DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,345,336

Trần Anh Tống - Khúc Rẽ Cuộc Đời

Tuesday, July 28, 20208:37 AM(View: 156)
Trần Anh Tống - Khúc Rẽ Cuộc Đời
                                                               Khúc rẽ cuộc đời

 
trần anh tống
                                                                                                             Trần Anh Tống                                                                                        


Quân dội Pháp âm thầm rút lui khỏi Bùi Chu, Phát Diệm, và Nam định lúc nào và bất ngờ, người dân không hay biết, khi biết được thì chỉ còn lại doanh trại chống rỗng, hoang phế, đồ đạc nằm ngổn ngang; giường nệm, chăn gối, bàn ghế trơ gọng, dân tình ngơ ngác, lo sợ; thành phố loạn cả lên, người này hỏi thăm người nọ, cuối cùng không ai có cầu trả lời chính xác; đi đâu bây giơ, một câu hỏi rất đơn giản nhưng không ai giải đáp được; thành phố bùng lên cơn sốt cao độ, bấn loạn như đang giẫy chết; mọi sinh hoạt đều ngừng lại; xe cộ, tàu bè, nằm im lìm bất động tại chỗ; ít ngày sau, người ta mới định hồn, tìm đường ra đi.

Lúc bấy giờ, năm 1954, việc dùng bản đồ cho việc đi lại chưa được phổ thông ở Việt Nam, trừ những học sinh học môn địa lý: Hà nội ỏ phiá trên, còn Sài gòn thì ở đưới; dân gian quen gọi vào Sài gòn, lên Hà nội, hay ra Hải phòng; đường từ Nam Định, lên Hà nội hay ra Hải Phòng, phải đi về hướng Bắc, tức là mạn ngược.  Tôi ở thành phố Nam Định cho đến ngày vào Sài gòn, năm 1954, chưa có lần nào được đi Hà nội, cách đó khoảng 100 cây số, sợ bom/mìn do VM cài đặt.

Ngày Việt Minh mới bột phát tại thành phố Vinh, Nghệ An, phong trào Việt Minh (VM) tại thành phố Vinh lôi kéo người dân địa phương tham gia hết sức đông đảo; đối với tôi, VM là thần tượng tuyệt đối; có lần đến trường học, nhìn thấy một anh bộ đội ôm súng ngồi gác ngoài cổng trường, tôi chỉ muốn được hôn lên khẩu súng và xem anh là một vị anh hùng. 

Tôi bị mê hoặc bởi bài hát Kim Đồng: 
“Hờn căm bao lũ tham tàn phát xít/Dấn bước ra đi/Kim Đồng lên chiến khu/Kim Đồng quê hương Việt Bắc xa mờ/ Kim Đồng thay cha rửa mối quốc thù/Anh Kim Đồng ơi Anh Kim Đồng, tuу anh xa rồi!// Gương anh sáng ngời!/Đội ta cố noi/Ɓao phen giao thông trong rừng/Gian lao nguу nan vô cùng/Xung phong theo gương anh hung/Đùng đùng đùng! Đoàng đoàng đoàng, Anh vẫn đi/Anh luôn luôn tiến bước tiến đi theo dò/Quân xâm lăng anh xông pha khắp chốn, khắp nơi/Đi tuуên truуền trong nhân dân/Kim Đồng tên anh muôn thuở không mờ/Kim Đồng tên anh lừng lẫу chiến khu”. 

Nói ra, e mọi người sẽ cho rằng tôi cường điệu, nhưng đó là sự thật; một hôm đang đứng chơi cùng một thằng bạn người Pháp, năm 1945, cả hai đứa cùng nhìn thấy hai chiếc máy bay, bay lượn trên bầu trời thành phố Vinh, tôi với giọng điệu kênh kiệu: “Voilà les avions du Vietnam”; sau này tôi mới vỡ lẽ, đó là máy bay của Mỹ, bay qua lại, biẻu dương sức mạnh của Hoa Kỳ.

Tôi bắt đầu chán ghét Việt Minh từ khi họ cấm quần chúng, không cho hát những bài hát ưa thích mà VM gán cho hai chũ ủy mị; nhất là họ thường sát hại những người không theo họ, thả sông cho trôi theo dòng nước, hoặc buộc đá vào thả xuống sông cho chìm xuống; ngoài ra, họ còn dã man như đặt bom, đặt mìn trên các xa lộ như quãng đường số QL-1 từ Nam Định lên Hà nội, khiến bao nhiêu người dân vô tội bị chết. 
Hồi bố tôi còn sống, ông cấm tôi không cho tham gia bất cứ đoàn thể nào; tôi không đọc được ý nghĩ trong đầu ông, chỉ còn cách vâng lời, và đơn giản nghĩ rằng ông sợ tôi sao nhãng việc học hành; tôi  không giám bén mảng đến những nơi đang diễn ra sinh hoạt tập thể, chỉ nhìn lén rồi bỏ đi; ấy vậy, có một lần tôi được nhà trường cử đi dự cái gọi là đón ông Hồ Chí Minh từ Hội nghị Fontainebleau bên Pháp trở về, chính bố tôi thân hành đưa tôi đến trường, vì đó là một vinh dự dành cho học trò xuất sắc.

