DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,867,457

Đọc Thơ Phạm Cao Hoàng - Trần Yên Hòa

25 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 32747)
Đọc Thơ Phạm Cao Hoàng - Trần Yên Hòa


TRẦN YÊN HÒA

 

Đọc Thơ Phạm Cao Hoàng


Từ lâu, ở hải ngoại, tôi tìm hoài, đọc hoài mà tìm không ra một bài thơ hay và (thêm) một người làm thơ hay. Lớp trẻ thì hình như quen với nếp sống Mỹ, văn hoá Mỹ, nên không làm thơ bằng tiếng Việt, hay làm thơ không có hơi thở Việt Nam. Còn lớp già thì tàn lụi đi. Trong những năm gần đây, tình hình văn chương hải ngoại có bề xuống dốc mạnh, các tạp chí văn học vang bóng một thời như Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21 cũng lần lượt đình bản. Nan đề chính khiến các tạp chí trên đình bản là vấn đề tài chánh, tiền in lên cao, người đọc giảm, không có hệ thống phát hành rộng rãi, kèm thêm sức viết của các tác giả hải ngoại khựng lại, quanh đi quẫn lại cũng chừng ấy đề tài, nhà văn với văn phong cũ, không có tài năng mới, nhà văn cũ đã bị lão hóa đi, cho nên sự khựng lại của sinh hoạt văn học nghệ thuật đã khiến nhiều người quan tâm lo lắng.

Trong thời gian này, phải nói, tôi nhờ Thư Quán Bản Thảo, do nhà văn Trần Hoài Thư chủ trương, một tập san ra 2 tháng một kỳ, gởi biếu đến cho độc giả, nhờ đó, tôi biết thêm nhiều nhà văn, nhà thơ, cũ, (nổi tiếng hay không nổi tiếng) trong nềân văn học miền Nam trước bảy lăm. (Cũng như nhà văn Trần Hoài Thư trong công trình thực hiện một số sách của các nhà văn nhà thơ miền Nam trước bảy lăm, là một công trình đáng nễ mặt). Nếu không thì tất cả sẽ mai mọt mất đi thôi.

Trong số sách (thơ, tập truyện ngắn hay truyện dài) mà Thư Ấn Quán ấn hành, mới đây nhất, tôi đọc được tập Mây Khói Quê Nhà, thơ của Phạm Cao Hoàng. Một tập thơ có nhiều bài thơ đã viết cũ (những năm trước bảy lăm), có nhiều bài hay.

Phạm Cao Hoàng xuất hiện trong thơ ca miền Nam trước bảy lăm khá nhiều. Tuy nhiên, tôi không có dịp đọc nhiều, hình như chỉ hai, ba bài gì đó. Nhưng cái ấn tượng ngày ấy, cách đây ba, bốn mươi năm với bây giờ, cầm trên tay cuốn Mây Khói Quê Nhà của Phạm Cao Hoàng, tôi không cảm thấy khác gì mấy, cũng vẫn thấy được cái sung sướng, ngất ngây, bồi hồi, xúc động khi được đọc một (hay những) bài thơ hay.

Đọc được một bài thơ hay là một hạnh phúc, hạnh phúc đó thật hiếm hoi trong những năm gần đây, đối với tôi. Cũng có chứ không phải là không, nhưng rất ít, như tôi đã nói trên, số nhà thơ làm thơ hay bây giờ đếm trên đầu ngón tay, lại không đều, một tập thơ đọc chỉ thích vài bài. Có “ông nhà thơ” ở xa, tặng tôi một tập thơ của ông, kèm theo một lô báo chí ông copy các tác giả viết về thơ ông, khen ông vút lên tận mây xanh, nhưng tôi (cố) đọc hết tập thơ gần 50 bài, mà sàn đi sàn lại, xơí lên xới xuống, không có bài nào ra hồn. Thơ ông đọc như ăn phải trấu, lổn ngổn, lảng ngảng, lốc cốc leng keng. Cho nên thú thật, hải ngoại có cả trăm, thậm chí cả ngàn người làm thơ, nhưng chọn ra đúng danh nhà thơ hay thi sĩ, tôi nghĩ chỉ vài ba chục người là cùng.

*

Trở lại thơ Phạm Cao Hoàng, tôi đọc thơ anh hồi còn tuổi thanh niên phơi phơi, bây giờ tìm lại trong tập thơ này, tôi vẫn giữ cảm xúc ấy, bồi hồi và xúc động.

