DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,098,342

Vũ Thành Sơn - Gặp nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

Thursday, December 6, 20186:42 PM(View: 1083)
Vũ Thành Sơn - Gặp nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

Gặp nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

Image result for nhà văn nguyễn thị thụy vũ


Tôi gặp nhà văn Thụy Vũ lần đầu tại nhà riêng của nhà thơ Ý Nhi nhân một dịp bà ghé qua Sài Gòn. Cuộc gặp mặt có nhiều người tham dự, có đồng nghiệp và có cả người là học trò của bà trước kia
.

Hôm ấy, khoảng tháng 9 năm 2017, bà nói nhiều chuyện, từ chuyện viết lách cho đến những giai thoại trong giới văn chương trước 1975 rồi dẫn đến cả những kỷ niệm đời sống riêng tư. Bà nói chuyện vui vẻ, hóm hỉnh cho dù trong tất cả những điều bà kể đều có bóng dáng những nỗi thất vọng, buồn bã, bất lực mà người nghe không khỏi cảm thấy ái ngại. Nghe bà kể bằng một giọng diễu cợt về những nỗi đau và số phận hẩm hiu của chính bà cứ như đang nghe bà nói về nỗi đau và số phận của một ai khác. Tôi nghĩ không dễ gì có thể tự trào được như vậy nếu bà không có một nghị lực phi thường để vượt qua nghịch cảnh và vượt qua cả chính mình.

Sau cuộc gặp gỡ lần đó, bà phát hiện mình ung thư, bị cắt 2/3 dạ dày.

Tôi vẫn thường tự hỏi cái gì làm cho một người thấy mình có nhu cầu phải cầm bút. Trả lời câu hỏi này cũng đồng thời trả lời cho câu hỏi kế tiếp vì sao mà nhà văn từ bỏ sáng tác. Trong trường hợp của Thụy Vũ, số phận hình như không định đoạt bà trở thành một nhà văn, mà là một cô giáo. Bà có viết lách nhưng là viết cho riêng bà. Người em trai của bà, Hồ Trường An, khuyến khích bà gửi đăng báo. Và bà đã xé từ trong cuốn sổ một truyện để gửi cho tờ Bách Khoa chỉ với mục đích là để kiếm thêm thu nhập cho đồng lương khiêm tốn của nghề giáo mà thôi. Nhưng (số phận nào cũng bắt đầu từ cái phản đề này), cái truyện đó đã lọt vào mắt xanh của nhà văn Võ Phiến.

Nhà văn Thụy Vũ đã bắt đầu một cách ngẫu nhiên như thế. Bà trở thành một trong những nhà văn viết feuilleton ăn khách nhất miền Nam trước 1975; có lúc, theo lời bà kể, bà phải ngồi viết ngay trong tòa soạn, có người chầu chực bên cạnh chờ bà viết được hai, ba dòng là lập tức cắt ngay mang ra chỗ sắp chữ in, bận rộn thậm chí cho đến trước lúc bà lâm bồn. Rồi bà xuất bản và đoạt giải thưởng văn học 1970. Viết lách bỗng chốc trở thành một guồng máy, Deus ex machina.

Nếu không có sự gợi ý của người em trai, nếu không có con mắt xanh của Võ Phiến, chúng ta sẽ không có một nhà văn Thụy Vũ. Điều đó cũng đã xảy ra với hơn một người. Với Dương Nghiễm Mậu, chẳng hạn. Nếu không có một Mai Thảo tình cờ moi trong đống bản thảo đã vứt vào sọt rác thì người ta có thể sẽ không có cơ hội để đọc những Ngày Đốn Cây Vú Sữa hay Gia Tài Người Mẹ sau này.



Image result for nhà văn nguyễn thị thụy vũ

Sự ngẫu nhiên đã làm nên một nhà văn nhưng sự ngẫu nhiên cũng có thể giết chết một nhà văn.

