DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,007,773

Trần Mạnh Hảo - GIẢI NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH? (Văn Việt)

Saturday, March 16, 20192:43 PM(View: 278)
Trần Mạnh Hảo - GIẢI NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH? (Văn Việt)
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH
CỦA “VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP"
2019



Image result for lã khắc hòa
                                                                                                                                  Lã Nguyên (Lã Khắc Hòa)
                                                                                                                                         (gã điên)

GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH CỦA “VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP” NĂM 2019, TRAO CHO MỘT TAY ĐIÊN LOẠN LÀ GS.TS LA KHẮC HÒA (LÃ NGUYÊN), KHI ÔNG NÀY DÙNG CHÌA KHÓA CỦA CUỐN SÁCH ĐƯỢC GIẢI: “PHÊ BÌNH KÝ HIỆU HỌC” TẦM PHÀO NÀY ĐỂ LÝ GIẢI BÀI THƠ “ĐÂY THÔN VĨ DẠ” CỦA HÀN MẶC TỬ LÀ THƠ ĐIÊN, LÀ “CHUỖI PHÁT NGÔN THÁC LOẠN”.



Không thể đặng đừng, vì nền văn học của nước nhà, chúng tôi phải lên tiếng về trò trao giải thưởng văn học không mang tính mục đích của “Văn Đoàn độc lập” do ông Nguyên Ngọc chủ soái. Bốn lần “Văn đoàn” này trao giải thưởng thơ nhưng không phải là thơ.

Năm 2019 “Văn đoàn…” không bình thường này lại trao giải thưởng nghiên cứu phê bình cho một GS.TS. điên loạn, là La Khắc Hòa (Lã Nguyên) khi ông này dùng “lý thuyết” kinh tởm của mình trong cuốn “ Phê bình ký hiệu học” được giải để bình bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử là thơ điên, là “CHUỖI PHÁT NGÔN THÁC LOẠN”.

Trò đánh tráo khái niệm của giải thưởng văn học nơi “Văn Đoàn” này, phóng ra mạng xã hội không khác trò lừa đảo, làm hư thị hiếu văn học chân chính của lớp trẻ.

Lã Nguyên, một tay ngu dốt tận cùng về văn học sau khi nhận giải “Văn đoàn” đã đáp từ rất kênh kiệu, rất thùng rỗng kêu to, làm như ông GS.TS. điên này vừa nhận giải Nobel không bằng. Lã Nguyên dùng lời bạn để tự tâng bốc mình là “con sư tử giữa sa mạc”!

Xin xem lời “đáp từ “ sau khi nhận giải thưởng nghiên cứu phê bình của “Văn đoàn độc lập” của ông GS.TS. Lã Nguyên và xem bài viết của chúng tôi phê phán Lã Nguyên đã xúc phạm và giết chết bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, bằng chính cái lý thuyết khùng điên mà ông ta vừa nhận giải!

PHÁT BIỂU NHẬN GIẢI NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VĂN VIỆT 2018

Lã Nguyên

KÍNH THƯA QUÝ VỊ! THƯA CÁC BẠN!

Mấy hôm nay tôi cứ nghĩ, nếu không có sự ngẫu nhiên, chắc cảm nhận của ta về hạnh phúc sẽ khác đi. Tôi được sinh ra vào ngày mồng 3 tháng 3. Văn đoàn của chúng ta lấy ngày thành lập Ban Vận động làm ngày trao giải thường niên. Thế là cuốn sách Phê bình kí hiệu học của tôi được trao giải, đúng vào ngày tôi chào đời. Có phải đó là một sự ngẫu nhiên không? Sự ngẫu nhiên đầy thú vị ấy đã nhân đôi cảm nhận của tôi về hạnh phúc: hạnh phúc không chỉ vì được trao giải, mà còn vì sự hiện hữu của mình trên thế gian này.