Như bài thơ sau đây:

phamcaohoang1_1_-thumbnail

 Nhớ Cúc Hoa

 

Đất anh ở và rừng anh thở

sáng anh đi chiều lại trở về

rừng vi vút những đêm gió thổi

bóng anh chìm như bóng hư vô

 

Đôi khi đứng bên triền đá dựng

anh hoang mang sợ núi đè mình

có khi thấy con chồn con cáo

anh giật lùi lòng thoáng hoảng kinh

 

Anh đi qua rừng cao quá đổi

anh đi về rừng quá đổi cao

anh thu mình như con sâu nhỏ

nằm rung rinh giữa đám lá rì rào

 

Và buồn thảm ôi những chiều lặng lẽ

núi và anh thành hai kẻ đăm chiêu

núi ngó anh và anh ngó núi

núi đụng trời anh đụng nỗi đìu hiu

 

Đất anh ở và rừng anh thở

quá lâu ngày nên thấy hoang mang

anh sống dở và anh chết dở

giữa núi rừng cao ngất ngàn năm

 

Tôi không biết về những ngày trước bảy lăm của Phạm Cao Hoàng, theo như bản tiểu sử vắn tắc là anh chỉ đi dạy học. Nhưng bài thơ trên mang hơi hám rất lạ, hơi hám của một người lính đi hành quân qua núi, qua đèo, băng đồng, vượt suối. Nhưng cái tâm trạng của người trong cuộc, luôn luôn bị ám ảnh của nỗi buồn, nỗi buồn của thân phận bé nhỏ khi đứng trước núi cao, nỗi buồn thảm đó khiến cho người trong cuộc thu mình lại như con sâu nhỏ, nằm quạnh hiu giữa đám lá rì rào. Đứng trước núi, tác giả cảm thấy một nỗi đìu hiu quá lớn.

 Núi ngó anh và anh ngó núi

Núi đụng trời anh đụng nỗi đìu hiu.

 *Đọc suốt trong khoảng 35 bài thơ Phạm Cao Hoàng viết từ những năm 1969 - Đi giữa chiến tranh - 1970, Giáng Sinh ở Việt Nam, Bạch tiễn tôi ra ngã ba Duông, 1971, Hành phương Đông, Những nhịp cầu đen buồn bã, Thơ tặng người tuổi trẻ, Đời như một khúc nhạc buồn, Khúc tiễn Therèse Kh. Bờ đá, Những bông hoa trắng và mưa, 1972, Bên dòng sông tuổi thơ, Gã hàn sĩ ấy lại ra đi, Cuối năm ở trạm Hành, Một bông hồng nở giữa tim anh, 1973, gởi H và Qui Nhơn, Mùa mưa này không còn ai, Thầm nhớ biển, Mèo ốm ạ, Bây giờ là mùa mưa, Tháng chạp rồi, Anh phải về, Mùa Phượng Hồng, Mùa thu trở lại trường, 1974, Gởi em Đà Lạt, Nhớ Cúc Hoa, 1976, Sau chiến tranh trở lại Tuy Hoà, 1996, trở về thăm mái trường xưa, 2009, Bây giờ...

*

Nghĩa là thơ Phạm Cao Hoàng dàn trải suốt cả thời tuổi trẻ của anh, nhưng năm 69, 70, 71, 72, 73, 74...anh đã có những bài thơ rất tuyệt.

Đọc thơ Phạm Cao Hoàng tôi thấy một nỗi buồn xa vắng, nhẹ nhàng xâm chiếm hồn mình, nhưng không bi quan, yếm thế. Có thể thể thơ 7 chữ, 8 chữ anh dùng nhiều trong suốt tập thơ, đã làm tôi phấn chấn, vì tôi cũng rất thích thể thơ này.

*

Tôi xin lặp lại một lần, nhiều lần mà vẫn không nhàm chán, là nhờ Thư Quán Bản Thảo và công sức của nhà văn Trần Hoài Thư mà tôi có được biết thêm một số sinh hoạt của anh em văn nghệ miền Nam trước năm 1975. Như Phạm Cao Hoàng, trong Thư Quán hay trong tập Mây Khói Quê Nhà này, đã cho tôi biết thêm về những ngày tháng của anh em văn nghệ sống ở Quy Nhơn hay Tuy Hoà.

