DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,006,279

Trần Doãn Nho - “Tiểu luận (của/về) Phùng Nguyễn”

Tuesday, November 13, 201811:19 AM(View: 558)
Trần Doãn Nho - “Tiểu luận (của/về) Phùng Nguyễn”
“Tiểu luận (của/về) Phùng Nguyễn”

 

clip_image002

Nhà văn Phùng Nguyễn
(Hình TDN 2013)




Ba năm sau khi nhà văn Phùng Nguyễn qua đời (11/2015), Tạp Chí Da Màu vừa cho xuất bản một tác phẩm mới của anh, “Tiểu luận (của/về) Phùng Nguyễn”. Với những bài tiểu luận bàn về nhiều đề tài khác nhau vừa văn học vừa chính trị và vừa xã hội, thay vì là “nhà văn”, tác phẩm cho chúng ta thấy một Phùng Nguyễn khác, một “nhà chính luận” sắc sảo. Tập tiểu luận được chia làm hai phần: phần I là những tiểu luận “do Phùng Nguyễn viết”, chiếm 2/3 cuốn sách và phần II là những tiểu luận “viết về văn chương Phùng Nguyễn” của một số các cây bút hải ngoại. Ngoài ra, còn có phần cuối sách, ghi lại những đoạn ngắn trích từ các bài viết của các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo và bằng hữu tưởng niệm Phùng Nguyễn sau cái chết đột ngột của anh.

Phần Một: gồm 17 tiểu luận, hầu hết đều đã được đăng tải trên Da Màu, tờ tạp chí mạng mà Phùng Nguyễn là một trong những người sáng lập và điều hành chính cho đến lúc qua đời. Bằng một giọng văn sắc bén, anh phân tích, nhận định và đặc biệt, tranh cãi về nhiều đề tài khác nhau, xuất phát từ những sự kiện văn học hay sự kiện xã hội nóng hổi đang diễn ra ở bên ngoài hay trong báo chí, từ cuộc cách mạng sách điện tử (ebooks) cho đến văn học Miền Nam và văn học Hải Ngoại, từ thơ cho đến văn và chuyện dịch thuât, từ những khuôn mặt nổi tiếng như Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Võ Phiến cho đến cuộc triển lãm do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VALAA) tổ chức ở quận Cam, vân vân. Ở đề tài nào, Phùng Nguyễn cũng chứng tỏ anh là một cây bút lý luận chuyên nghiệp, với một cái nhìn khách quan, khi bênh vực cũng như khi phê phán một quan điểm hay một thái độ nào đó. Tuy luôn luôn đứng trên lập trường của một người ủng hộ chế độ VNCH (mà anh đã từng phục vụ) và trên lập trường của một nhà văn hải ngoại, nhưng phải nói là anh rất sòng phẳng khi trưng dẫn các tài liệu và sự kiện để chứng minh cho các luận điểm của mình, dù là ở phía “địch” hay phía “ta”. Khi viết những bài này, rõ ràng là “nhà chính luận” Phùng Nguyễn đã hoàn toàn tạm gác “nhà văn” Phùng Nguyễn sang một bên, để luôn giữ “tay gõ” của mình không bị những cảm xúc đời thường chi phối.

Đề cập đến sức sống của văn học miền Nam sau ngày Cộng Sản chiến thắng, anh viết:

“…nhà cầm quyền Cộng sản đã không hoàn toàn thành công trong ý đồ ngăn chặn sự lan tỏa của văn hóa miền Nam, đặc biệt là âm nhạc và văn chương. Việc “những cuốn tiểu thuyết, những tập thơ mang nội dung phản động hoặc đồi trụy vẫn được chuyền tay nhau, không những ở các tỉnh miền Nam mà ngay cả ở một số thành phố miền Bắc” cho thấy trong số chiến lợi phẩm mang về từ miền Nam trong những ngày tháng đầu tiên sau chiến tranh không chỉ có đài, đồng hồ không người lái, và xe đạp mà còn có một món hàng quý hiếm khác, đó là những tác phẩm của nền văn chương đa dạng và dựa trên nền tảng tự do sáng tạo của miền Nam. Tôi tin chắc các độc giả hiếm hoi và may mắn ở phía Bắc đã nhanh chóng làm một cuộc so sánh văn chương giữa hai miền dựa trên những trải nghiệm mới mẻ họ có được sau khi đọc một số tác phẩm của các ngòi bút miền Nam. Điều đáng tiếc là họ phải đọc trong lén lút, và nhận định của họ có nhiều phần đã được giữ lại cho chính mình!

