DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,952,517

Vương Trùng Dương - Lời Tự Tình Trong Thi Nhạc

Monday, December 3, 20189:59 PM(View: 418)
Vương Trùng Dương - Lời Tự Tình Trong Thi Nhạc
Lời Tự Tình Trong Thi Nhạc

Image result for bìa bản thơ phổ nhạc nhạc trước 1975

Tự nghìn xưa thi ca và âm nhạc đã thể hiện tiếng nói mang niềm rung cảm dạt dào, sâu đậm của con tim. Ngôn ngữ thi nhạc tuy ngắn gọn nhưng đã truyền đạt được tâm tư, tình cảm, tâm tình dâng hiến cho nhau trong trái tim, trong cuộc sống con người. Nếu tình yêu là chiếc cầu thì tình tự là nhịp cầu nối kết với nhau và, tiếng nói yêu đương khởi đi qua lời tự tình. Theo thần thoại Hy Lạp, trong chín vị thần nữ thì năm vị thần chiếm ngự thi ca mà ba vị chi phối nguồn tình ái, lãng mạn, trữ tình... Vì vậy, ngôn ngữ của thi ca dễ được cảm nhận,  dễ dàng bày tỏ. Và, khi ngôn ngữ đó có vần điệu, mang âm hưởng trầm bổng, nó dễ dàng đi vào cung bậc, ru thế nhân vào suối nguồn âm thanh.


Khuynh hướng lãng mạn được hình thành ở Âu Châu vào thế kỷ XVIII được đề cao về sự thăng hoa tình cảm và trí tưởng trong sáng tạo nghệ thuật. Đem thực tại từ cuộc sống, tình cảm cá nhân tô điểm bởi mộng mơ, bày tỏ tiếng nói trung thực của trái tim ra khỏi khuôn phép bị trói buộc từ thuở xa xưa. Từ đó văn học nghệ thuật nói chung, thi ca và âm nhạc nói riêng đã tạo ảnh hưởng sâu rộng đến khắp nơi. Những khuôn mặt lớn trong thi ca như Chateaubriand, Lamartine, Alfred de Musset, Alfred de Vigny, Victor Hugo, Avers... Và, những nhạc sĩ tài danh như Wolfgang A. Mozart,  Robert Schumann,  F. Schubert, Carl M.V Weber, Felix Mendelssohn, Hector Berlioz, Claude Debusy, G. Bizet, R. Wagner, Franz Liszt, F. Chopin, J. Brahms... gieo thi hứng và hồn nhạc chu du bốn phương.


Vào tiền bán thế kỷ XX, không khí lãng mạn, trữ tình được du nhập vào Việt Nam tạo dựng khung trời mới trong thi ca và nét nhạc trữ tình trong bước khởi đầu nền tân nhạc được đánh dấu vào thời tiền chiến. Qua năm tháng, dần đà trải rộng trên đất nước, ảnh hưởng mạnh mẽ cho đến nay.


 Tình yêu, trái tim và ngôn ngữ thi nhạc được thổ lộ, dàn trải qua tâm sự, nỗi niềm đôi lứa, ảnh hưởng từ làn gió mới Tây phương được du nhập vào đất nước.

Nhiều khuôn mặt sáng tạo trong thi ca và âm nhạc đã tô điểm trong vườn hoa Văn Học Nghệ Thuật qua dòng thơ và ý nhạc trữ tình đã vượt thời gian và không gian trong cơn thăng trầm của lịch sử. Có người tự trói buộc, vong thân, chối bỏ thời hoa mộng với con tim nhưng tác phẩm nghệ thuật vẫn là chứng tích của thời kỳ phát triển trong buổi bình minh. Có người được sống trong bầu trời tự do để tiếp nối niềm rung cảm sâu xa của con tim để làm cho vườn hoa nghệ thuật càng thêm phong phú.

Theo dòng thời gian và theo tiếng vọng của con tim trong tình yêu, lời tự tình được bàng bạc thể hiện qua thi nhạc:
Nhà thơ Hồ Dzếnh mở cửa với lời tỏ:

"Em ạ, lòng tôi, tôi ngỡ đâu
 Đã dâng em hết buổi ban đầu;
 Trời xưa huyễn mộng màu hoa nắng
 Trong thoáng thơ vàng, len ý đau ..."
Bài thơ Nhạc của Bích Khê:
“Nàng ơi! Đừng động... có nhạc trong giây,
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây;
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
Ô nàng tiên nương! - Hớp nhạc đầy hương.”

Xuân Diệu đa tình, đa cảm với Tương Tư, Chiều:

"Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm
Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em ...
  ... Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi".