 Sau đây tôi xin trích một vài đoạn ngắn Phạm Cao Hoàng viết kể lại những ngày tháng tuổi trẻ của các anh:

Với Quy Nhơn:

Căn nhà chúng tôi thuê nằm ở cuối đường Nguyễn Thái Học, thuộc Khu 6, Qui Nhơn. Đây là nơi gặp gỡ thường xuyên của chúng tôi: Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn, Nguyễn Huy Hoàng, Hoàng Ngọc Châu, Lê Văn Trung, Phạm Cao Hoàng...

Nguyễn Phương Loan ở tận trên Pleiku, thỉnh thoảng mới ghé lại. Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn, Nguyễn Huy Hoàng ở ngoài mặt trận, thường cuối tuần mới về. Hoàng Ngọc Châu có nhà ở dưới phố. Lê Văn Trung ở với anh chị ở khu 2. Còn tôi là người “trụ trì”.

Nói là căn nhà nhưng thật ra chỉ là một căn phòng không lớn lắm, đủ chỗ cho một hoặc hai người, tuy nhiên, khi cần thiết mười người cũng không sao. Cuối tuần, Lê Văn Trung và tôi lóng ngóng xem anh em ngoài mặt trận có ai về không?

Mỗi người một tính. Anh Nguyễn Huy Hoàng ân cần, chu đáo. Phạm Văn Nhàn vui vẻ cởi mỡ. Trần Hoài Thư lang bạt, bất cần đời. Hoàng Ngọc Châu từ tốn. Lê Văn Trung thâm trầm, ít nói. Cửa của căn phòng không có ổ khóa vì chúng tôi chẳng có gì để mất. Bên trong chỉ có vài ba ký gạo và một ít quần áo. Ai đến cứ tự nhiên vào, có gì ăn nấy, nghỉ ngơi và viết lách. Ai muốn viết kiểu gì cứ viết, muốn đăng báo nào cứ đăng. Người viết khoẻ nhất là Trần Hoài Thư. Anh viết rất dễ dàng, viết bất kỳ ở đâu, kể cả những nơi ồn ào đầy tiếng động...

Vậy mà chúng tôi quý nhau vô cùng. Gặp lúc nào là vui lúc ấy, và chưa bao giờ chúng tôi có điều gì xích mích. Năm 1968, chiến trận trở nên khốc liệt hơn. Trung và tôi rất lo cho các bạn ở ngoài mặt trận. May mà tất cả các bạn đều trở về, trừ Nguyễn Phương Loan vĩnh viễn nằm xuống với núi rừng Pleime.

Năm 1969, chúng tôi mỗi người một ngã. Tôi vào Phan Thiết, Lê Văn Trung ra Quảng Ngãi. Hoàng Ngọc Châu lên Bảo Lộc. Trần Hoài Thư, Nguyễn Huy Hoàng, Phạm Văn Nhàn trôi giạt hết chiến trường này đến chiến trường nọ. Hồi đó đâu có điện thoại như bây giờ nên có một thời gian chúng tôi thất lạc nhau. Rồi Sài Gòn thất thủ, anh Nguyễn Huy Hoàng bệnh nặng qua đời, Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn qua Mỹ. Hoàng Ngọc Châu vẫn khói sương sương khói ở Bảo Lộc, Lê Văn Trung ở tù rồi ra làm công nhân xây dựng...

 Với Tuy Hòa

 Tuy Hòa là một thành phố biển giữa Nha Trang và Qui Nhơn, nằm bên bờ sông Đà Rằng, dưới chân núi Nhạn. Người Tuy Hòa hiền hòa hiếu khách, đặc biệt là rất yêu thơ.

Về đây tôi có dịp với những cây bút của Tuy Hòa và tham gia các sinh hoạt văn học nghệ thuật của thành phố dễ thương này.

Người tôi gặp gỡ nhiều nhất là anh Trần Huiền Ân, tác giả tập thơ Thuyền Giấy, nổi tiếng với những bài thơ đậm đà màu sắc quê hương...Một người luôn sát cánh bên Trần Huiền Ân và tôi là Đỗ Chu Thăng, tác giả tập Chân Trời Cũ. Đỗ Chu Thăng là một giáo sư toán thuộc loại giỏi, nỗi tiếng là nhà giáo nghiêm khắc với học trò. Ngoài đời, anh là một thi sĩ hiền hòa nhũn nhặn, được nhiều người quí mến và kính trọng...

