DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,076,220

Mạc Văn Trang - "Những mảnh rồng”, nỗi niềm đau thương của dân tộc

Monday, September 3, 20181:27 PM(View: 1023)
Mạc Văn Trang - "Những mảnh rồng”, nỗi niềm đau thương của dân tộc

"Những mảnh rồng” 
Nỗi niềm đau thương của dân tộc


 

 

Kết quả hình ảnh cho



Tôi được nhà văn Hoàng Minh Tường tặng cuốn tiểu thuyết mới xuất bản, 2018, 465 trang, khổ 22x18cm, với cái tên là lạ “Những mảnh rồng”. Lạ nữa là do nhà xuất bản Edition VIPEN tại CHLB Đức xuất bản, phát hành tại Đức và EU… Đọc vào mươi trang thì hiểu rằng cuốn tiểu thuyết không thể xuất bản được ở trong nước, nơi “bên thắng cuộc” ngự trị; cũng không thể xuất bản tại Hoa Kỳ, nơi đông người Việt “thua cuộc” tị nạn…

Cuốn “Những mảnh rồng” cũng như số phận các nhân vật chính của nó, già, trẻ, nam, nữ có cả, muốn vượt lên trên nỗi đau chia rẽ dân tộc, khép lại đau thương, hận thù quá khứ, để cùng nhau hợp lực xây dựng một nước Việt mới, hùng cường, văn minh… Nhưng những tấm lòng yêu nước sáng trong ấy, bị truy sát giữa hai làn đạn, bị quy chụp, nghi ngờ, nhục mạ… từ cả hai phía! Thật là bi kịch của dân tộc, của giống nòi!

Ngay vào đầu câu chuyện, tác giả đã kể về một ngày 30 tháng 4 ở Little Sài Gòn, quận Cam, cộng đồng người Việt kỷ niệm ngày “quốc hận”; sau mit tinh nghe những lời kêu gọi “phục quốc”, đoàn người giương cờ vàng ba sọc đỏ diễu hành… Giữa lúc đó hai sinh viên gốc Việt: Nguyễn Hải Hành và David Bùi, giương hai lá cờ do các anh sáng tạo, gồm một giải đỏ bên trên, giải xanh ở giữa, có ngôi sao và giải vàng ở dưới, thể hiện sự kết hợp ba lá cờ xuất hiện ở Việt Nam trước 1975, hòa làm một. Hai sinh viên hăm hở chạy ra, vẫy cờ và hô vang lời kêu gọi “Việt Nam là một”, “Việt Nam thống nhất muôn năm”! Nhưng hai anh bị đám người “phục quốc” la hét là “Việt cộng” và đánh cho tơi tả. May có cô sinh viên Ngô Đoan Diễm cùng nhà báo Vũ Bảo Huy kịp gọi cảnh sát đến giải nguy, đưa vào bệnh viện cấp cứu… Những người thân, bạn bè của hai nạn nhân gặp nhau, rồi từ đó cứ móc nối, mở rộng mãi câu chuyện về số phận những người Việt tha hương với bao cảnh ngộ éo le, bi thương… Họ đều nặng lòng nhớ về quê hương đất nước, nhưng với những nỗi niềm, ẩn ức riêng tư, thăm thẳm…

Câu chuyện gợi cho ta thấy, dân tộc Việt, dòng giống “Tiên Rồng” bị xé nát ra thành “Những mảnh rồng” để cắn xé nhau, nồi da xáo thịt lẫn nhau và làm suy yếu giống nòi… Tất cả, qua hồi tưởng lịch sử từ “Hận sông Gianh” đến những số phận của các nhân vật qua từng cuộc chiến, từng cảnh ngộ lịch sử, làm xót xa, nhức nhối lòng người…

Hoàng Minh Tường với vốn sống phong phú lạ thường, chuyện trong nước đã đành, chuyện xảy ra ở Mỹ, ở Ba lan, Nga, Tiệp, Đức… cứ như anh đã và đang sống ở những nơi này cùng các nhân vật trong tiểu thuyết. nhờ vậy, anh bao quát được “Những mảnh rồng” sống động thời hiện đại, hướng hy vọng đến tương lại…

Thông điệp của cuốn sách xem ra quá “sâu nặng”, nhưng được chuyển tải qua các nhân vật rất sinh động. Đặc biệt qua những mối tình đầy éo le, lãng mạn, trớ trêu, gợi lên bao đau thương, cũng từ cảnh ngộ của dân tộc, dính mắc vào thân phận mỗi con người…

Đọc cuốn sách này vào mấy buổi tối, tôi thường thao thức mãi, nhớ câu thơ của Chế Lan Viên:

“Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc

Sắc tài sao mà lắm truân chuyên”…

Đất nước mình đẹp quá. Người mình thật dễ thương. Dân mình yêu nước, yêu quê hương ít ai bằng; đoàn kết chống ngoại xâm thì đáng kính phục… Vậy mà vì đâu nên nỗi?

