DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,299,625

Du Tử Lê - ‘Mê Hồn Ca,’ hạt ngọc thi ca mang tên Đinh Hùng

Monday, November 26, 201811:48 AM(View: 1419)
Du Tử Lê - ‘Mê Hồn Ca,’ hạt ngọc thi ca mang tên Đinh Hùng

‘Mê Hồn Ca,’ hạt ngọc thi ca
mang tên Đinh Hùng

 

blank
“Nếu vườn hoa thi ca Việt Nam thiếu vắng một Đinh Hùng, thiếu vắng một ‘Mê Hồn Ca’ thì thiệt thòi của đời sống tinh thần chúng ta sẽ là một thiệt thòi rất lớn.” (Hình: Nguyễn Việt/Cafe Văn Nghệ)



Tôi nghĩ, nếu ai kia
bảo Đinh Hùng đã lẩn trốn vào tháp ngà để tìm lấy cho mình những phút giây thần tiên, huy hoàng hoặc để đắm chìm linh hồn trong niềm hoan lạc hưởng thụ; trốn chạy những đau thương đổ vỡ của cuộc đời thì e có phần thiên lệch, bất công.

Bởi, nếu chúng ta cảm thông được tiếng thơ của một Chế Lan Viên qua “Điêu Tàn” – một khoảng trời thâm u, thê thảm, một huyệt mộ vùi sâu cơ đồ của cả một dân tộc – ai dám bảo Chế Lan Viên lánh xa sự thực phũ phàng để tìm về cõi mộng hầu thỏa mãn nhưng khát thèm êm ái, ve vuốt tâm hồn? Trái lại, Chế Lan Viên đã đau khổ gấp trăm ngàn lần cái đau khổ mà thường nhân phải gánh chịu, trong thực thể xã hội đương thời!

Cũng vậy, Đinh Hùng lẩn trốn thực trạng đau thương của thời thế bằng cách trầm mình trong thiên đường tình ái. Nhưng chính tại cõi trú thanh sắc nặng phần lãng mạn này, nhà thơ đã đau khổ thêm một lần nữa. Thế giới phấn hương, hoa bướm chẳng những không giúp nhà thơ quên bớt dằn vặt, vò xé mà nó còn tạo thêm hoàn cảnh để thi nhân nhìn rõ đau thương, đày đọa.

Tôi muốn nói ở mảnh đất đắm đuối truy hoan kia, Đinh Hùng càng thấu cảm cái mệnh số cô đơn, cái ta lạc loài, hoang liêu thêm hơn rất nhiều:



“ôi giữa trời thơ, những đêm hiền hậu
con chim nào kêu vang tiếng trần ai
mấy thu xanh hờn thác lẻ u hoài
thời xa vắng mờ hương lòng trái đất
trong tay nàng ta ngả mình ngây ngất
nghe rõ ràng trên thịt ấm da xuân
ngực dâng cao hơi thở đã mau dần
mùi cỏ lá bỗng thoảng hồn thương nhớ
ta ngẩng lên mặt nàng buồn muôn thuở
ngắm hoa sao lay động dưới khe nguồn
chung mối sầu thơ thẩn với trăng suông
bên sườn núi có con hươu vàng điệp”



Loay hoay lặn ngụp trong mối sầu cao ngút, trong khát vọng vô biên không đường giải thoát, Đinh Hùng quay ra thương tiếc vẩn vơ, than trách số mệnh. Nhưng từ bước chân vô vọng rạc rời trong thế giới tình yêu, ông lại tạo dựng cho mình một niềm tin mới. Một cõi ẩn trú mới. Đó là thế giới huyền bí. Thế giới linh thiêng của những hồn oan thác, và những hoang sơ từ vạn kỷ:

“quên tình ái ta phá tan cung điện
đi ngoài sao thầm lặng khóc trời xanh
xa mắt em xa ánh sáng kinh thành”


Chia tay người tình ở đây không có nghĩa tác giả đã rời bỏ được những khao khát, đam mê tình ái, hương phấn yêu đương, để tìm về cõi tâm linh, vô hình, vô ảnh. Cái cõi giới chỉ cho ông những câu hỏi, không câu trả lời:

“em mộng về đâu?
em mất về đâu?
từng đêm tôi nguyện tôi cầu
đây màu hương khó là màu mắt xưa
em đã về chưa?
em sắp về chưa?
trăng sao tắt ngọn đèn mờ
ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn”
(Gửi Người Dưới Mộ)