Thật vậy, không ít người quan tâm đến sinh hoạt văn học Việt Nam không khỏi thắc mắc tại sao sau biến cố lịch sử 1975, hầu hết những nhà văn miền Nam đang trong thời kỳ sáng tác mạnh mẽ, sung sức nhất đều đồng loạt từ giã văn chương. Như những con cá bị ném ra khỏi cái ao làng quen thuộc vào một đại dương mênh mông sóng dữ, họ chưa qua khỏi cơn choáng váng? Không có ánh sáng nào mà không đến từ ngọn lửa, văn chương hay nghệ thuật nói chung, cũng đều như vậy. Có phải đó là tình trạng chung của các nhà văn sống dưới chế độ toàn trị hay Việt Nam là một trường hợp cá biệt?
Nhưng tại sao cũng ở trong cùng một hoàn cảnh mà Czeslaw Milosz, Joseph Brodsky, Milan Kundera, Cao Hành Kiện vẫn có thể tiếp tục sáng tác trong điều kiện lưu vong, hay một Herta Müller không thể bị bóp nghẹt tiếng nói ngay dưới ách cai trị của Nicolae Ceaușescu?

Lần thứ hai tôi đến thăm nhà văn Thụy Vũ để tìm câu trả lời cho những ý nghĩ đó.

Từ vài hôm trước Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn thông báo cơn bão số chín Usagi sẽ đổ bộ thẳng vào Sài Gòn và các tỉnh miền Tây; sức gió vùng gần tâm bão dự kiến sẽ từ 75km lên đến 100km/giờ, mưa rất to và có cả lốc xoáy. Chưa khi nào Sài Gòn biết đến một cơn bão dữ như thế. Mưa đã rơi từ đêm trước và tiếp tục rơi vào sáng sớm hôm sau. Nhưng khi xe lăn bánh ra khỏi thành phố và càng đi xa về hướng miền Đông, trời càng sáng đẹp. Chúng tôi đã bỏ lại cơn bão sau lưng mình.
Sau những lạc đường, dò dẫm, cuối cùng chúng tôi cũng tìm đến được nhà. Một cửa hàng ở mặt tiền đường bán đồ sành sứ, hoa lan, nằm trên một cái dốc nhộn nhịp xe khách liên tỉnh qua lại, nhìn sang một cơ quan kiểm lâm. Cửa hàng là của các con bà, còn thế giới của bà ở phía sau, tận trong cùng. Trời đẹp và Usagi vẫn còn rất xa.

Nhà văn Thụy Vũ tiếp chúng tôi trong phòng khách; giữa những đồ trần thiết bằng gỗ mun khảm xà cừ lấp lánh từ một thời quá vãng nào đó, hoành phi, câu đối, tủ thờ và dưới bóng những bức ảnh Phật từ bi. Ngồi ở đây, trong vùng tranh tối tranh sáng, chúng tôi không nghe thấy một tiếng động nào từ bên ngoài vọng vào. Cuộc đời trần trụi, khốc liệt thuộc về ngoài kia; ở đây là hồi ức, bóng tối và cầu nguyện.

Sau cơn bạo bệnh, nhà văn Thụy Vũ so với lần đầu tôi gặp đã gầy đi rất nhiều. Nhưng ánh mắt bà vẫn còn tinh anh lắm, giọng nói bà vẫn khoẻ khoắn và sự hài hước dường như không hề mất đi trong nụ cười của bà. Bà tiếp tục kể cho chúng tôi nghe những giông tố một thời của đời bà cũng vẫn với một thứ tự trào duyên dáng, từ chuyện dạy tiếng Anh cho những cô gái điếm để kiếm thêm tiền và để có tư liệu cho công việc sáng tác của một nhà văn đến chuyện bà chứng kiến tận mắt cảnh phá thai của họ, hay chuyện bà phải hành nghề bói toán, bán bánh cuốn, soát vé xe độ nhật…Đó cũng chính là thế giới nhân vật trong những tiểu thuyết của bà, những nhân vật của một thời tao loạn, phân ly, chưa sống trọn cuộc đời bi kịch của mình nhưng đã buộc phải kết thúc trên những giá sách phủ đầy bụi bặm lãng quên của lịch sử. Tôi đọc Khung Rêu, chợt nghĩ bên cạnh những nhà văn của mọi thời, còn có những nhà văn của chỉ một thời; họ như ngọn lửa cần được khai quật và thắp sáng lại.