Tôi nhớ, trong một cuốn sách bàn về nghệ thuật, Lev Tolstoi nêu câu hỏi: – Người ta viết sách để làm gì? Ông trả lời: – Người thì vì tiền, người vì danh, có người vì cả hai thứ ấy. Ông lại hỏi: – Vì cái gì mà độc giả bỏ tiền mua sách để người viết sách có cả danh lẫn tiền? Ông trả lời: – Vì ai cũng muốn được hạnh phúc. L. Tolstoi không biết rằng cho đến tới tận thế kỉ XXI , ở Việt Nam, đa phần nhà văn vẫn cần được “nuôi”, không ai sống được bằng nghề viết sách, không mấy ai viết sách để kiếm tiền, thân phận của người viết sách chẳng ra gì, nói theo lời Nguyễn Huy Thiệp, danh hiệu nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình hay nhà trí thức nói chung “chỉ là danh hiệu lỡm người bạc phúc”. L. Tolstoi không biết rằng ở Việt Nam, dẫu chẳng được danh, không được tiền, nhiều người vẫn viết sách chẳng qua vì họ cũng muốn được hạnh phúc như độc giả của họ.

Vâng, tôi sống bằng nghề dạy học và bằng đồng lương còm cõi của ông “giáo khổ trường công” tôi vẫn có thể sống qua ngày. Giá không vì niềm khát khao hạnh phúc, chắc tôi sẽ chẳng viết phê bình để làm gì. Chỉ trong nghiên cứu văn học, chỉ khi viết phê bình, tôi mới thực sự được làm người tự do: tự do là mình, không buộc mình phải giống ai, tự do lựa chọn cái này hoặc cái kia, tự do nói lời riêng của mình trước con người và thế giới. Được sống tự do như thế, với tôi, là niềm hạnh phúc lớn nhất trên cõi đời này.

Năm 2018, tôi in hai cuốn sách: Số phận lịch sử của các lí thuyết văn học và Phê bình kí hiệu học. Mỗi cuốn sách là một sự lựa chọn tự do của cá nhân tôi.


Image result for lã khắc hòa


Cuốn thứ nhất là sự lựa chọn lí thuyết. Qua nội dung và lôgic cấu trúc của cuốn sách, tôi nói lời chia tay với mĩ học và lí luận văn học xô-viết chính thống từng thống trị ở Liên Xô từ những năm 1920, đến những năm 1930 được du nhập vào Việt Nam và cho đến nay vẫn đang tiếp tục sống thoi thóp ở nước ta. Chia tay với học thuyết “văn học tòng thuộc chính trị”, với xã hội học văn học ngây thơ, thô thiển mà hạt nhân là kinh tế luận, giai cấp luận, phản ánh luận, tôi chào đón các lí thuyết tiên tiến của nhân loại và chọn riêng cho mình môn kí hiệu học văn hóa làm hướng tiếp cận các sáng tác nghệ thuật.

Cuốn thứ hai là sự lựa chọn phương pháp phê bình và các xu hướng nghệ thuật. Tiếp cận sáng tác văn học từ góc độ kí hiệu học, tôi chia tay với kiểu phê bình lấy khen – chê là mục đích để đến với phê bình khoa học. Từ góc độ phê bình kí hiệu học, tôi nói lời vĩnh biệt xu hướng nghệ thuật sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, mà thực chất là nghệ thuật tuyên truyền, minh họa, nghệ thuật điển phạm, từ chương, nghệ thuật của những câu chữ, khuôn mẫu có sẵn. Tôi nồng nhiệt chào đón những tác phẩm văn nghệ thể hiện tinh thần dân chủ, nhân văn và các xu hướng cách tân của thời đại mới.

Tôi nghiệm ra, không có sự lựa chọn nào diễn ra thông thuận, dễ dàng. Phải mất hàng chục năm nghiễn ngẫm, tôi mới có được xác tín riêng để làm người tự do. Tôi biết sự lựa chọn của tôi chẳng dễ được chấp nhận từ quan điểm chính thống đang ngự trị phổ biến ở Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên, trong một bài viết, nhà phê bình tài năng Đỗ Lai Thúy, người bạn “cùng lứa bên trời” với tôi, đã ví cuốn Phê bình kí hiệu học của tôi với tiếng “sư tử gầm giữa hoang mạc”.

