DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,124,632

BÙI GIÁNG

Saturday, November 20, 201012:00 AM(View: 35001)
BÙI GIÁNG


BÙI GIÁNG

(1926 - 1998)


Bùi Giáng (17 tháng 12 năm 1926-7 tháng 10 năm 1998) là một nhà thơ, dịch giả và nghiên cứu văn học của Việt Nam, ông nổi tiếng từ thập niên 1960 với tập Mưa nguồn. ông còn có các bút danh khác: Bán Dùi, Bùi Giàng Dúi.


20081123093838_1_-content


Ông sinh tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Bố của Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ cả qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con thứ hai của Bùi Thuyên với Huỳnh Thị Kiền nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn, ông được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng.

Sau khi học xong bậc tiểu học ở Trường Bảo An tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Bùi Giáng được gia đình cho ra Huế tiếp tục học ở Trường Trung học Thuận Hóa, đang học thì thế chiến thứ hai nổ ra, Nhật hất cẳng Pháp. Sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành Chung.

Bùi Giáng cưới vợ năm 18 tuổi (1944), vợ ông là bà Phạm Thị Ninh nổi tiếng xinh đẹp, nhưng chỉ vài năm sau, bà bị bệnh, sinh non và cả 2 mẹ con cùng chết. Nhiều người cho rằng đây là 1 trong những lý do khiến Bùi Giáng bị điên từ lúc trẻ.

Rồi Bùi Giáng theo kháng chiến. Năm 1950, khi có kỳ thi tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, Bùi Giáng dự thi và đậu Tú tài 2 văn chương. Ông qua Liên khu IV, tới Hà Tĩnh, để tiếp tục vào học đại học bằng cách đi bộ theo đường mòn trên núi hơn một tháng rưỡi trời. Nhưng khi đến nơi, không hiểu sao ngay trong ngày khai giảng, Bùi Giáng đã quyết định bỏ học để quay ngược trở về Quảng Nam rồi theo chân đàn bò rong ruổi khắp các vùng đồi núi 2 năm.

Tháng 5-1952, Bùi Giáng ra Huế thi lấy bằng tú tài để có thể vào Sài Gòn theo học ĐH. Nhưng một lần nữa ông lại bỏ học khi đọc danh sách các giáo sư giảng dạy ở ĐH Văn khoa. Sau sự cố này, Bùi Giáng không bao giờ đi học nữa.

Rồi Bùi Giáng chuyên tâm vào việc nghiên cứu, viết sách và sáng tác thơ văn. Những người thân cận cho biết ông đã về quê bán tất cả ruộng vườn được thừa kế để lấy tiền in sách.Từ năm 1957, ông lần lượt cho ra đời một loạt sách giới thiệu về văn học Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm...Ông nổi tiếng bởi tốc độ sáng tác nhanh: tập thơ Mười hai con mắt được ông sáng tác chỉ trong một đêm Noel.

Từ năm 1962, Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi năm đều đều vài ba cuốn. Ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam Việt Nam trước 1975. Sách của ông có thể chất thành chồng cao cả mét, thơ thì phải kể bằng đơn vị nghìn bài.

Năm 1969, tất cả sách vở cùng với nhà cửa bị một cháy hết trong một cơn hỏa hoạn. Ông bị sốc nặng, từ đó trở đi ông là bệnh nhân quen thuộc của viện dưỡng trí Biên Hòa.

Sau năm 1975, ông không bị đi học tập cải tạo như nhiều văn sĩ miền Nam khác vì ông bị mắc bệnh tâm thần.

Từ 1975 trở đi ông vẫn tiếp tục sáng tác rất nhiều thơ, nhưng thời gian này ông có biểu hiện bệnh tâm thần nặng. Ông thường rong chơi nghịch ngợm ngoài đường với bộ đồ rách rưới, dơ dáy, nhiều lần bị công an bắt vì gây rối trật tự, cản trở giao thông.

Tháng 10 năm 1998, trong một lần đi chơi ông bị té làm chấn thương sọ não. Sau khi hỏi ý kiến của nghệ sĩ Kim Cương, bệnh viện chợ Rẫy quyết định mổ cho ông, song ông đã qua đời vào ngày 7 tháng 10, 1998.