Ở miền Nam, sau khi các khu chợ trời mọc ra trên vỉa hè các con đường nằm gần trung tâm Sài gòn như Tôn Thất Thuyết, Huỳnh Thúc Kháng,v.v.. một thời gian, các sách báo bị cấm đoán của miền Nam bắt đầu xuất hiện trở lại một cách rải rác dưới dạng ngụy trang. Nằm khép nép bên dưới các tạp chí tiếng Anh tiếng Pháp vô hại có khi là một tập truyện xuất bản trước tháng 4/75, quăn queo, bìa trước bìa sau bị lột sạch. Nhưng bất kể hình dạng thảm hại của nó, một tác phẩm được tìm đọc là một tác phẩm còn sống.”

(Văn Học Miền Nam 1954-1975: đường về gian nan)


Phần Hai: gồm có những nhận định và phân tích về văn chương Phùng Nguyễn của sáu cây bút hải ngoại: Đinh Từ Bích Thúy, Đặng Thơ Thơ, Nguyễn Vy Khanh, Bùi Vĩnh Phúc, Trần Hữu Thục và Khánh Phương. Xin dẫn sau đây một vài trích đoạn từ các bài viết nói trên để độc giả có thể có một cái nhìn khái quát về sự nghiệp của anh:

– “Nói chung, dù băt đầu sự nghiệp văn chương khá muộn, nhưng so với một số cây bút khác cùng độ tuổi, cách viết của Phùng Nguyễn khá tân kỳ và sắc sảo.” (Trần Hữu Thục)

– “Trong những truyện ngắn của anh, Phùng Nguyễn đã cho thấy những khát vọng, những tìm về và những khắc khoải của mình trước cuộc đời đang mở ra trước mắt, cùng với những kỷ niệm, những vết cắt, những chấn động của những vết thương vẫn còn đang mở miệng. Tất cả những khổ đau day dứt đó đưa đến những câu hỏi dầy đặc về đời sống, về ý nghĩa của nó, về hy vọng, về niềm tin. Từ những ưu tư khắc khoải ấy, Phùng có nhiều khi tìm về với kỷ niệm, qua một số truyện ngắn pha dạng hồi ức của anh.” (Bùi Vĩnh Phúc)

– “Ngoại trừ một số truyện ngắn mà người đọc nhận thấy được viết cũng với chủ đề và cấu tứ tương tự nhưng có lẽ hơi thiếu lửa, các truyện ngắn của Phùng Nguyễn cho thấy bút lực mạnh mẽ trong việc khai phá những góc nhìn vào tâm tưởng và các vấn đề bản thể của con người, từ mỗi “bài tập” nhỏ cho đến những công trình của tâm huyết và sáng tạo nghệ thuật.” (Khánh Phương)

– “Tôi nghĩ Phùng Nguyễn khó khăn với chính anh, và những đồng nghiệp viết văn của anh, vì anh tôn trọng trách nhiệm sáng tạo, độc lập và quân bình của nhà văn. Trách nhiệm này chính là “đạo luật vàng” của một người viết. Cho dù anh có thể chỉ trích những hành động lạm dụng trách nhiệm của người khác, anh luôn luôn tôn trọng quyền tự do phát biểu của họ.” (Đinh Từ Bích Thúy)

– “…với Phùng Nguyễn, siêu hư cấu (metafiction) là một thể loại có khả năng giúp anh thương lượng với đời sống, và với văn chương, cùng lúc. Đây là một giả định và tôi sẽ tìm cách chứng minh trong bài viết này. Trước tiên, viết là cách giúp Phùng Nguyễn giữ thăng bằng với đời sống, như anh đã giải thích lý do tìm đến chuyện viết: “Ở vào một thời điểm không lấy gì làm vui vẻ trong đời sống của mình, tôi cho rằng mình cần phải làm một điều gì đó, bất cứ điều gì, bên cạnh chuyện sinh nhai nhàm chán mà tôi vẫn phải làm hàng ngày.”  Kế đó, siêu hư cấu là công cụ hữu hiệu để giữ anh thăng bằng với những giấc mơ.(…) Phùng Nguyễn luôn băn khoăn về vai trò người viết, về sự có mặt của tác giả trong tác phẩm, về một nhân vật viết văn, một tình huống mang tính nguỵ tạo, hoặc truyện trong truyện, truyện về truyện, truyện mang trong nó hai luồng tự sự khác nhau.” (Đặng Thơ Thơ)

Phần cuối cùng: gồm 34 trích đoạn của các bạn văn trong và ngoài nước. Xin được trích ra đây một đoạn thơ ngắn tiêu biểu của một nhà văn trong nước, Nguyễn Đạt, gửi ra tưởng niệm Phùng Nguyễn:

Tôi còn đây. Trong xà-lim-quê-hương
Tưởng niệm anh. Thắp một nén nhang
Là thắp cho tôi. Thắp cho tất cả
Điêu linh thấm đẫm đã vô vàn.