Dĩ nhiên tôi có cơ sở để không bi quan về môi trường học thuật và sáng tạo nghệ thuật ở Việt Nam như thế. Chẳng phải Nhà xuất bản Phụ nữ đã trở thành bà đỡ mát tay cho cả hai cuốn sách nói trên của tôi đó sao? Riêng cuốn Phê bình kí hiệu học chỉ sau mấy tháng phát hành, nay đã được tái bản. Thế là cuốn sách đã được đông đảo bạn đọc, trong đó có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình văn học, chấp nhận cấp “thông hành” cho nó. Chẳng phải những cặp mắt xanh của Hội đồng giải thưởng của Văn Đoàn độc lập đã tán thành trao giải thưởng cho cuốn sách của tôi đó sao? Nghĩa là tôi không thiếu tri âm. Tôi thực sự là người hạnh phúc.

Cảm ơn Nhà xuất bản Phụ nữ và đông đảo độc giả, cảm ơn Văn đoàn độc lập và Hội đồng giải thưởng của Văn đoàn đã trao cho tôi niềm vinh dự và hạnh phúc lớn lao này.

Cảm ơn Quý vị và các bạn đã cùng tới chia sẻ với tôi niềm hạnh phúc tại lễ trao giải ngày hôm nay.
Tp Hồ, Ngày 28 tháng 2 năm 2019.

                                    *

Nếu với một cái “tít” như trên, bạn đọc chắc chắn sẽ kinh ngạc hỏi, rằng ai đã nói về bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử với những lời lẽ khiếp đảm thế Hay là “tay Hảo” này bịa ra cái kết luận rùng rợn kia làm đầu đề để câu khách rẻ tiền, rồi sau lại đổ cho ma nói?

Thưa, nói đâu dẫn chứng đó, có ngay tên tác giả của những kết luận trên chính là PGS TS Lã Nguyên, viết nơi phần kết, trong bài ông bình giảng mẫu bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” dùng cho học sinh trung học cả nước “học tủ”, để thi tốt nghiệp và thi đại học, cao đẳng, in trong cuốn “GIẢNG VĂN CHỌN LỌC VĂN HỌC VIỆT NAM – VĂN HỌC HIỆN ĐẠI” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội-2001), như sau:

“Thể hiện khát vọng về sự đồng điệu, Hàn Mặc Tử đã tạo ra một công trình nghệ thuật đạt tới sự hài hòa lý tưởng: “Đây thôn Vĩ Dạ”, là tốc ký tâm trạng, nhưng nhạc thơ chưa vượt trước lời thơ, phá vỡ logic ngữ nghĩa thông thường, khiến tiếng nói trữ tình thành chuỗi phát ngôn thác loạn. Vì thế lời thơ trong sáng, tao nhã mà vẫn giản dị. Lấy tình làm điểm tựa để vẽ cảnh, nhưng tình chưa tràn ra ngoài cảnh, biến cảnh thành những hình hài méo mó, dị dạng, giống như bóng dáng của yêu ma. Được tắm đẫm trong cảm hứng lãng mạn, cuộc sống trần thế trong “Đây thôn Vĩ Dạ” hiện lên lung linh, kỳ diệu mà không kỳ bí. Kinh nghiệm của cái tôi cá nhân Hàn Mặc Tử chưa vượt vòng kiểm soát của kinh nghiệm cá nhân ta. Với “Đây thôn Vĩ Dạ”, Hàn Mặc Tử vẫn đứng vững giữa mảnh đất của thi ca lãng mạn, chưa bước qua địa hạt của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực. Cho nên, diễn đạt theo cách của Hoài Thanh, bài thơ ”Vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế “.