 Chuyện tình cảm

Bùi Giáng chỉ có 1 vợ là bà Phạm Thị Ninh, một thiếu phụ hồng nhan bạc mệnh đã để lại cho ông nhiều đau khổ. Đó là lý do để trong thơ của ông sau này thường xuyên nhắc đến sự mất mát, sự chia ly, một hình bóng cũ: "Có hàng cây đứng ngóng thu/ Em đi mất hút như mù sa bay; hay những dòng thơ trên bia mộ của Bùi Giáng:

Đùa với gió, rỡn với vân
Một mình nhớ mãi
gái trần gian xa
Sương buổi sớm, nắng chiều tà
Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu

Song ngoài người vợ đầu, Bùi Giáng cũng có những đối tượng khác để yêu, để làm thơ, ngoài mối tình đơn phương nổi tiếng giành cho nghệ sĩ Kim Cương, còn phải kể đến những mối tình vượt không gian với những mỹ nhân Tây Phương như Marilyn Monroe (mà ông gọi là Lyn-rô), Brigitte Bardot, ngoài ra trong thơ ông còn có những hình bóng của ca sĩ Hà Thanh, Thái Thanh, ni cô Trí Hải tức là Phùng Khánh (ông gọi là Mẫu thân Phùng Khánh), hay cả những nhân vật tiểu thuyết Marguerite, A Châu, A Tử.

Riêng mối tình đối với Kim Cương được cho là sâu đậm nhất, và đã để lại khá nhiều giai thoại.

Tác phẩm

Thơ

  • Mưa nguồn (1962)
  • Lá hoa cồn (1963)
  • Màu hoa trên ngàn (1963)
  • Mười hai con mắt (1964)
  • Ngàn thu rớt hột(1967)
  • Rong rêu (1972)
  • Thơ vô tận vui (1987)
  • Mùa màng tháng tư (1987)
  • Mùi Hương Xuân Sắc (1987)
  • Đêm ngắm trăng (1997)

 Dịch thuật

  • Trăng châu thổ
  • Hoàng Tử Bé
  • Khung cửa hẹp
  • Hòa âm điền dã
  • Ngộ nhận
  • Cõi người ta
  • Nhà sư vướng luỵ

Nghiên cứu

  • Tư tưởng hiện đại (1962)
  • Martin Heidgger và tư tưởng hiện đại (1963)
  • Đi vào cõi thơ
  • Thi ca tư tưởng
  • Một vài nhận xét về bà huyện Thanh Quan
  • Một vài nhận xét về Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm, quan Âm Thị Kính
  • Vài nhận xét về truyện Kiều và truyện Phan Trần
  • Sa mạc phát tiết (1965)
  • Sa mạc trường ca (1965)
  • Bài ca quần đảo (1969)
  • Mùa thu trong thi ca
  • Ngày tháng ngao du

Thơ Bùi Giáng


Một Buổi Trưa

 

 

Một buổi trưa nắng vàng in trên tóc

Mây trên trời xuống phủ ở trên vai

Màu phương cảo pha mờ trên nét ngọc

Bước ngại ngùng nẻo mộng mấy lần sai.

 

Em có định sẽ cùng ai kể lể

Một nỗi đời hư huyễn giữa chiêm bao

Vừng hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ lệ

Một mùi hương nồng tụ ở nơi nào

 

Câu chuyện ấy một lần em đã rõ

Để bây giờ không thể lại phanh phơi

Đường đi xuống khung trời sương lổ đổ

Hờn dung nhan em có sợ bên người?

 

Con mắt ấy vì sao em khép lại

Làn mi kia em thử ghé lên nhìn

Vòng tay đẹp như cành xuân thơ dại

Ngón la đà sao chẳng chịu đưa tin

 

Một buổi trưa nắng vàng in trên tóc

Lùa chân mây về ở dưới chân trời

Bước vội vã một lần nghe gót ngọc

Giẫm trang đời lá rụng uá thu phai

 (Mưa nguồn)

 

Ly Tao I

 

Giờ ngẫu nhĩ như hồng bay em ạ

Và yêu thương như lá ở bên hoa

Và luyến ái như tơ vàng bốn ngả

Bủa vi vu như thoáng mộng la đà

 

Em đã lại với đời về nắng ấm

Thắm không gian thương nhớ bóng hình em

Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm

Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm

 

Anh mơ ước với ngàn xuân mở rộng

Quên não nùng sa mạc của yêu thương

Chân cứ bước theo nhịp hồn cử động

Em là em anh đợi khắp nẻo đường

 

Em có nụ cười buồn buồn môi mọng

Em có làn mi khép lá cây rung

Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng

Hồ gương ơi! sao sóng lục vô chừng!

 

Con mắt ấy có gieo buồn rớt lệ

Trên nẻo đường lạnh lẽo lối lang thang

Môi thắm ấy mấy lần thao thức kể

Với đèn khuya vò võ mộng khôn hàn

 

Trời đất nhớ lần đầu ... năm trước ...