Tới đây, tiếng thơ của thi sĩ có phần mong manh, nhẹ nhàng thanh thản hơn. Nó không còn là âm hưởng của những cuồng vọng đắm say, điên cuồng. Nó cũng không còn là những giận hờn, những trách móc, oán than của mặc cảm bị ruồng rẫy phản bội nữa. Nó là những lời tâm sự ngỏ bày, những kể lể, những cầu xin thể hiện lòng ngưỡng mộ, thanh khiết:

“Hỡi hồn tuyết trinh
Hỡi người tuyết trinh
Mê em ta đã thoát thân hình
Nhập hồn cây cỏ đa tình mỗi đêm”
(Gởi Người Dưới Mộ)

Nếu thơ là tiếng nói của đam mê cùng cực, thì thi sĩ Đinh Hùng đã đạt được tới nguồn cội. Suốt thi tập, với 40 bài là những bản ngợi ca tình yêu cuồng nhiệt. Những điệp khúc ái ân đắm lòng, cao độ của một tâm hồn lạc lõng, ngơ ngác giữa chợ người, muốn tìm về núi rừng, nguyên thủy.

Ngay với những đam mê không tưởng về một thế giới hư vô thần kỳ, người ta cũng bắt gặp một Đinh Hùng tha thiết, mê man với phong cách độc đáo. Tựa trong ông đã sẵn chứa một phần vũ trụ hoang sơ, rừng rú. Trong thế giới mê hoặc, mờ ảo của một ý thức, trộn lẫn cùng những trực cảm, và những ảo giác hư huyễn của tiền kiếp nào đã qua đi, nhờ thế mà tác giả đã giữ được riêng cho mình một niềm tin, một nguồn sáng riêng soi rực tâm thức.

“Trận cười tan hợp núi sông
Cơn mê kỳ thú lạ lùng cỏ hoa
Hý trường đổi lớp phong ba
Mượn tay ngụy tạo xóa nhòa biển dâu”


Với niềm tin tưởng mãnh liệt đó, thi sĩ đi từ cuộc sống phồn tạp tới cõi siêu thoát, bằng những bước chân kiêu ngạo, khinh bạc. Cái kiêu bạc tất nhiên của một kẻ tự tách mình khỏi một thực tại đời sống bon chen, biển lận. Sự vượt lên, rời xa, để xây dựng cho mình một thế giới khác, thế giới nằm ngoài tầm trí tưởng đám đông, đã đưa thi nhân tới cảm thức cô đơn ghê lạnh. Trên viễn trình về thấu nguồn cội, thi sĩ là người duy nhất – kẻ độc hành không một ánh mắt vời theo:


blank
Tranh Đinh Hùng. (Hình: Du Tử Lê cung cấp)




“Cuối thời loạn thương một vùng sao mọc
ta bước lên chân nhịp bước thần kỳ
trở về đây xơ xác mảnh tàn y
giữa hoang địa hiện hồn tòa u ngục
bừng mắt dậy lửa hồi sinh đỏ rực
thịt xương về trong cổ mộ xôn xao
hỏa thiêu rồi làn tử khí lên cao
chiều tái tạo bâng khuâng từng ngọn cỏ
hoa thanh quý nở bừng trang diễm sử
thiên tiên đâu về tắm bến sông đào
ta nghiêng mình làm một trái non cao”

(Mê Hồn Ca)

“trăng bỏ ta đi trăng ảo huyền
mấy trùng biển lạ nhớ bình nguyên
sầu ta đong khắp trường giang thủy
vào cuộc tuần du lại đắm thuyền
ta hát lên trời muôn thuở trước
giờ đây còn lắng khúc giao duyên
thân lưu lạc trở về sông núi
ngươi gọi hồn ai hỡi đỗ quyên”



Từ đó, niềm kiêu hãnh khinh bạc cuộc đời của thi nhân đã đưa thi nhân xa dần, xa dần… để gần thêm, gần thêm mãi cô đơn và cuối cùng cô đơn không còn là một màng lưới bủa vây bên ngoài nữa, mà chính tâm hồn thi nhân là những hình ảnh của cô đơn hiu quạnh đó:


“đi vào mộng những sơn thần yên ngủ
em! kìa em! đừng gọi thức hư vô
hãy quỳ xuống, đọc bài kinh ái mộ:
hồn ta đây thành tượng giữa vô cùng.”
(Trời Ảo Diệu)


Thế giới thi ca Đinh Hùng là một thế giới thần kỳ mang đầy bản sắc sơ khai, rừng rú. Phải chăng, thi sĩ muốn quay về, muốn dựng lại xã hội tự tính tức một xã hội bộ lạc thuở hoang vu. Thời con người còn sống với tính bản tự nhiên, không lý trí, thủ đoạn, với những suy tính, mưu cầu thỏa mãn dục vọng, sản phẩm hãnh tiến của xã hội văn minh tiến bộ. Nhưng đó là thứ văn minh vật chất; văn minh kỹ thuật… Mà mặt bên kia của chúng là sự trì kéo con người về cõi đìu hiu nhân tính.