Ai trong chúng ta cũng đều biết, và hầu như thuộc bài thơ vỏn vẹn có 12 câu “ Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử. Đây là bài thơ tức cảnh sinh tình, mượn tình ngụ cảnh trong sáng nhất của tác giả. Bài thơ mượn nỗi vui buồn, hư ảo, mê đắm của cảnh vật thiên nhiên tuyệt vời Vĩ Dạ mà kín đáo bày tỏ mối tình chớm nở với “em áo trắng” xa xăm nào đó trong rạo rực, đợi chờ, e ấp, bâng khuâng… Bài thơ phảng phất vẻ đẹp của một tâm hồn đang yêu vốn từng cô đơn, bơ vơ; nay thấy thấp thoáng trong sương khói bóng hình thôn nữ áo trắng như nắng, như trăng mờ ảo, quyến rũ khách liêu trai, gợi mối tình nhân ảnh.

Dường như Hàn Mặc Tử đã thông qua Vĩ Dạ, mượn cả đất trời mê hoặc kia mà tỏ tình cùng nàng tiên nữ áo trắng khói sương?

Dù có lặn sâu xuống chín tầng câu chữ bài thơ, cũng tuyệt nhiên không tìm ra “tiếng nói trữ tình” này một chút gì cái gọi là “chuỗi phát ngôn thác loạn” như ông Lã Nguyên viết trên. Tìm trong bài thơ đến mòn con mắt cũng chẳng thấy một chút cảnh nào là “những hình hài méo mó, dị dạng giống như bóng dáng của yêu ma” như Lã Nguyên đã thấy. Hay là khi giảng bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, Lã Nguyên đã bị thơ hay cướp mất hồn, mê đi mà bình nhầm sang một số bài thơ có mầm mống điên loạn khác của Hàn Mặc Tử chăng? Theo mạch văn bình giảng “Đây thôn Vĩ Dạ” mà xét, ta thấy Lã Nguyên chưa mê mà vẫn tỉnh, vẫn bám sát từng câu thơ trong bài, như khi ông viết sau: “…Khổ đầu “Đây thôn Vĩ Dạ” đã thổi ra khí lạnh của chút thoáng buồn man mác, bâng khuâng. Đến khổ thơ thứ hai, chút thoáng bâng khuâng, man mác buồn ấy hóa thành đám mây đen phủ kín tâm hồn thi nhân: “Gió theo lối gió mây đường mây / Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”. Đó là một thế giới rất khác. Có gió, mây nhưng mây gió phân lìa, chia ly. Có sông nước, nhưng “dòng nước buồn thiu”. Có hoa, lá nhưng chỉ là hoa bắp, một thứ hoa màu xám, vô duyên, nhè nhẹ lay động…”

Lã Nguyên mới bình 6 câu thơ đầu của bài thơ, đã thấy ông chưa hiểu nổi ngay nghĩa đen của chúng. Ta hãy cùng đọc khổ thơ đầu: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ / Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên / Vườn ai mướt quá xanh như ngọc / Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Nghĩa đen nổi trên mặt phẳng từng câu thơ trên là một niềm náo nức “về chơi”, một ban mai tươi vui “nắng mới lên”, màu sắc cỏ cây nồng nàn, hoan hỉ “xanh như ngọc”, một nét đẹp chân quê giản mộc “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”… Khổ thơ cả nghĩa đen, lẫn nghĩa bóng toàn là niềm vui, háo hức, non tươi, phản chiếu một tâm hồn mở toang cửa cô đơn ra đón nhận cuộc đời. Thế mà lạ thay, Lã Nguyên dựa vào ngữ nghĩa nào để nhìn thấy luồng “khí lạnh thổi ra chút thoáng buồn man mác, bâng khuâng” từ khổ thơ đầu này?