Đó một lần đôi mắt đã nhìn lên

Và trời hiểu ngày sau đôi mắt ngước

Một lần kia sẽ còn dịp đáp đền

 

Em ở lại với đời ta em nhé

Em đừng đi. Cho ta nắm tay em

Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ

Vào trong mơ em mộng giấc êm đềm

 

Ta sẽ đặt mười ngón tay lên mắt

Để nhìn em qua khe hở du dương

Vòng theo máu hai vòng tay khép chặt

Ồ thưa em ta thấy mộng không thường

 

Ly Tao II

 

Bàn chân bước nghe một lần sóng dậy

Sắc khuynh thành một thuở động binh đao

Người lên ngựa ngoảnh đầu về có thấy

Bờ xa bay tuyết bạch phủ sương đào.

 

Vì mong đợi ngày về xuân hối hả

Ở bên mành thỏ lặn bóng ngàn dâu

Sầu lục thúy sầu thu sen thủy tạ

Mộng hoa đầu trong nước ngập theo nhau

 

Vì con mắt một lần kia đã ngó

Giữa nhân gian bủa dựng một màu trời

Đài vũ trụ hồn chiêm bao rạng tỏ

Một nụ cười thế giới sẽ chia đôi

 

Giòng nước bạc giòng sông trôi theo dõi

Cuối chân trời hình bóng một chân mây

Đời xiêu đổ nguồn xưa anh trở lại

Giữa hư vô em giữ nhé chừng này

 

Ly Tao III

 

Em đi về như mây núi đầu xuân

Gió bay qua nước chảy suối vô cùng

Mừng như thể hôm qua về đồng nội

Buồn bã cũ đã bẽ bàng bước vội

Để bây giờ còn một mối riêng tây

Lời nhân gian không tiếng để phơi bày

Thu trăng mộng như trang mờ cổ lục

Mưa vội vã như bình minh thúc giục

Vào nhớ nhung như vào giữa hội hoa

Lá xanh xao như cành nhánh gật gù

Và thánh thót đến cây già cổ thụ

Anh lại thấy một trời xưa đã cũ

Đã đi về cùng với gót chân em

Đã đi qua cùng với cánh tay mềm

Anh mở miệng không nói lời nào cả

Vì bất chợt thấy môi cười em ạ

Vì vui mừng xa lạ bỗng quen nhau

Vì vu vơ vui sướng ngó pha màu

Cây im cỏ nước cợt cồn đùa cát

Và vạn vật rủ rê nhau bát ngát

Dàn mênh mông vây bủa gió xa bay

Anh đến bên em ghé sát mi mày

 

Muà Xuân hẹn Thu về em trở lại

Ta nhìn nhau trong bóng nước mơ màng

Nước chảy mãi bởi vì xuân trở lại

Với giòng trong em hạn ở bên đường.

 

Em sẽ khóc khi nhìn trong khóe mắt

Thấy một mình người đi lại lang thang

Còn ghi giữ ân tình trong cỏ nhặt

Múa vi vu vì hẹn với truông ngàn.

 

Ta sẽ đợi nghe đời em kể lại

Thuở xưa kia ... bờ nước ấy xưa kia

Ta sẽ đợi nghe đời em nói mãi

Bên đời ai vẫn đợi đã chia lià .

 

Mùa xuân hẹn thu về em trở lại

Bên đời đi còn giữ mãi hay không

Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại

Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng

 

Anh Lùa Bò Vào Đồi Sim Trái Chín

 

Anh lùa bò vào đồi sim trái chín

Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim

Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín

Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh

 

Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa

Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh

Chim ngây ngất vào trong đôi mắt lả

Anh lim dim cho chết lịm hồn mình

 

Anh quên mất bò đương gặm cỏ

Anh chỉ nghe tiếng cọ rì rào

Có hay không? bò đương gặm đó?

Hay là đây tiếng gió thì thào?

Hay là đây tiếng suối lao xao

Giữa giòng cỏ xuôi ghềnh chảy xuống?