Nhà văn Phùng Nguyễn sinh năm 1950 ở Quảng Nam. Định cư ở Hoa Kỳ từ tháng 5 năm 1984, tốt nghiệp Cử Nhân Quản Trị Kinh Doanh và Tin Học và Thạc sĩ Quản Trị Kinh Doanh (MBA) tại California State University. Các sáng tác văn học và tiểu luận của anh xuất hiện trong các tạp chí giấy hải ngoại như Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Việt, Thế Kỷ 21 và các tạp chí mạng như Talawas, Tiền Vệ, Da Màu. Anh là chủ bút tạp chí Hợp Lưu (2002-2003) và là đồng sáng lập tạp chí văn chương mạng Da Màu (tháng 8 năm 2006) cùng với nhà văn Đặng Thơ Thơ & nhà thơ Đỗ Lê Anhdao. Ngoài ra, anh cũng là người sáng lập và xây dựng “Thư viện Kệ Sách eBook” tháng 5, 2008. Trong mấy tháng cuối đời, anh phụ trách “Blog Phùng Nguyễn: Rừng và Cây” trên Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) chương trình tiếng Việt. Đã xuất bản hai tập truyện ngắn, Tháp Ký Ức (1988) và Đêm Oakland Và Những Truyện Khác (2001).




Trần Doãn Nho
(từ: da mau.org)



*

Mời tìm đọc:

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
Click vào:

(từ: Sấp Ngửa)

Amazon Mẫu Hệ



*


Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 

 3 con gai TYH3 con gái của TYH, từ trái, Trần Yên Đông Nghi , Trần Yên Thư và Trần Yên Quế Chi, (Ô Mai - Cindy Y. Trần) áo trắng




Hòa 70
TYH và ba cô con gái tại Acacia Pharmacy









Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, April 17, 20197:09 PM(View: 141)
Mỗi người dân Việt trong tâm thức đều mang niềm kiêu hãnh là con cháu Tiên-Rồng. Bởi lẽ theo truyền thuyết, hai linh vật siêu nhiên này là vật tổ của Việt tộc - Lạc Long Quân và Âu Cơ - đã từ lâu hiện hữu trong tâm khảm của chúng ta như thủy tổ của giống nòi. Một cách cụ thể, hai linh vật này đã hoá thân thành tổ phụ người Việt, mang thuộc tính cao qúy của giống Rồng-Tiên, có phép nhiệm màu có thể bay bổng, lặn sâu, làm mưa, làm gió hay “hô phong hoán vũ,” phò trợ thị tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách của thời tiết khắc nghiệt của nghề nông và sự xâm lấn, hủy diệt của các thị tộc khác. Hai Linh vật này xuất hiện trong thần thoại dựng nước, sản sinh ra thủy tổ người Việt dưới hình thức một bọc trăm trứng của loài chim hoá thân. Đó chính là tiền thân của Họ Hồng Bàng, với 18 đời vua Hùng dựng nước. Khái niệm vật tổ Tiên-Rồng hoá thân dưới dạng Giao long, Lạc Hồng, Phượng Hoàng... là những sinh vật cụ thể hoặc siêu nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh hoặc sinh hoạt đời
Monday, April 15, 20197:53 AM(View: 132)
Theo bản tin Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 09/4/2019: Quy hoạch báo chí ‘vi hiến’, sẽ ‘làm thất nghiệp’ hàng nghìn nhà báo? Theo tìm hiểu của VOA, tính đến giữa năm 2018, Việt Nam có hơn 1.100 cơ quan báo chí các loại, gồm 857 báo và tạp chí in, 195 trang báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương...” Báo Chí (Press) đã có từ xa xưa, kế đến là Truyền Thanh (Broadcasting) và Truyền Hình (Television - TV) thường gọi là Truyền Thông (Media), sau nầy có thêm Internet nên gọi là Truyền Thông Đại Chúng (Communication). Theo Wikipedia “Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet. Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là "seven mass media" (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến. Nó bao gồm: In ấn từ cuối thế kỷ 15. Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19. Điện ảnh từ khoảng năm 1900. Phát thanh từ
Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 196)
Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam. Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*) Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn. thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa. Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập! Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi. Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ. Có đôi ba người (cũng làm thơ) Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa. (Và thơ tình của những nhà thơ khác) Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng. Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”. Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương: “…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?” Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, mỗi người làm thơ. Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình. Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”. Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm. Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú. Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”.
Sunday, April 7, 20198:04 AM(View: 313)
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, Hè năm 1971, tôi rời Nha trang để theo khọc Khóa 3 Trung Cấp CTCT ở quân trường cũ tại Đà Lạt. Sau khóa học, tôi về phục vụ tại Đà Nẵng và sau đó trở lại quân trường nầy cho đến ngày mất nước. Trong quãng thời gian đó, tôi thường về Nha Trang, nơi chốn tôi “dừng bước giang hồ” khi lập gia đình. “Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đã
Wednesday, April 3, 20197:05 AM(View: 307)
Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (2009)