Có lẽ do Lã Nguyên đã “thổi khí lạnh” của sự không hiểu được thơ nơi mình ra làm ám khí, ám hết vòm trời hồn thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, nên mới thấy “đám mây đen phủ kín tâm hồn thi nhân “trong hai câu: “Gió theo lối gió mây đường mây / Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”? Cả hai câu thơ đều ở thể “động”; nghĩa đen của chúng: tả trời quang mây, gió nhẹ, hoặc gió đã, đang đi theo lối riêng từ lúc nào, và mây cũng khuất vào chốn riêng tư đâu đó; nghĩa bóng có thể hiểu rằng “anh” với “em” vốn từ hai chân trời khác nhau đến đây, rồi lại đi mỗi người mỗi ngả; nhưng mây gió dẫu chia lìa đấy mà cũng xum họp đấy, tan hợp, hợp tan chỉ ngay trong phút chốc mà thôi?

Câu thơ tiếp theo tả cảnh “dòng nước buồn thiu” làm “phông” cho cảnh “hoa bắp lay” dìu dịu đẹp; một vẻ tươi xinh man mác, vời vợi, chẳng hề có chút âm u, tà khí của nỗi buồn bã nào cả. Nếu cứ để nguyên hai câu thơ đầu của khổ thơ thứ hai trên ra mà cảm nhận, tuyệt nhiên cũng không thể kết luận một cách khiêng cưỡng, áp đặt như Lã Nguyên rằng, có “đám mây đen phủ kín tâm hồn thi nhân” được. Huống hồ, muốn hiểu được nghĩa đen và nghĩa bóng của chúng, phải đặt chúng trong sự toàn vẹn của cả bốn câu thơ. Hãy đọc hai câu thơ cuối của khổ thứ hai: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay”, ta thấy cả một đất trời lộng lẫy dát bằng vàng trăng thì ít, mà dát bằng niềm vui, niềm hi vọng thì nhiều. Hai câu thơ vui như tâm trạng của kẻ vớ được vàng, rộn rã, tưng bừng cả một thế giới chớm yêu, chớm nỗi hồi hộp, mong chờ, sao lại viết hết sức sai lạc như Lã Nguyên là những câu thơ trên đã “phủ kín đám mây đen lên tâm hồn nhà thơ”, khi trong tâm hồn đó vừa mở ra cả một thế giới đầy nắng, đầy trăng, đầy sương khói xa mờ?

Trong đoạn bình giảng trên, tác giả còn mắc một lỗi khác là dám nói xấu hoa bắp (tức hoa ngô) rằng, mày là thứ hoa “màu xám, vô duyên”. Thưa, hoa ngô đích thị màu trắng chứ không phải xám như ông Lã Nguyên viết. Có thể vì ông dứt khoát muốn bức thuỷ mặc đầy nắng, đầy trăng của Hàn Mặc Tử phải ám khí, phải tối đen mà “xám hóa” cho hoa ngô đang dâng một trời phấn trắng chăng ? Thứ nữa, “hoa bắp lay” rất sống động, rất gợi cảm, hoàn toàn không “vô duyên” như Lã Nguyên viết ; nhất là cảnh “hoa bắp lay” ngay giữa hồn bức tranh sông nước nhà thơ vừa họa nên, khiến nó càng thêm gợi cảm, duyên dáng. Những phần tiếp theo của “Đây thôn Vĩ Dạ” vẫn được ông Lã Nguyên “giải mã” bằng cách “thổi ra khí lạnh” của mình làm tối sầm cả ánh nắng, ánh trăng, làm đen ngòm cả “áo trắng” của “em thơ” Hàn Mặc Tử.

Như trên đã trích dẫn và phân tích, trong trường hợp “Đây thôn Vĩ Dạ”, Lã Nguyên không chỉ thiếu tài thẩm thơ, mà ông còn mắc nhiều lỗi về phương pháp luận.

Lã Nguyên đã lấy nội hàm của chủ nghĩa lãng mạn (romantisme) để giải mã “Đây thôn Vĩ Dạ” là một sai lầm về điểm nhìn, như ông viết: “Với đây thôn Vĩ Dạ” Hàn Mặc Tử vẫn đứng giữa mảnh đất của thi ca lãng mạn, chưa bước qua địa hạt của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực”. Phong trào Thơ Mới 1932-1945 đã từng được gọi một cách chưa chính xác là “thơ lãng mạn”.