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đất nước được hòa bình, thống nhất, non sông quy về một mối… Ông Lê Duẩn nói một câu nức lòng mọi người Việt: Thắng lợi này là thắng lợi của toàn thể nhân dân Việt Nam, chỉ có đế quốc Mỹ là thua!

Nhưng sau đó thì thắng lợi chỉ của “Bên thắng cuộc”. Ông Võ Văn Kiệt cũng biết: Ngày 30/4 có triệu người vui, cũng có triệu người buồn…Nhưng rồi, ông cũng không biết làm sao xử lý nổi vấn đề. Buồn chính vì “Bên thắng cuộc” coi bên thua cuộc là những “con người cũ” của “chế độ cũ”, không thể tin tưởng, không thể dùng được, thậm chí không thể sống được trong chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Họ phải được “giáo dục, cải tạo”, “gột rửa những tàn dư của chế độ cũ”; một lời nói, việc làm, một cử chỉ lỡ theo lối cũ, cũng có thể bị quy là “phản động”! Ai cũng sống trong sợ hãi, bất an. Trẻ em cũng chia theo thành phần: “con em diện chính sách” được ưu tiên; con “ngụy quân, ngụy quyền” bị phân biệt đối xử… Những cuộc cải tạo “kinh thiên động địa” diễn ra “đồng thời”: Nền kinh tế cũ phải cải tạo thành “nền kinh tế mới xã hội chủ nghĩa”; nền văn hóa cũ phải thành “Nền văn hóa mới”; con người cũ phải thành “con người mới xã hội chủ nghĩa”… Cơ cực nhất là mấy trăm ngàn “ngụy quân, ngụy quyền” cao cấp, bị đi tập trung “học tập cải tạo”, thường gia đình tan nát. Trong đó hàng trăm ngàn người đã chết trong các trại cải tạo.

Trong bối cảnh như vậy, hàng triệu người đã vô vọng, âm thầm bỏ nước ra đi. Một cuộc di dân khủng khiếp chưa từng có diễn ra ngay cuối thế kỷ XX. Những con người đói, khát, chen chúc trên những chiếc thuyền rách nát, lênh đênh giữa mịt mù biển khơi, phó mặc cho bão tố và hải tặc cướp, hiếp, giết…

Chính nhân vật Nguyễn Hải Hành là “Thuyền nhân” (boat people), sinh ra giữa cái đêm kinh hoàng, bọn hải tặc lên thuyền cướp, bắn chết ba anh và chị gái anh trong lúc bảo vệ mẹ anh đang mang thai anh sắp đến ngày sinh… Hải Hành ra đời và lớn lên như vậy, mà anh chỉ một lòng yêu đất nước, muốn hiến dâng trọn đời mình cho quê hương, nhưng chính quyền vẫn không chấp nhận dự án làm phim “Thuyền Nhân” của anh. Mối tình trong sáng tuyệt vời của anh với Đoan Diễm, con một quan chức cao cấp cũng bị ngăn cấm, đọa đày...

Trong truyện có nói đến, năm 1979, khi các “ngụy quân cao cấp” ở Trại tù T43 tại Hà Giang nghe tin quân Trung Cộng tràn sang biên giới đánh ta, họ đã viết đơn tập thể, ký bằng máu, xin ra chiến đấu diệt giặc Tàu… Nhưng không những không được tin dùng, mà còn bị chuyển trại, phân tán về nơi xa xôi, hẻo lánh…

“Những mảnh rồng” xét đến cùng, thực chất là cuốn tiểu thuyết của nỗi đau dân tộc, tự ta không vượt qua được sự chia rẽ “ý thức hệ”, hằn thù, định kiến… Những xiềng xích của quá khứ vẫn giam hãm người Việt trong vòng u tối, và cứ làm khổ nhau mãi, làm dân tộc này chia rẽ và suy yếu đi mãi.