Lưu Trọng Lư trong phong trào thơ mới không còn rụt rè, bộc lộ cụ thể với Giang Hồ:

"Hãy nhích lại đưa tay ta nắm
Hãy buông ra đằm thắm nhìn nhau
Rồi trong những phút giây lâu
Mắt sầu gợn sóng, lòng đau rộn tình".

Và, hình ảnh đó được bắt gặp ở Vũ Hoàng Chương, nhà thơ phiêu lãng trong men rượu và men tình trong bài Quên:

"Đã hẹn với em rồi; Không tưởng tiếc
Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!
Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc
Rát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu".


Image result for bìa bản thơ phổ nhạc nhạc trước 1975

Nhà thơ Hàn Mặc Tử, con người mang nhiều bất hạnh trong cuộc sống,  đã bày tỏ trong Âm Thầm:

"Em có ngờ đâu trong những đêm
 Trăng ngà giải bóng mặt hồ êm
 Anh đi thơ thẩn như ngây dại
 Hứng lấy hương nồng trong áo em"

Cùng thời điểm và cũng bạn thơ với nhau, Bích Khê tỏ tình qua Tỳ Bà:

"Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
 Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
 Đâu tìm đào nguyên cho xa xôi
 Đào nguyên trong lòng nàng đây thôi"

 Một trong những bài thơ tuyệt vời trở thành thân quen thời tiến chiến và được nhắc mãi đến mai sau như Tống Biệt Hành, thơ của Thâm Tâm:

"Đưa người, ta không đưa qua sông
 Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
 Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
 Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?"

Hoàng Trúc Ly, được xem là một trong những nhà thơ tình hay nhất xứ Quảng như bài thơ Cơn Mê:

“Có phải vì em đang gỡ tóc
Cho mây từng sợi rối chân chim
Có phải hoa bay đầy cánh bướm
Vì em khua gió áo bay lên”

Trong bài Ca Sĩ, tuy không đề cập nhưng thời đó nhiều người cho rắng với tiếng hát Thanh Thúy:

“Từ em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh
Sợi buồn chẻ xuống lòng anh
Lắng nghe da thịt tan tành xưa sau”

Lời tự tình cho nhau không chỉ dành riêng phái nam mà ở nữ giới. Nhà thơ Ngọc Tuyết, qua 3 thi phẩm Giọt Đầy Giọt Vơi, Lá Trở và Sang Mùa, mang tâm sự của mình để dàn trải với tha nhân. Và, lời tự tình được bày tỏ:

“Vô tư anh rắc hạt yêu
Để thơ ngái ngủ trong chiều hư không
Dẫu mai phố chật người đông
Anh qua xin nhớ đã từng có em”...

Có muôn vàn bài thơ, có hàng trăm tình khúc đã đi vào trái tim giới thưởng ngoạn qua bao năm tháng, âm nhạc là nghệ thuật dễ truyền đạt nhất từ trái tim sáng tạo đến trái tim thưởng thức. Ở đó, lời tự tình như sự mê hoặc lôi cuốn hấp dẫn, điển hình với:

Ca khúc Đừng Xa Nhau của Phạm Duy:

"Đừng xa nhau! Đừng quên nhau!
 Đừng rẻ khúc tình nghèo
 Đừng chia nhau nỗi vui, niềm đau
... Đừng im hơi đắng cay rời nhau"

Dòng thơ của khuôn mặt sớm đa tình Hoàng Cầm trong tuổi ấu thơ, nòi tình đó vẫn còn nóng bỏng cho đến tuổi già với Tình Cầm,  được Phạm Duy phổ thành ca khúc:

"Nếu anh còn trẻ như năm cũ
 Quyết đón em về sống với anh
 Rồi những chiều vàng phơ phất lại
 Anh đàn, em hát níu xuân xanh"

Quang Dũng nổi tiếng với dòng thơ đầy hào khí và lãng mạn ở thập niên 40, bài Đôi Mắt Người Sơn Tây qua dòng nhạc của Phạm Đình Chương làm sống lại tên tuổi của Quang Dũng khi ở bên kia vỹ tuyến:

“Vừng trán em vương trời quê hương
  Mắt em dìu dịu buồn Tây phương
  Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
  Em có bao giờ em nhớ thương"

Ca khúc Mộng Dưới Hoa của Phạm Đình Chương được phổ rất tuyệt qua dòng thơ Đinh Hùng:

"Nếu bước chân ngà có mỏi,
 Xin em dựa sát lòng anh.
 Ta đi vào tận rừng xanh
 Vớt cánh dong vàng bên suối"