Dù trào lưu thơ này từng bị ảnh hưởng thơ lãng mạn, thơ tượng trưng Pháp nhưng tựu trung, vẫn lấy chất trữ tình truyền thống làm nền tảng, kể cả bài thơ chúng ta đang nhắc đến. Vì thơ là món ông Lã Nguyên “xa lạ”, nên mới “dũng cảm” viết như sau, dù ông đã cẩn thận đặt thêm chút nghi vấn vào kết luận của mình bằng chữ “hình như”: “Đây thôn Vĩ Dạ” hình như không có chút bóng dáng nào của Đường thi, Tống thi”. Thưa rằng, nhịp thơ bảy chữ bài thơ này vẫn còn thấp thoáng nhịp đi của thất ngôn Đường thi, còn ảnh hưởng thi pháp ước lệ thơ Đường, Tống như: “xanh như ngọc”, “lá trúc”, “nhân ảnh”, cảnh “thuyền trăng” “sông trăng” đều đã từng được trôi qua thơ Đỗ Mục, Trương Kế, Nguyễn Trãi, rồi ghé đậu vào đêm trăng Vĩ Dạ của Hàn…

Lã Nguyên còn một nhầm lẫn về điểm nhìn khác: việc ông so sánh giữa “thơ cổ điển” và “thơ lãng mạn” xét theo mô hình của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây, áp dụng vào giải mã thơ Trung Quốc và thơ Việt Nam đều sai lạc. Ví dụ như khi ông viết: “Ý là điểm tựa, là hạt nhân cấu trúc của thơ cổ điển”… “Thơ lãng mạn không dựa vào ý, mà lấy tình làm điểm tựa cấu trúc”. Chúng tôi xin mượn lời Bạch Cư Dị và Lê Quý Đôn để bác lại điều ông Lã Nguyên “phán” về thơ cổ điển trên. Bạch tiên sinh viết: “Thơ tình là gốc, ý là ngọn, lời là hoa, nghĩa là quả”. Lê tiên sinh viết: “Ta thường làm thơ có ba điều chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự”.

Chính vì dùng hệ quy chiếu của chủ nghĩa lãng mạn, thậm chí còn dùng cả thước đo của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực áp đặt lên “Đây thôn Vĩ Dạ” theo phép “cắt chân cho vừa giày”, càng giải mã, Lã Nguyên càng sai lạc với tinh thần bài thơ. Đến nỗi, thay vì làm sáng bừng hồn thơ Hàn Mặc Tử, ông lại chỉ bôi đen lên bức tranh đầy nắng, đầy trăng, đầy khói sương này toàn bộ nhọ nồi và muội đèn của sự ngộ nhận. Ví như khi ông Nguyên viết: “Bởi vì, thoắt cái, một cõi nhân gian ăm ắp sự sống, mướt mát sắc màu, rưng rưng một vẻ e ấp trinh nguyên, đã nhường chỗ cho vũ trụ lạc điệu, hiu hắt, vô sắc, vô hương.

Mọi chi tiết phong cảnh hóa thành nét vẽ của một tâm trạng u tối, cô đơn”…” của một cõi lòng nguội lạnh giá băng”. Cùng là ánh nắng thực, ánh trăng thực được tả trong thơ, lúc ông Nguyên bảo “Nắng là ánh sáng của cõi thực”, lúc lại bảo “Trăng là ánh sáng của cõi mộng” là sao ? Ngay cả chuyện đương nhiên của “Đây thôn Vĩ Dạ” là toàn bộ nghĩa đen và cả một phần nghĩa bóng của bài thơ cũng bị ông Lã Nguyên phủ nhận sạch trơn, thì còn gì là Hàn Mặc Tử nữa hả trời, như chính ông viết : “Nhiều người giảng bình khổ thơ của Hàn Mặc Tử đã lầm tưởng đây là bức tranh tả thực vẻ đẹp thơ mộng của Vĩ Dạ, vùng nông thôn ngoại thành xứ Huế” ? Muốn đi sâu tìm hiểu bài thơ ở những chiều kích khác, không gian khác ngoài mặt phẳng thơ, việc trước tiên là cần phải thừa nhận rằng, đây chính là bức thủy mặc bằng thơ Hàn Mặc Tử vẽ thôn Vĩ Dạ. Giật bức tranh của chính nhà thơ ném xuống sông cho chìm nghỉm, rồi hè nhau lặn xuống mò, đó phải chăng là cách “giải mã” thơ của ông Lã Nguyên?

