác, người bình thường, tôi thấy ông ấy không có gì đặc biệt, không vênh, cũng không hãnh. Nghe ông ấy kể thì đúng là trước khi về hưu ông ấy có làm việc ở một ngân hàng lớn. Phó giám đốc hay là chuyên viên gì đấy. - Giám đốc đấy, ông ạ. Làm đến chức ấy thằng chó nào mà không giàu cơ chứ? - ông Thạc đổi giọng ngậm ngùi. Ngẫm ra cái số con người ta thật lạ, lên voi xuống chó khôn lường, có giời biết trước. Tôi biết Hiếu lắm. Trước đây, hắn công tác cùng chỗ với tôi. Đến lượt tôi ngạc nhiên: - Tức là ông Hiếu còn ở bộ đội nữa? - Chứ sao. Cấp dưới của tôi. Nhưng hồi ông đến công tác ở chỗ tôi thì
05 Tháng Chín 20188:10 CH(Xem: 187)
Quyển sách sắp được ra mắt của nhà báo huyền thoại Bob Woodward có tựa đề: “Nỗi sợ: Trump trong Tòa Bạch Ốc” mô tả những hỗn loạn trong Nhà Trắng dưới sự điều hành của Tổng thống Donald Trump như là ‘Phố điên’ cùng nỗi lo sợ từ thuộc cấp của ông Trump rằng ông là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia khiến họ tìm đủ cách để không tuân lệnh. Từ Phòng Bầu dục cho đến Phòng Tình huống và nơi nghỉ ngơi của gia đình Tổng thống, nhà báo Woodward đã sử dụng các cuộc phỏng vấn kín với các cố vấn hàng đầu của ông Trump để cho khán giả cái nhìn chưa từng có về những gì xảy ra trong Nhà Trắng dưới cái nhìn của các cộng sự thân cận nhất của ông Trump, bao gồm những người tín cẩn, các quan chức trong nội các và giới chức cấp cao, trong cuốn sách dày 448 trang này. Cuốn sách đã thuật lại chi tiết những sự đối đầu và xung đột hàng ngày nhưng bức tranh do những quan chức chính quyền Trump vẽ ra cho thấy họ thấy tình hình rất đáng lo ngại. Cuốn sách kể lại những trợ lý cấp cao của ông Trump đã
03 Tháng Chín 20181:27 CH(Xem: 161)
Nhưng sau đó thì thắng lợi chỉ của “Bên thắng cuộc”. Ông Võ Văn Kiệt cũng biết: Ngày 30/4 có triệu người vui, cũng có triệu người buồn…Nhưng rồi, ông cũng không biết làm sao xử lý nổi vấn đề. Buồn chính vì “Bên thắng cuộc” coi bên thua cuộc là những “con người cũ” của “chế độ cũ”, không thể tin tưởng, không thể dùng được, thậm chí không thể sống được trong chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Họ phải được “giáo dục, cải tạo”, “gột rửa những tàn dư của chế độ cũ”; một lời nói, việc làm, một cử chỉ lỡ theo lối cũ, cũng có thể bị quy là “phản động”! Ai cũng sống trong sợ hãi, bất an. Trẻ em cũng chia theo thành phần: “con em diện chính sách” được ưu tiên; con “ngụy quân, ngụy quyền” bị phân biệt đối xử… Những cuộc cải tạo “kinh thiên động địa” diễn ra “đồng thời”: Nền kinh tế cũ phải cải tạo thành “nền kinh tế mới xã hội chủ nghĩa”; nền văn hóa cũ phải thành “Nền văn hóa mới”; con người cũ phải thành “con người mới xã hội chủ nghĩa”… Cơ cực nhất là mấy trăm ngàn “ngụy quân, ngụy quyền” cao cấp,