Bài thơ Cần Thiết của Nguyên Sa, Song Ngọc phổ nhạc:

"Không có anh lấy ai đua em đi học về
 Lấy ai viết thơ cho em mang vào lớp học
 Ai lau nước mắt cho em ngồi khóc
 Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa"

Anh Bằng dựa vào ý thơ viết thành ca khúc Nếu Vắng Anh:

"Nếu vắng anh, ai dìu em đi chơi trong chiều lộng gió
 Nếu vắng anh, ai đợi chờ em khi sương mờ nẻo phố
 Nếu vắng anh, ai đón em khi tan trường về
 Kề bóng em ven sông chiều chiều, gọi tên người yêu"

Mang hình ảnh lãng mạn ở Pháp, giữa thập niên 50, thơ Nguyên Sa được xem như những trang thư cho tình yêu cho tuổi trẻ, Paris Có Gì Lạ Không Em được Ngô Thụy Miên phổ nhạc:

"Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
 Tóc em anh sẽ gọi là mây
 Ngày sau hai đứa mình xa cách
 Anh vẫn được nhìn mây trắng bay"

Ngô Thụy Miên đem vào cung bậc chất ngất yêu thương trong Tháng Sáu Trời Mưa, thơ Nguyên Sa:

"Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc
 Anh sẽ nâng tay em cho ngọc sát vào môi
 Anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai
 Anh sẽ nhớ suốt đời mưa tháng sáu"

Hoàng Thanh Tâm phổ thành ca khúc bài  thơ  trên và tô điểm thêm:

"Mình dựa vào nhau cho thuyền ghé bến
Sưởi ấm đời nhau bằng những môi hôn
Mình cầm tay nhau nghe tình dâng sóng vỗ
Hãy biến cuộc đời bằng những tối tân hôn"

Du Tử Lê đến với thơ tình từ thập niên 60, và trở thành khuôn mặt tên tuổi nơi hải ngoại. Với Du Tử Lê,  ngôn ngữ, tình yêu là lẽ sống mầu nhiệm trong sáng tạo nghệ thuật. Với Hiến Chương Tình Yêu, thơ Du Tử Lê, "còn lời đường mật nào hay hơn, quyến rũ hơn"?  được Nguyên Bích viết thành nhạc phẩm:

 "Khi em lạnh tôi biến thành ngọn lửa

 Đốt yêu thương than nóng hực ân tình

 Cả nghìn chương chỉ chép chuyện đôi ta

 Khi em viết tôi biến thành giấy bút".

Chàng Du Tử nòi tình nầy ru tình nhân qua Một đời Để Nhớ, nhạc của Song Ngọc:

"Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời

 Buổi chiều chăn gối thiếu hơi ai

 Em đi để lại hồn thơ dại

 Tôi vó câu buồn sâu sớm mai"

Bên cạnh Song Ngọc, Trần Duy Đức phổ thành ca khúc Chỉ Nhớ người Thôi Đủ hết Đời





Image result for bìa bản thơ phổ nhạc nhạc trước 1975

Từ nơi xa xôi, Thái Tú Hạp ngỏ lời thăm hỏi qua Chiều Nhớ Hoàng Thành, Khúc Lan đem dòng thơ vào nét nhạc:

"Em vẫn giữ bài thơ trong chiếc nón
  Dù cho đời mưa nắng đuc Kim Luông
  Mưa có buồn trên đôi bờ thương bạc
  Em vẫn còn thắp lửa đợi chờ anh?”

Những dòng thơ trong bài Ma Soeur của Nguyễn Tất Nhiên được Phạm Duy đưa vào cung bậc làm thăng hoa tình yêu giữa tâm hồn lãng tử với người tình bé nhỏ qua ca khúc Em Hiền Như Ma Soeur:

"Ta nhờ em ru ta
Hãy ru tên vô đạo
Hãy ru tên khờ khạo
Em yêu nầy em yêu"


Image result for bìa bản thơ phổ nhạc nhạc trước 1975

*

Trong hai thập niên của thời chinh chiến, nhiều nhạc sĩ đã khoác áo chiến binh, vẽ lên hình ảnh tình yêu lứa đôi khi kẻ ở tiền tuyến người yêu nơi hậu phương đẹp vô cùng.