“Đây thôn Vĩ Dạ” là bức tranh đẹp bằng thơ của Hàn Mặc Tử. Bài thơ – tiếng nói trữ tình đã bị ông Lã Nguyên bôi bẩn bằng cách vu cho nó là “chuỗi phát ngôn thác loạn”. Cảnh vật tươi đẹp rưng rưng vui buồn, mơ mộng của bài thơ đã bị ông Lã Nguyên cho là “những hình hài méo mó, dị dạng giống như bóng dáng của yêu ma”. Tâm hồn yêu đời, mở toang cửa ra đón tình yêu của nhà thơ cũng bị ông Lã Nguyên dùng “bệnh mù thơ” của mình “thổi ra khí lạnh” mà “phủ đám mây đen” tang tóc lên toàn bộ thế giới “Đây thôn Vĩ Dạ”.

Chao ôi, ông Lã Nguyên lấy ở đâu ra nhiều bóng tối thế để phủ lên cả vòm trời Vĩ Dạ đang tươi non mối tình đầu giữa trời và đất, giữa ánh nắng và ánh trăng, giữa sương khói và nhân ảnh, giữa áo trắng hữu hạn và cái nhìn vô cùng, giữa mây và gió, giữa “anh” và “em” ? Than ôi, giá mà Hàn Mặc Tử sống lại, đọc được bài bình thơ “mẫu mực” này, chắc chắn ông sẽ sợ hãi mà co cẳng chạy thẳng vào hư vô; để thoát khỏi nguy cơ bị ông Lã Nguyên ném nhà thơ vào một “vũ trụ lạc điệu, hiu hắt, vô sắc, vô hương” đầy bóng tối và yêu ma, thác loạn mà ông vừa dựng lên để giết chết “Đây thôn Vĩ Dạ”!



                                                        Trần Mạnh Hảo
                                                                                                                                                                      Sài Gòn...
                                                                                                                                                                         (từ: Fb)
 



                                  *

Mời đọc

Nhà thơ Thành Tôn và Nguyễn Vũ đã tiếp tục thực hiện ebooks cho
Tân Truyện và Tạp Ghi Văn Nghệ

Sấp Ngửa

Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=s_p_ng_a__opt__-_tr_n_y_n_ho_
Mẫu Hệ
Xin click vào:
https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=m_u_h___opt__-_tr_n_y_n_ho_

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa

Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=h_n_55_n_m_l_m_th___opt__-_tr_n_y_n
Đi Mỹ
Xin click vào:
https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=_i_m___opt__-_tr_n_y_n_ho_

---------------------------------------------------------------------------------------------------

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, June 11, 20199:14 PM(View: 156)
Người đời nói nhiều về tình bạn giữa nhạc sĩ Văn Cao và nhạc sĩ Phạm Duy. Có nhiều điều thiếu chính xác.
Monday, June 3, 20198:42 PM(View: 137)
Chất giễu nhại mạnh mẽ, sung mãn, tưng bừng, lối viết trực ngôn, trực diện
Wednesday, May 29, 20198:04 PM(View: 176)
Nhớ Trịnh thì nhớ những gì? Nhớ
Saturday, May 25, 20198:20 AM(View: 221)
Trần Ngọc Thêm, người ấu trĩ dốt nát,
Monday, May 20, 20199:12 AM(View: 216)
“Sao bây giờ nhiều nhà thơ thế?”. Đó là câu hỏi của anh bạn tôi