Hình như buổi chiều nào tôi cũng gặp Phạm Ngọc Lư, Phạm Ngọc Lư gốc Huế, sau khi tốt nghiệp sư phạm về dạy ở Tuy Hòa.

Một gương mặt rất gần gũi với tôi là Mang Viên Long, anh gốc Bình Định, vào Tuy Hòa dạy học.

Tuy Hòa là nơi sản sinh ra nhiều cây bút viết truyện ngắn xuất sắc, một trong những cây bút đó là Nguyễn Lệ Uyên. Tuy Hòa còn một thi sĩ nổi tiếng rất sớm là Hoàng Đình Huy Quan, tác giả tập thơ Mở Cửa, lúc tuổi chưa tới 20, Hoàng Đình Huy Quan đã có tên trong ban biên tập tạp chí Văn Học ở Sài Gòn.

Nhắc đến văn nghệ Tuy Hòa không thể không nhắc đến Nguyễn Sông Ba, Khánh Linh, Triều Hạnh, Phan Bá Chức, Nguyễn Tường Văn. Bên cạnh đó, nhiều cây bút ở địa phương khác lâu lâu cũng ghé lại làm cho Tuy Hòa ấm áp thêm như Trần Hoài Thư, Lê Văn Nhàn, Lê Văn Trung, Tạ Chí Đại Trường, Đỗ Toàn, Nguyễn Âu Hồng, Nguyễn Sa Mạc, Lê Ký Thương, Huỳnh Hữu Võ, Trần Vạn Giã, Nguyên Minh, Võ Tấn Khanh...

 *

Tôi đã gặp may mắn đọc được trên Thư Quán Bản Thảo những mẩu chuyện của những bạn văn nghệ một thời sinh hoạt trước bảy lăm. Thuở đó tuổi chúng tôi còn rất trẻ, trên dưới hai mươi, hăm lăm.

Tôi may mắn đọc lại được những bài thơ trước năm bảy lăm rất hay của các bạn văn nghệ, mà thuở đó, vì bận cho một cuộc binh đao mà tôi chưa có dịp đọc.

Bây giờ, tìm một bài thơ hay để đọc khó như xuống bể tìm ngọc trai. Những người thơ cũ đã bị mòn đi, những người thơ mới đã lai hóa. Những Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Viên Linh, Cung Trầm Tưởng cũng đã hết một thời của mình. Thời của những nhà thơ hay một thuở đã qua, sự lão hóa thơ như nhan sắc của một người đàn bà đã đến tuổi xế chiều, nếu dùng dao kéo cũng chỉ kéo lại (chút xíu) tuổi thanh xuân. Rồi thôi, rồi cũng lão hóa.

Nhưng tôi may mắn và sung sướng vô cùng khi đọc (lại) thơ Pham Cao Hoàng. Dĩ nhiên là những bài thơ cũ, nhưng với tôi, đó là thứ nhan sắc vô cùng mới, đó không phải là thứ nhan sắc được kéo dài (cho dài ra) bằng dao kéo. Đó là cái thanh tân, mơn mởn thịt da xuân thì. Đó là những bài thơ rất tuyệt. Nhất là những bài thơ tình.

Theo Cao Thoại Châu thì:

“Thơ tình là một mảng bè mà tác giả của nó co ro ngồi trên đó như một kẻ sa cơ lỡ vận trắng tay trước một mối tình đã đi không quên, để lại một mớ gian truân khổ ải cho người ngồi trên mảng bè. Cho nên thơ tình là thơ hay nhất trong cõi nhân sinh này. Phạm Cao Hoàng có những câu thơ bi thiết mà tráng lệ”

*

Có thể thơ Phạm Cao Hoàng tôi mới đọc lần đầu (dầu rất cũ) nhưng đã cho tôi nhiều hơi hướm lạ, mà, tôi có thể nói rằng, đọc được một bài thơ hay khiến mình được sung sướng cả ngày. Nhưng tìm không ra. Bây giờ, tôi đọc được thơ Phạm Cao Hoàng, đã cho tôi sung sướng đến gần một ngày.