 

Mùi thoang thoảng lách lau sương đượm

Mùi gây gây gấy gấy của hương rừng

Mùi lên men phủ ngập mông lung

Không biết nữa mà cần chi biết nữa

 

Cây lá bốn bên song song từng lứa

Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn

Hạnh phúc trời với đất mang mang

Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ

Với người ngó ngất ngây đương nằm đó

Không biết trời đất có ngó mình không

 

Nỗi Lòng Tô Vũ 

 (Kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê ở núi đồi

Trung Việt Nam Ngãi Bình Phú)

 

Đồi tăm tắp chạy về ôm chân núi

San sát đồi phủ phục quấn núi xanh

Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối

Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh

 

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức

Nhảy múa tung sườn núi vút giòng khe

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức

Vang vang lên đồi núi giọng be be

 

Những bận nào Trà Linh qua Đá Dừng Hòn Dựng

Dùi Chiêng về Phường Rạnh ngược Khe Rinh

Bao lần anh cùng chúng em lận đận

Bôn ba qua rú rậm luống rùng mình

 

Những bận nào Quế Sơn Rù Rì con suối ngược

Nước trôi nguồn nước lũ xuống phăng phăng

Những bận nào mịt mùng mưa gió ướt

Đẫm thân mình co rúm lạnh như băng

 

Em nhớ hay không? hồn hoa dại cỏ

Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya

Vàng cao gót nai đầu truông hãi sợ

Gió cây rung trút lá mộng tan lìa

 

Nhưng từ nay Giáp Nam anh đóng trại

Cố định rồi - em khỏi ngại ngày đêm

Dưới nắng mưa tha phương du mục mãi

Cay đắng từng, bùi ngọt mặn mà thêm

 

Chiều hôm nay bên chó vàng chễm chện

Anh lặng nghe em bé hé bên sườn đồi

Khoanh mấy vòng tay anh thoăn thoắt bện

Vòng cho em từng chiếc sắp xong rồi

 

Chiều đã xuống em đà no nê chắc

Huýt tù và! em xúm xít lại anh đeo cho

Mỗi chúng em mỗi vòng mây mỗi sắc

Lại mau đây! to nhỏ cổ anh so

 

Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm

Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu

Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh

Này em Hoa Cà, hỡi! chiếc nâu

 

Ngẩng đầu lên! dê ơi anh thong thả

Đeo vòng vào em nghển cổ cong xinh

Ngẩng đầu lên! đây lòng anh vàng đá

Gửi gắm vào vòng mây nhuộm tơ duyên

 

Ngẩng đầu lên nhìn anh mờ mắt lệ

Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi

Trao người em trăm năm lời ước thệ

Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi

 

Vòng em xong, vòng anh dành riêng chiếc

Dành riêng mình - Dê hỡi hiểu vì sao?

Vì lòng anh luống âm thầm tha thiết

Gán đời mình trọn kiếp với Dê Sao

 

Nhìn anh đây các em Vàng Đen Trắng

Tía Hoa Cà lổ đổ thấu lòng chưa?

Từ từ đưa chiếc vòng lên thủng thẳng

Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa

 

Và giờ đây một lời thề đã thốt

Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta

Cao lời ca bê hê em cùng thốt

Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha

 

Và giờ đây hoàng hôn mờ trĩu nặng

Bốn bề tràn lan bóng mịt mùng sa

Xếp hàng ngay nhanh lên hàng ngũ thẳng

Rập ràng về bế hế rập ràng ca

 

Chào Nguyên Xuân 

 

Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước miên trường phía sau

Tóc xanh dù có phai màu

Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng

 

Xin chào nhau giữa lúc này

Có ngàn năm đứng ngó cây cối và

Có trời mây xuống lân la

Bên bờ nước có bóng ta bên người

 

Xin chào nhau giữa bàn tay

Có năm ngón nhỏ phơi bày ngón con

Thưa rằng: những ngón thon thon

Chào nhau một bận sẽ còn nhớ nhau

 

Xin chào nhau giữa làn môi

Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam

Thưa rằng bạc mệnh xin kham

Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây

 

Xin chào nhau giữa bụi đầy

Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu

 

Hỏi rằng: người ở quê đâu

Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà

Hỏi rằng: từ bước chân ra

Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài

Thưa rằng: nói nữa là sai

Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào

Hỏi rằng: đất trích chiêm bao

Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau

Thưa rằng: ly biệt mai sau

Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân

 

Em Nằm Ngủ

 

Em nằm ngủ giữa trời trên, đất dưới

Anh bước qua rách rưới suốt linh hồn

Chợt mở mắt em nhìn anh lên tiếng hỏi

Anh là ai? bao tử đang bồn chồn?

 

Anh có vẻ như quỷ điên ma đói?