Gấp cuốn “Những mảnh rồng” lại, tôi chợt nhớ bài viết “Thư ký của Thiên thần” của bác sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa. Trong đó có kể về bác sĩ Nguyễn Hữu Thới. Một bác sĩ Nhi khoa tài giỏi, hiến cả đời mình cho chăm sóc sức khỏe đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Ông mừng, được bổ sung bác sĩ Thoa, còn trẻ lên giúp việc. Ông hết lòng truyền kinh nghiệm cho cô. Nhưng ông bị điều về Trại lao… Bác sĩ Kim Thoa viết: “Tôi nhớ có lần ông đã tâm sự:…“Mình con địa chủ, học trường Tây, lại là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, hơn thế nữa là trí thức. Địa chủ cộng với Tây, cộng với sĩ quan ngụy quân, cộng với trí thức, cộng với Ê Đê, cộng với giải phóng, cộng với Xã Hội Chủ Nghĩa để trở thành người Việt Nam. Làm người Việt Nam mà không đói khát, không đau thương, không khổ nhục, chưa thực sự là người Việt Nam”. Ôi, cái công thức, cái con đường gì mà đắng cay đến thế. Có đi hết những chặng đường như thế mới là người Việt Nam sao? Đối với riêng tôi, những lời của Nguyễn Hữu Thới là một liệu pháp giúp tôi vượt qua được những bi quan khiếp sợ trong những ngày đối đầu với bệnh tật và môi trường sống xã hội chủ nghĩa tại Buôn Mê Thuột”..
(https://www.diendan.org/sang-tac/thu-ky-cua-thien-than).


Giờ đây, tôi dám nói rằng, chẳng có người Việt nào thực sự hạnh phúc, nếu biết tự trọng dân tộc và còn nghĩ nghĩ đến dân, đến nước. Những xiềng xích của quá khứ và cách nghĩ về lối thoát cho hiện trạng xã hội đã chia rẽ, làm đau khổ mỗi chúng ta, những con người còn tấm lòng yêu nước thương nòi.




21/8/2018

Mạc Văn Trang
(từ: VV)




Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, May 25, 20198:01 AM(View: 415)
Tô Thùy Yên đến với văn học trên “Cánh đồng Con ngựa Chuyến tàu”, bài thơ làm năm 1956, đăng trên báo Sáng Tạo thời đó và được độc giả hoan nghênh ngay, nhất là trong giới thanh niên, học sinh. Thời ấy sinh viên chưa nhiều, quần chúng văn chương còn thưa thớt, một thế hệ độc giả mới đang chớm thành hình. Với thời gian nhìn lại, bài thơ có thể xem là một sự kiện văn học vì lời thơ tân kỳ, ý thơ mới lạ, không giống một bài thơ nào khác trước kia mà đã được người đọc không chuyên môn văn học yêu thích ngay. Chuyện hiếm, vì công chúng Việt Nam nói chung là thủ cựu. Chuyện đẹp, vì bài thơ của tác giả 18 tuổi đi thẳng đến độc giả 18 tuổi. Ngày nay Tô Thùy Yên là tác giả danh tiếng. Bài thơ thanh xuân được những lớp phù sa bồi thêm nhiều ý nghĩa mới. Trên cánh đồng hoang thuần một màu, Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi Tàu chạy mau mà qua rất lâu. Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau. Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu. (…) Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn. Ngựa gục đầu,
Wednesday, May 22, 20199:26 PM(View: 415)
Trong thời kỳ hai mươi năm của thơ miền Nam, và giai đoạn kéo dài của nó, Tô Thùy Yên giữ một vị trí rất đặc biệt (*). Đó là người khởi đi từ giai đoạn khai phóng đầu tiên, những năm 60, với sự nổi loạn chống ảnh hưởng của văn học tiền chiến. Nhà thơ của chiến tranh Việt Nam, của những suy nghiệm triết học, nhà thơ của những ngày tù tội cải tạo, và cuối cùng của giai đoạn lưu vong. Đời sống của ông đầy biến động. Tô Thùy Yên lúc nào cũng chăm chú sống cuộc đời mình, để tâm hồn rung lên theo nhịp điệu của thời thế. Nhưng đó không phải là thơ thời sự hay thơ trữ tình thế sự. Đó là một loại thơ trữ tình thực sự, tuy vậy mang dấu ấn lịch sử. Trong khi tuân thủ nghiêm ngặt một số quy ước về vần điệu, sở trường nghiêng về thơ có vần hơn là về thơ tự do, Tô Thùy Yên vẫn sở hữu một ngôn ngữ vừa truyền thống vừa mới lạ. Sự chọn chữ, cách thiết lập câu thơ, âm điệu và từ vựng trong từng bài thơ, tạo nên phong cách riêng, một phong cách của tài hoa dụng ngữ. Thơ Tô Thùy Yên có ba giai đoạn:
Monday, May 20, 20199:44 AM(View: 556)
Từ ngày hai vợ chồng về hưu, thì giờ như nhiều ra. Mấy đứa con gắn cable, mua TV đời mới, màn ảnh rộng, gắn trên tường. Thường ngày, mỗi buổi sáng, sau khi đi bộ chừng nửa giờ quanh xóm, thầy bắt đầu theo dõi thị trường chứng khoán, mua bán cổ phần các công ty. Thầy ăn cũng nhiều, mà thua cũng lắm. Thầy coi đây như một thú vui, cũng là cách thử thách sự nhạy bén của trí tuệ. Thầy vẫn thường tự hào sau hơn hai mươi năm trong thị trường, thầy về hưu với tình trạng tài chánh tương đối khá, một phần nhờ vào đầu tư. Bà Hiên không hiểu nhiều về cái gì gọi là đầu tư, tiền kiếm được sau bao năm lăn lộn trong nghề nail, bà nhốt hết vào mấy cái CD và trương mục tiết kiệm của ngân hàng, tiền lời dư cho bà mua mấy băng hay dĩa phim truyện bà thích, hay thỉnh thoảng về Việt Nam thăm bạn bè và bà con. Thầy cũng chẳng phản đối gì việc làm của bà, vì thầy cho rằng, bà có quyền hưởng thụ thành quả công việc của bà sau hơn hai mươi năm nơi xứ người. Công bình mà nói, công sức của bà nhiều hơn của thầy,
Friday, May 17, 20196:27 PM(View: 248)
Những bản giao hưởng tuyệt vời của Berlioz, Schuber, Mendelssohn, Tchaikovsky, Dvorak… đã làm thăng hoa thể loại âm nhạc nầy. Sở dĩ thể loại nầy trước đây được “gán ghép” là nhạc bác học, nhạc hàn lâm, nhạc quý tộc vì thời đó khi trình diễn chỉ hạn chế cho số người quyến quý và giàu có. Ở VN trước đây và trước năm 1975 ở miền Nam VN quan niệm rằng thể loại nầy thuộc âm nhạc bác học (hàn lâm) nhưng thời gian gần đây ở trong nước lại phủ nhận. Nếu tranh cãi thì rất dài dòng văn tự và coi như “nói chuyện với đầu gối” nen miễn bàn! Thưởng thức nhạc cổ điến Tây phương cũng đòi hỏi thêm phần kiến thức về nhạc sử, tiểu sử nhà soạn nhạc mới cảm nhận được trường hợp và môi trường sáng tác. Bây giờ thì loại “trưởng giả học làm sang” tham dự các cuộc trình diễn âm nhạc cổ điển như “đàn gãy tau trâu” cũng nhan nhản! B: Âm nhạc dân gian, trong một bài viết ghi nhận: “Đây là một nguồn cảm hứng lớn cho nhiều nhà soạn nhạc khác. Tại nước Anh, Vaughan Williams trộn lẫn những âm thanh của những bài
Wednesday, May 15, 20197:45 PM(View: 249)
Họ ở trước mặt tôi. Hẳn nhiên là như vậy. Họ có mười người, năm mươi hay năm trăm người, tôi không biết nhưng nhất định phải hơn một người. Tôi đã cảm nhận được điều đó qua sức nóng hừng hực của bầu không khí chung quanh bằng cảm xúc của mình ngay khi được tên lính canh dẫn ra quảng trường này. Bóng tối ở đây cũng dày đặc như những lần tôi bị lấy khẩu cung trong căn phòng nhỏ nóng bức, nhung nhúc chuột, dán. Hôm nay tôi được dẫn theo một lối đi khác với lối đi mọi ngày. Nó dường như dài hơn, quanh co hơn. Có đoạn tôi cảm tưởng như đi qua một trại nuôi súc vật, một con đường gập gềnh nhiều dốc rồi đến một bãi đất trống thường làm nơi họp chợ, một công viên nhiều hương thơm hoa trái trong tiếng nước chảy róc rách của một cái bồn nước. Tôi chưa từng đặt chân đến con đường này bao giờ mặc dù thành bang này không hề to lớn. Họ đưa tôi đi đâu? Phóng thích hay hành quyết? Tôi chẳng hề nghĩ nhiều đến việc này trong suốt thời gian bị giam cầm, nhưng bây giờ đối mặt với tình huống khác thường