 

BẠCH TIỄN TÔI Ở NGÃ BA DUỒNG

 

 

Tay chưa vẫy mà lòng nghe ứa lệ

người tiễn tôi một sớm mùa thu

cám ơn em, hỡi người thiếu nữ

thôi, chia tay, xe lăn giữa bụi mù

 

Trong phút đó sao người chẳng nói

dù một lời cũng đủ buổi xa nhau

và trong mắt người có gì buồn bã

thoáng ngượng ngùng rồi sẽ quay mau

 

Hình như gió lộng qua màu áo

tóc người che mấy cõi trời sầu

xe lăn bánh tôi âm thầm khóc

có xa rồi lòng mới thấy đau

 

người tiễn tôi một sớm mùa thu

vàng dáng lá như dáng người tha thướt

đường thì xa vạn dặm mịt mù

những oan nghiệt làm sao ngờ được

 

Tôi phong sương nên không hề biết

con đường nào có lá me bay

con đường nào chân người in dấu

những tình buồn giữa buổi thu phai

 

Người cũng hiểu đời một tên đãng tử

có gì đâu ngoài cuộc sống buồn tênh

những thu qua rồi những mùa thu tới

một mình tôi rồi vẫn một mình

 

Người cũng thấy áo tôi không đủ ấm

chưa ba mươi mà tóc bạc trắng đời trai

ngày tháng cứ lạnh lùng một bóng

tôi điêu linh nay đã mấy năm rồi

 

Có lúc tôi nhủ thầm đời lạ nhỉ

tôi mà cũng có người đưa tiễn ư

tôi mà cũng có người con gái dáng như thu

cầm tay khóc giữa tình đời bội bạc

 

Bởi thế nên cám ơn, người nhé

xe lăn đi là cách biệt ngàn trùng

xe lăn rồi bụi mù trời giông bão

tóc thu người bay giữa hư không

1970

*

Đọc thơ Phạm Cao Hoàng và những ngày tuổi trẻ với bạn văn nghệ ở Tuy Hòa, Qui Nhơn, tôi như thấy chung quanh tôi còn thơm ngát hương bằng hữu và hương tình yêu. Tôi ghi lại đoạn thơ của Nguyễn Bắc Sơn về cái tình bằng hữu ấy:

Có khi nghĩ trời sinh một mình ta là đủ

Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời

Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn

Để choàng vai ấm áp cuộc vui chơi.

 Và cũng Nguyễn Bắc Sơn viết về đàn bà, hay tình yêu?

Ta nghĩ đàn bà người nào cũng như người nấy

Nên ta nhủ lòng thôi hãy quên em

Nhưng lại nghĩ, chắc gì đàn bà người nào cũng như người nấy

Nên suốt đời ta nhớ nhớ quên quên.

 Đó cũng là những đoạn thơ rất tuyệt.

 

 Trần Yên Hòa

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Bảy 20165:32 CH(Xem: 4212)
Chiếc Bus xuất hiện đầu ngã tư, vượt đèn xanh, chậm lại. Hắn rời trạm tiến vội ra lề đường. Thất vọng. Ba con số trước đầu xe không phải những con số hắn chờ đợi.
29 Tháng Sáu 20161:10 CH(Xem: 2605)
Tôi không muốn tỏ lộ nỗi buồn của mình, sợ Hường buồn hay bị chạm tự ái. Nhưng tình cảm của tôi như thế nào, Hường đều như nhìn thấy
28 Tháng Sáu 20166:37 CH(Xem: 3619)
Chú hai Nhân bước ra mé rạch vói hái mấy trái bần miệng ngân nga lên câu vọng cổ, trong lòng nghe lâng lâng, chú vừa lờ được mớ cá tôm
27 Tháng Sáu 20166:29 CH(Xem: 6833)
Chỉ cần đọc cái tựa tập truyện Một Thời U Ám với mẫu chữ hoa vàng xỉn in trên nền bìa đen của nhà văn Đỗ Xuân Tê
27 Tháng Sáu 20166:12 CH(Xem: 4797)
Một chiếc taxi đưa tôi về tới nhà. Chuông reo nhiều hồi, người chị Hai mới chạy ra. Giấc ngủ của chị người làm đã bị tôi phá vỡ. Tôi đẩy cánh cổng: "Bà hỏi gì tôi không?" Chị ta hỏi: "Bây giờ ông mới về?"