Cần cái gì? cứ nói thật nghe chơi

Anh chợt hiểu? một bà trời giả bộ

Làm giai nhân buồn ngủ giấc liên miên

 

Sẵn sàng đón những thằng điên thô lỗ

Đưa chúng về Bích Lạc hoặc Hoàng Tuyền

Em tiếp tục: anh là ai như thế

Đừng nhìn em không nói một lời nào

 

Vì ngượng ngập hay ngại ngùng thể lệ

Không hồn nhiên thổ lộ hết tâm tình

Hãy cứ nghĩ em chỉ là thiếu nữ

Rất thuần nhiên không úp mở ỡm ờ

 

Trong hiện tại muốn giúp anh tí chút

Tí chút gì? chút ít tuổi ngây thơ

Bỗng bất chợt tưng bừng anh cười rộ

Quả nhiên là thiên mệnh đó em ôi!

 

Chính đêm nay thao thức giấc bồi hồi

Chợt thiếp ngủ chớm thấy đời lai láng

Một giấc mộng vô ngần về xán lạn

Mộng huy hoàng vì một chút em ôi

 

Chút tình yêu khép nép phía sau lời

Lời rộng rãi mang chút tình đồ sộ

Em thiếu nữ sẵn sàng ban vũ lộ

Em thuyền quyên ban mưa móc xum xuê

 

Em rắc gieo suốt xứ sở bốn bề

Suốt địa hạt tình quê hương ba ngõ

Anh quỳ xuống gọi em: Em Mọi Nhỏ

Từ xưa xa anh linh cảm đã nhiều

 

Chuyện mai sau, từ đầu anh đã rõ

Vì một lần tao ngộ ở đầu non

Giữa rừng thiêng bát ngát những mây ngàn

Và lần ấy chỉ âm thầm anh biết

 

Anh biết rõ mà cũng như không biết

Nhưng cái gì đã dẫn dắt bước chân

Bàn chân đi không phân biệt xa gần

Bàn chân bước mà cũng như không bước

 

Rồi một lúc bất thình lình bắt gặp

Bất ngờ sao ! hình bóng buổi đầu tiên

Hiển hiện giờ đây với tất cả uy quyền

Giờ tái ngộ thần tiên non nước cũ.

BG

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, December 25, 201012:00 AM(View: 42366)
Tôi muốn nói đến công trình của Thư Quán Bản Thảo do nhà văn Trần Hòai Thư và Phạm Văn Nhàn chủ trương, trong những tháng đầu năm 2007, đã cho in và phát hành số đặc biệt về nhà thơ Phan Như Thức và tập thơ Đốt Tuổi của anh.
Saturday, December 25, 201012:00 AM(View: 21978)
Khi anh đến đàn sáo rừng đứng ngó. Còn em thì mất hút tự ngàn xưa. Cũng có lẽ trăm năm không dừng lại. Nên ai chờ giữa buổi chợ đông trưa
Sunday, December 12, 201012:00 AM(View: 23486)
Tôi là người làm thơ và rất yêu thơ nên khi nghe đến công bố kết quả bình chọn “100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20”û, tôi cũng muốn xem thử những ai đã đứng trong danh sách hàng đầu ấy. Nhưng tôi thất vọng và tức giận khi nghe kết quả: Người đứng đầu tiên, ngoài danh sách các tác giả kêu tên theo thứ tự vần a, b, c… là Hồ Chí Minh với bài thơ chữ Hán có tên là “Nguyên Tiêu”. Tôi thất vọng và giận dữ bởi vì tôi đã đọc những bài thơ của Hồ Chí Minh,
Wednesday, December 8, 201012:00 AM(View: 22843)
Hồi đó, quê tôi chưa có một phòng đọc sách nào, chưa có một thư viện nào, nên tôi không có sách đọc. Ơi, sách hiếm hoi cho tuổi thơ tôi, tôi lục lọi những quyển sách cũ của cha tôi, cuốn Cổ học Tinh hoa, và những cuốn đặc san cổ học xuất bản hằng tháng của hội cổ học Quảng Nam, mà cha tôi là hội viên. Những cuốn nầy được quay ronéo, màu sắc nhoè nhoẹt, được in với một loại giấy nhám xấu, thế mà tôi vẫn đọc say mê.
Friday, December 3, 201012:00 AM(View: 17580)
Hồi Hoán lên 9 tuổi, Hoán đã biết nghĩ về con gái, đó là con Lý, con bà Vy, người Huế. Bà Vy vì chiến tranh ở đâu ngoài Huế, lưu lạc đến quê anh. Quê anh là một vùng quê, dân làng sống chất phát, mộc mạc. Bỗng nhiên đâu có một người đàn bà ở phố thị trôi dạt về, như thổi đến vùng quê một làn gió mới .