Bàn về kỹ thuật vận dụng ngôn từ hình ảnh, có người đã cho rằng ông là một “phù thủy ngôn ngữ” – vì sự khéo lựa chọn những ngôn từ, ảnh hình, âm điệu. Cũng có một đôi người không đồng ý với những lý luận theo cách của họ.

Theo thiển ý của tôi thì thời gian đã làm xong công việc sàng lọc cay nghiệt của nó. Mọi bài xích chỉ là những tỵ hiềm nhỏ nhen, đi ra từ mặc cảm thấp kém. Bởi vì, hiển nhiên, thời gian đã để lại cho chúng ta những hạt ngọc thi ca mang tên Đinh Hùng.

Từ đấy, thử nghĩ, nếu vườn hoa thi ca Việt Nam thiếu vắng một Đinh Hùng, thiếu vắng một “Mê Hồn Ca” thì thiệt thòi của đời sống tinh thần chúng ta sẽ là một thiệt thòi rất lớn.



                                                                       Du Tử Lê
                                                                                                                                                                               (từ: NV)


*

Mời tìm đọc:

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
Click vào:

(từ: Sấp Ngửa)

Amazon Mẫu Hệ



*

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 3 con gai TYH3 con gái của TYH, từ trái, Trần Yên Đông Nghi , Trần Yên Thư và Trần Yên Quế Chi, (Ô Mai - Cindy Y. Trần) áo trắng