Image result for nhà văn nguyễn thị thụy vũ

Thụy Vũ nói bây giờ mỗi ngày bà ngồi dưới những bức ảnh Phật tụng niệm; cái chết đối với bà không có gì đáng sợ mà thật tự nhiên và gần gũi. Bà chỉ nghe những âm thanh của cuộc đời ngoài kia bằng một lỗ tai.
Chúng tôi chia tay Thụy Vũ. Bà chống gậy ba chân, tiễn ra tận cổng. Mưa bắt đầu đổ. Bóng bà mờ nhòe qua cửa kính xe. Tôi chợt liên tưởng đến hình ảnh người đàn bà già nua bệnh tật của Albert Camus ngồi một mình sau cánh cửa sổ trong căn phòng tối thui lắng nghe tiếng chân những người khách vừa đến thăm bước đi xa dần trên đường phố nhộn nhịp sáng đèn và tự trả lời cho câu hỏi một nhà văn đã chết như thế nào của chính mình.


Related image

Càng tiến về thành phố mưa càng dữ dội. Nước mênh mông trắng xóa. Chúng tôi đang đi vào trung tâm bão.
Nhưng ngày mai bão sẽ hết, mặt trời sẽ trở lại soi sáng. Mặt trời sẽ sưởi ấm cho tất cả chúng ta, kể cả những bộ xương khô (Albert Camus).


                                                                        Vũ Thành Sơn
                                                                                                                                                                      (từ: VV)



*

Mời tìm đọc:

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
Click vào:


ĐỌC THƠ TRẦN YÊN HÒA HƠN 55 NĂM Thơ
(từ: Sấp Ngửa)

Amazon Mẫu Hệ



*

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 3 con gai TYH3 con gái của TYH, từ trái, Trần Yên Đông Nghi , Trần Yên Thư và Trần Yên Quế Chi, (Ô Mai - Cindy Y. Trần) áo trắng


Hòa 70
TYH và ba cô con gái tại Acacia Pharmacy



hình Quang ở đám cưới Ô Mai                                                                                                                                                                                                             hình đám cưới Cindy Y.Tran