Đâu đó tư tưởng về tình yêu được thể hiện qua: Tiếng thổn thức của một trái tim đang yêu là một nhạc điệu du dương, thánh thót nhất trong các loại âm nhạc ở trần gian (Beecher Towe). Chỉ có niềm đau ly biệt mới làm sâu đậm thêm tình yêu đôi lứa (George Eliot). Chia ly, có thể tăng thêm niềm vui; xa cách, có thể làm cho những người yêu nhau rút ngắn khoảng cách con tim (Bateer). Chia ly, có thể tăng thêm niềm vui; xa cách, có thể làm cho những người yêu nhau rút ngắn khoảng cách con tim (Bateer). Tình yêu là hành vi cao cả nhất của tâm hồn và là kiệt tác của con người (M. Garcon). Sự xa cách đối với tình yêu cũng như gió đối với lửa. Nó thổi tắt ngọn lửa nhỏ, nhưng thổi bùng ngọn lửa lớn (R. Rabutin). Những trái tim chịu nhiều đau khổ và dũng cảm chính là những trái tim cao cả (R. Bazin)…

Cao dao VN có câu: Yêu nhau mấy núi cũng trèo. Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua" thì hình ảnh đó thể hện qua ca khúc Mấy Dặm Sơn Khê của Nguyễn Văn Đông:

"Em đến thăm, áo anh mùi thuốc súng
Ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê
Non nước ơi, bèo trôi theo sóng đưa
Hiến thân đời gió bụi, nghìn sau nối nghìn xưa...".

Và, tâm trạng người lính rất lãng mạn nơi núi rừng như ca khúc Đêm Dài Chiến Tuyến của Lam Phương:


“Một đêm dài nhớ em
Một đêm dài trắng đêm
Nhìn sao rừng nhớ em
Nhìn núi đồi thấy em
Người em yêu trọn đời”.

Trong ca khúc Chuyến Đò Vỹ Tuyến của Lam Phương tuy không đề cập đến người tình ra nơi địa đầu giới tuyến nhưng trong lời ca cũng cảm nhận được hình ảnh đó:

"Sương khuya rơi thấm ướt đôi mi
Tim em lạnh lẽo như chiều đông ngoài biên thùy
Ai gieo chi khúc hát lâm ly
Như khơi niềm nhớ cuộc từ ly lòng não nùng".

Nhạc trữ tình của Trần Thiện Thanh rất tuyệt, trpng chia cách tâm sự của người yêu nơi hậu phương qua ca khúc Anh Nhớ Về Thăm Em:

“Anh nhớ về thăm em, dù đường xa mênh mang
Anh nhớ về thăm em, kể chuyện một chuyến đi
Anh nhớ về thăm em, một chiều thu thương nhớ
Nụ hoa xinh hé nở, em cài lên vai áo”.

Và, trong thời buổi chinh chiến, làm sao hẹn được gặp nhau nhưng người yêu vẫn Bảy Ngày Đợi Mong mà Trần Thiện Thanh bày tỏ:

“Anh hẹn em cuối tuần
Chờ anh nơi cuối phố
Biết anh thích màu trời
Em đã bồi hồi chọn màu áo xanh”

Duy Khánh thay lời người lính trận nơi xa chia sẻ tâm tình:

"Em ở nơi nào có còn mùa xuân không em
Rừng ngàn lá gió từng đêm nhắc nhở thì thầm
Mai lỡ không về chắc em buồn biết mấy
Dáng nhỏ xuân xưa cũng nhớ đêm ngày".

Và, Lê Dinh cũng thổ lộ nỗi niềm qua ca khúc Bài Ca Này Cho Em:

“Thương em nhớ em nhiều lắm
Anh thức cả đêm viết lên tâm tình này
Biên cương gió mưa lạnh lẽo
Cây rừng rũ buồn cho lòng người buồn lây”…

Chỉ đơn cử vài nhạc phẩm tiêu biểu ở trên cũng thể hiện tình yêu đôi lứa khi ngăn cách trong thời chinh chiến.

                                       *

Ngày nay, ở hải ngoại rất nhiều bài thơ được phổ thành ca khúc, nhiều nhạc phẩm  nói lên tiếng nói của con tim đầy ngọt ngào yêu thương để chia xẻ, an ủi vỗ về cho nhau trong tháng ngày lưu lạc, trong cuộc sống tha hương. Từ nghìn xưa cho đến nay, từ Đông sang Tây, ngôn ngữ tình yêu không có gì thay đổi, không có gì khác lạ, nếu có, chỉ thay đổi từ rụt rè, e ấp sang dạn dĩ, táo bạo, từ lời lẻ bóng gió, ẩn dụ, nên thơ sang gợi dục, cuồng nhiệt, đam mê...  Lời tự tình có khi chứa đựng sự đường mật, lừa dối, quyến rũ, ru ngủ để lôi kéo đối tượng vào vòng tay ân tình nhưng vẫn là nhịp cầu trao đổi để làm đẹp lòng nhau, dù biết lọc lừa nhưng có còn hơn không! Nghệ sĩ sáng tạo cho tâm sự của mình cho tha nhân, và không có gì đẹp bằng mượn nó để tỏ bày từ tiếng vọng trái tim.