Hòa 70
TYH và ba cô con gái tại Acacia Pharmacy





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, June 4, 202010:57 AM(View: 65)
Khóa 16 ra trường có dành 15 chỗ lưu dụng tại trường để giữ các chức vụ huấn luyện quân sự và chỉ huy trong Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan các khóa đàn em. Thủ khoa Bùi Quyền không chọn chỗ…bình an này. Anh là một trong ba tân sĩ quan chọn về binh chủng Nhảy Dù. Trong cuốn Lưu Niệm của Khóa 16, khóa tiên phong trong ngôi trường đổi mới từ tên trường tới thời gian và phương pháp huấn luyện, Đại Tá Trần Ngọc Huyến, nguyên Chỉ Huy Trưởng trường đã viết: Trong những giờ giáo dục tinh thần, chúng ta đã nói nhiều về Con Người Tiền Phong. Các Bạn nên hãnh diện, vì dưới mái trường này, các Bạn đã thể hiện một phần con người lý tưởng ấy, đã đặt những viên đá đầu tiên cho một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của những người Quân Nhân Trí Giả, đã tìm được cho mình một lý do chiến đấu và hoạt động cao cả hơn mối hy vọng tự nhiên được khích lệ và khen thưởng”. Tôi sống và làm việc tại Sài Gòn, Quyền bôn ba trên khắp chiến trận, lạc nhau nhưng tôi vẫn không quên được người đồng môn cũ. Ngày đó,
Monday, June 1, 20209:07 AM(View: 91)
Thỉnh thoảng chúng ta lại chứng kiến một “trận” boléro mà, “trận” nào cũng vậy, cuộc tranh luận văn hóa lẽ ra phải tới nơi tới chốn này chỉ rộ lên rồi xẹp xuống nửa vời với sự áp đảo của số đông, cái số đông kết nối không chỉ bằng thị hiếu âm nhạc mà cả bằng đầu óc địa phương chủ nghĩa.[1] Như gần đây nhất sau phát biểu của một ca sĩ đất Bắc và những lời chì chiết “sến-sang” tiếp nối từ số đông lấn lướt thế thắng, cái cung cách hờn mát lẽ ra chỉ thấy ở bên thua cuộc.[2] Phe thắng, như thế, chẳng mấy tự tin. Bên bại trận thì, hẳn nhiên, tra gươm vào vỏ trong tâm thế bất phục. Và cuộc tranh luận, do đó, lại đâm vào ngõ cụt. Một ngõ cụt không lối thoát y như cái phần số lẩn quẩn theo điệu buồn boléro số kiếp của chúng ta, như một cộng đồng, một dân tộc, một quốc gia. Phải chăng, chúng ta còn bạc nhược, còn tiếp tục chấp nhận tình trạng bị tước đoạt tiếng nói là vì, phần nào đó, chúng ta càng ngày càng mê hoặc thứ âm nhạc nhừa nhựa dĩ vãng vàng son và tình đời cay đắng dở dang
Friday, May 29, 20207:06 AM(View: 136)
Gia đình tôi ở tỉnh Phú Yên. Những ngày tháng 4 năm 1975 tôi mười một tuổi, học lớp năm trường Tiểu học Bình Nhạn. Trường nay nằm trong khuôn viên Ủy ban nhân dân thành phố Tuy Hòa. Ba tôi là lính văn phòng, chuyên đánh máy chữ, của Phòng Ba Tiểu khu Phú Yên. Ông giải ngũ năm 1969 vì bị thương ở chân, khi tàu lửa qua Đèo Cả dính mìn. Ông nói vậy cũng may, vì mỗi đợt hành quân về phía tây Phú Yên, công lệnh do ông đánh máy, Việt Cộng đều biết, không khéo trước sau gì ông phải ra tòa án binh mất. Trốn nậu trển. “Nậu trển” là cách nói thầm của người dân Phú Yên (Xứ Nẫu) chỉ người trên núi xuống, tức Việt Cộng. Nghe bộ đội Bắc Việt chiếm cao nguyên Trung phần, ba tôi đưa cả gia đình vô Cam Ranh, khoảng cuối tháng 3/1975, gọi là chạy giặc hay đi trốn nậu trển. Và để nếu chia lại đất nước ở vĩ tuyến 13 (nghe phong thanh thế) thì mình thuộc về phía Quốc Gia. Xe ba-lua chở gia đình tôi và hai gia đình người bà con đi
Tuesday, May 26, 20208:39 AM(View: 127)
- Ông gì ơi, ông người Việt hử? Câu hỏi khàn khàn bất ngờ phát ra từ mấy thân hình chăn trùm kín đầu nằm trên ke làm tôi giật bắn mình. Ngoảnh lại, tôi thấy một mái tóc bù xù ngóc lên khỏi tấm vải dày kẻ ô vuông đã có vài lỗ thủng và một hàm răng trắng nhe ra trong nụ cười làm quen trên gương mặt xám, xương xẩu. Tôi gật. - Chả là tôi nghe tiếng hai ông từ biệt nhau. Ông bạn già nằng nặc đưa chân tôi tới tận trạm metro gần nhà. Bịn rịn mãi lúc chia tay, tôi lỡ mấy chuyến tàu. Hai thằng tôi hoạ hoằn mới gặp nhau. Xa thì không bao nhiêu, đường đi cũng thuận tiện, khốn cả hai đều ngại, tuổi già nó thế. Ông bạn ở ngoại ô, về mặt hành chính là tỉnh lỵ La Courneuve, một bidon ville của Paris, người Pháp gọi thế, mặc dầu nó chẳng có gì dính dáng tới một cái bi đông nào hết. Vùng này về đêm lâu nay không an toàn. Rải rác vẫn có những vụ cướp bóc ngẫu hứng của những con nghiện ma tuý và dân nhập cư từ những nước hậu cộng sản. Càng về khuya, tàu càng thưa. Trong lúc chờ tàu,
Saturday, May 23, 20208:25 AM(View: 142)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì. Đã thế, trên trán cũng có một vết sẹo gần giống hình lưỡi liềm, do mảnh đạn M79 nổ gần xớt qua hồi đánh nhau ở Quảng Trị. Thế là Quang được gắn cái biệt danh “bản phủ”. Mà nghe chừng Quang cũng khoái với cái danh xưng ấy. Đến đâu nói chuyện cũng xưng xưng “bản phủ”. Để “bản phủ” quyết cái này, để “bản phủ” quyết cái kia… Cán bộ công nhân viên các cơ quan ban nghành xung quanh thì thấy, kể gọi Quang là “bản phủ” cũng đúng. Vì ngày nào Quang chả thăng đường xét xử. Dân làng Ngọc thì tuy trong bụng không ưa “bản phủ” tí nào, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ ra nể nang. Điều này có nguyên nhân rất sâu xa.