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 20, 20192:51 PM(View: 35)
Trước hết, đừng quên nghị quyết của Ủy Ban Cochinchine vào tháng 5/1857. Theo tinh thần Nghị quyết này, Pháp cần biểu dương lực lượng ở Đại Nam, thiết lập một tân trào với nòng cốt là “các thày kẻ giảng, với sự ủng hộ của 600,000 giáo dân Ki-tô.”[1] Petrus Key rời Pinang vào năm 1858, trở lại Cái Mơn của Linh mục Borrelle (Giám mục Lefèbvre đang ở Chợ Quán), và chờ đợi để phục vụ “những nhà giải phóng được Thiên Chúa gửi xuống cứu độ giáo dân An Nam.” Vì Trung tá Jauréguiberry không tin tưởng GM Lefèbvre và từng lên án Lefèbvre phá hoại việc thương thuyết một hòa ước, nên Petrus Key chưa được trọng dụng ngay. Nhưng Petrus Key vẫn được làm thông ngôn ở Chợ Quán, với lương 20 đồng một tháng. Trong một phiếu trình lên Rigault de Genouilly, Jauréguiberry cho biết một thông ngôn tên “Petrus” phải uống thuốc quinine để chữa trị bệnh sốt rét, và ông ta định đưa “Petrus” ra Đà Nẵng để thẩm vấn các quan viên Việt bị Pháp bắt giữ. Tháng 6/1859, Petrus Key tháp tùng Linh mục Theophile
Tuesday, September 17, 20196:27 AM(View: 96)
Ngày hôm sau chúng tôi bay ra Đà Nẵng, thuê xe đi Hội An thăm Dinh phái 1 và Từ Đường phái 2 của dòng họ Nguyễn Tường, sau đó viếng nghĩa trang riêng của gia tộc. Đứng trước hàng bia mộ, nơi yên nghỉ của những người thân yêu, cảm giác này thật khó diễn tả! Cảm giác ấy vừa mơ hồ lại vừa cụ thể như phảng phất đâu đây cái kì bí giữa hai cõi âm dương. Sau hai ngày ở Đà Nẵng và Hội An chúng tôi ra Huế. Không khí ở đây có phần mát mẻ và tĩnh lặng hơn. Tôi tiếc là chưa có dịp đi đò trên sông Hương để nghe nhạc cung đình Huế. Đọc tác phẩm “Mưa trên cây sầu đông” của Nhã Ca, tôi định bụng ra Huế lần này sẽ coi thử “cây sầu đông” (còn gọi là “cây xoan”) xem nó ra thế nào, và tại sao người ta hay ví con gái đẹp với khuôn mặt trái soan? Vậy mà Huế đã vào đông rồi mà cây sầu đông tôi vẫn chưa có dịp nhìn thấy. Vì gia đình cháu Tường Anh chỉ có gần hai tuần lễ ở Việt Nam mà chương trình kéo dài từ Nam ra Bắc nên chúng tôi đến nơi nào cũng chỉ “cưỡi ngựa xem hoa” rồi lại vội vã lên đường đi
Thursday, September 12, 20198:46 AM(View: 232)
Đầu năm 1970, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Trần Quốc Lịch được thăng cấp Đại Tá Nhiệm Chức, chỉ huy các tiểu đoàn cơ hữu (TĐ 5, 7, 11) và các đơn vị tăng phái, thống thuộc hành quân trong giai đoạn 1970-1972. Tháng Chín, 1972, do công trận, chiến tích các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 2 thâu đoạt, Đại Tá Lịch được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thay thế Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng; 1 Tháng Mười Một, 1972, Đại Tá Lịch tiếp thăng cấp chuẩn tướng nhiệm chức; Tháng Bảy, 1973, Chuẩn Tướng Lịch được lệnh bàn giao Sư Đoàn 5 lại cho Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, tiếp giữ chức vụ chánh thanh tra Quân Đoàn IV/Quân Khu 4. Cuối năm 1974, Chuẩn Tướng Lịch bị câu lưu do tội danh tham nhũng, tạm giam tại Đề Lao Chí Hòa, buộc phải giải ngũ, giáng xuống cấp đại úy! Phiên tòa quân sự chính thức xét xử Đại Úy Trần Quốc Lịch về tội danh tham nhũng chưa thực hiện thì xẩy ra biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Vụ án Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch chìm khuất trong đại nạn nước mất nhà tan. Chẳng mấy ai trong, ngoài quân đội
Tuesday, September 10, 20198:45 PM(View: 122)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn. Thực chất, chúng ta biết rất ít về Petrus Key. Hầu hết chi tiết về gia đình
Wednesday, September 4, 201911:51 AM(View: 101)
Đến với nhau trong văn chương không phải là sự tình cờ. Và vì vậy, khi Nguyên Minh đến với thế giới chữ nghĩa là mang đến cả một niềm đam mê không biết mệt mỏi. 18 tuổi anh và bạn bè làm tờ Gió Mai ở Huế. Và từ đó đến nay anh có hơn 50 năm tuổi nghề, mặc dù có những lúc, thời gian đã chặn anh lại nửa đường. Nhưng thời gian mang những dấu ấn lịch sử kia đã không thể trói tay chân, đầu óc anh. Hết Gió Mai, ở Phan Rang anh lại cùng Ngy Hữu và bạn bè ra tờ Ý Thức, tờ báo in ronéo đẹp nhất Miền Nam thời bấy giờ và cũng tập trung đông đảo người viết trẻ nhất. Cả cuộc đời Nguyên Minh không thể thiếu mùi mực in, mùi giấy và kim chỉ. Vắng chúng chừng như anh không thể nào sống nổi thêm giây phút nào nữa, như một Trần Hoài Thư ở New Jersey vừa khâu sách trên bàn ăn tối vừa tiếp bạn xa! Thời in ronéo chấm dứt, có lúc Nguyên Minh thẫn thờ như kẻ mất hồn giữa thị trấn tràn gió và cát bay. Anh quyết định bỏ Phan Rang, chốn quê nhà yêu dấu của mình, vào Sài Gòn để làm một điều gì đó cho văn chương,