                                                             Vương Trùng Dương
                                                                                                        (Tác giả gởi)


P.S: Bài nầy viết đã lâu (khoảng hai thập niên về trước) nhưng theo lời một số thân hữu đề nghị nên có vài đoạn bổ túc thêm vào dịp Thanksgiving để cảm ơn tình yêu.



*

Mời tìm đọc:

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
Click vào:


ĐỌC THƠ TRẦN YÊN HÒA HƠN 55 NĂM Thơ
(từ: Sấp Ngửa)

Amazon Mẫu Hệ



*

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 3 con gai TYH3 con gái của TYH, từ trái, Trần Yên Đông Nghi , Trần Yên Thư và Trần Yên Quế Chi, (Ô Mai - Cindy Y. Trần) áo trắng


Hòa 70
TYH và ba cô con gái tại Acacia Pharmacy



hình Quang ở đám cưới Ô Mai                                                                                                                                                                                                             hình đám cưới Cindy Y.Tran



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, April 17, 20197:09 PM(View: 25)
Mỗi người dân Việt trong tâm thức đều mang niềm kiêu hãnh là con cháu Tiên-Rồng. Bởi lẽ theo truyền thuyết, hai linh vật siêu nhiên này là vật tổ của Việt tộc - Lạc Long Quân và Âu Cơ - đã từ lâu hiện hữu trong tâm khảm của chúng ta như thủy tổ của giống nòi. Một cách cụ thể, hai linh vật này đã hoá thân thành tổ phụ người Việt, mang thuộc tính cao qúy của giống Rồng-Tiên, có phép nhiệm màu có thể bay bổng, lặn sâu, làm mưa, làm gió hay “hô phong hoán vũ,” phò trợ thị tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách của thời tiết khắc nghiệt của nghề nông và sự xâm lấn, hủy diệt của các thị tộc khác. Hai Linh vật này xuất hiện trong thần thoại dựng nước, sản sinh ra thủy tổ người Việt dưới hình thức một bọc trăm trứng của loài chim hoá thân. Đó chính là tiền thân của Họ Hồng Bàng, với 18 đời vua Hùng dựng nước. Khái niệm vật tổ Tiên-Rồng hoá thân dưới dạng Giao long, Lạc Hồng, Phượng Hoàng... là những sinh vật cụ thể hoặc siêu nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh hoặc sinh hoạt đời
Monday, April 15, 20197:53 AM(View: 47)
Theo bản tin Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 09/4/2019: Quy hoạch báo chí ‘vi hiến’, sẽ ‘làm thất nghiệp’ hàng nghìn nhà báo? Theo tìm hiểu của VOA, tính đến giữa năm 2018, Việt Nam có hơn 1.100 cơ quan báo chí các loại, gồm 857 báo và tạp chí in, 195 trang báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương...” Báo Chí (Press) đã có từ xa xưa, kế đến là Truyền Thanh (Broadcasting) và Truyền Hình (Television - TV) thường gọi là Truyền Thông (Media), sau nầy có thêm Internet nên gọi là Truyền Thông Đại Chúng (Communication). Theo Wikipedia “Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet. Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là "seven mass media" (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến. Nó bao gồm: In ấn từ cuối thế kỷ 15. Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19. Điện ảnh từ khoảng năm 1900. Phát thanh từ
Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 57)
Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam. Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*) Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn. thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa. Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập! Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi. Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ. Có đôi ba người (cũng làm thơ) Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa. (Và thơ tình của những nhà thơ khác) Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng. Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”. Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương: “…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?” Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, mỗi người làm thơ. Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình. Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”. Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm. Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú. Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”.
Sunday, April 7, 20198:04 AM(View: 147)
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, Hè năm 1971, tôi rời Nha trang để theo khọc Khóa 3 Trung Cấp CTCT ở quân trường cũ tại Đà Lạt. Sau khóa học, tôi về phục vụ tại Đà Nẵng và sau đó trở lại quân trường nầy cho đến ngày mất nước. Trong quãng thời gian đó, tôi thường về Nha Trang, nơi chốn tôi “dừng bước giang hồ” khi lập gia đình. “Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đã
Wednesday, April 3, 20197:05 AM(View: 159)
Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (2009)