Đoàn người lôi thôi lếch thếch gồng gánh gia tài, những thứ có thể mang theo, nhắm mạn ngược đi tới; họ phải âm thầm, chập chờn như những bóng ma đi trong đêm tối, sợ bị công an bắt, hoặc du kích sua dân ra cản đường, thấy ai đi lên mạn ngược thì níu kéo: “Nươc nhà độc lập rồi, còn kéo nhau đi đâu”.  Tôi bị cuốn hút vào đoàn người sống dở chết dở, cố thoát khỏi vùng Việt Minh kiểm soát tìm đến đất tự do; lúc ra đi, tôi đinh ninh ra Hải Phòng, dò dẫm đường sang Quảng Yên tìm chị và anh rể;  anh rể tôi, nghe nói anh là một ông quan trong quân đội Quốc Gia đang đóng binh ở Quảng Yên; tôi không ngạc nhiên, anh rể tôi tốt nghiệp bằng Diplôme primaire, hay Baccalauréa gì đó mà ở Nam Định, năm 1952-1953, có Trường sĩ quan trừ bị Nam Định, chỉ cần có baccalauréa hoặc tương đương cũng được nhận vào trường, học đâu tám tháng, hay 1 năm (?), ra trường với cấp bậc thiếu úy; vào Sài gòn, bốn năm sau, tôi mới gặp lại anh chị, lúc đó mới biết anh không phải là sĩ quan, mà là cảnh sát.

Tôi lọt được vào trong đoàn người đi là cố ý nhập bọn để thoát khỏi bàn tay Việt Minh. Đầu óc non trẻ của tôi chưa biết phân biệt thế nào là quốc gia hay cộng sản, nhưng nghe đến hai chữ Việt Minh, cơn sợ hãi bật lên như một chiếc lò so bị dồn nén được giải phóng.  Đi bộ ròng rã mấy ngày đường vất vả, sợ hãi, cuối cùng tôi cũng ra đến Hải Phòng; vào trại chuyển tiếp, làm xong thủ tục nhập trại, tôi bỗng nghe được tin “đi Nam”!  Trời ơi đi Nam, nghe hai tiếng này sao mà thần thánh quá; tôi bỏ ý định sang Quäng Yên tìm chị và anh rể, ở lì trong trại chờ ngày đi Nam. 

Không có gì lấy được mà không mất mát; cái mất mát của tôi là toàn bộ gia đình, tôi là con trưởng mà quan niệm đương thời là thay cha lo cho gia đình, bỏ đi một mình là thiếu trách nhiệm. Tôi ở đó đâu ba, bốn ngày thì vào một buổi sáng, tên mình được gọi ra xếp hàng, sau đó được chở ra phi trường Cát Bi, Hải Phòng, lên phi cơ đi Sài gòn.  Chiếc Dakota C-47, uể oải, lúc bình lặng, lúc chòng chành, sau nhiều tiếng đồng hồ bị hành hạ bởi những cái “hụp lặn”, cuối cùng nó cũng đáp được xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài gòn; cái đầu tiên, tôi tiếp cận Sài gòn là nóng tháng mười một tạt vào mặt như bị trận đòn đánh bằng roi lửa; tôi cảm tưởng như bị sô đẩy hay ruồng rẫy chứ không phải cách chào đón; Hải phòng vào tháng 11, trời miền Bắc lúc này đang rét.  Người đầu tiên tôi tiếp xúc, làm thủ tục nhập cư tại phi cảng Tân Sơn Nhứt là một tráng niên người miền Nam; anh rất ân cần giúp tôi thông qua thủ tục hành chánh.

Hôm đó, lần đầu, tôi trực tiếp được nghe tiếng Nam, không hiểu mô tê cứ ngớ ra, mồm há hốc, tay chân thừa thãi.  Hồi ở nhà, tôi cũng đã từng hàng đêm bắt sóng ngắn nghe đài phát thanh Pháp Á, phát thanh giọng nói miền Nam, hoặc đài tiếng nói quân đội viễn chinh Pháp, tôi còn nhớ, sau tiếng nhạc đài hiệu thì  một giọng nam bắt đầu phát thanh:Ici Radio herondel, voix de la force de l'union de Francaise à L’Indochine: Bonjour madame, mademoisel, et monsier”, phần tin tức thường là giọng miền Nam,  nhưng sao lúc nghe trực tiếp nó lạ tai làm sao; cuối cùng, lấy lại chút bình tĩnh, tôi cũng qua được cửa ải, nhập trại; trên đường đến trại tiếp cư, nhìn thành phố Sài gòn qua khung cửa kính xe đưa đón, tôi nghiệm được Sài gòn lớn hơn bất cứ thành phố nào ngoài miền Bắc, càng đi càng hun hút; ngọn gió buổi chiều làm cho cái nóng dịu lần.  Sài gòn đẹp đến thế sao, tôi nghĩ trong đầu: “Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai.  Từ xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay; nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi này.  Sài gòn đẹp lắm Sài gòn ơi, Sài gòn ơi!  Ngựa xe như nước trên đường vẫn qua mau; người ra thăm bến câu chào nói lao sao; phố xá thênh thang đón chân tôi đến chung vui.  Sài gòn đẹp lắm, Sài gòn ơi, Sài gòn ơi!” (Y Vân-Sài gòn Đẹp lắm, Sài gòn ơi …)

Tôi lạc lõng ở Sài gòn một thân một mình, giữa rừng người di cư, lúc nào cũng bị ám ảnh nỗi sợ hãi, không có cơm ăn, không có áo mặc, và nhất là thiếu một mái nhà làm nơi nương tựa an toàn, và sự trìu mến của người thân; phần nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ chị, người nuôi tôi ăn học ở Nam Định, buồn da diết; cảm nghĩ về gia đình, tôi không có lúc bước chân ra khỏi nhà cho đến khi cuộc sống tạm ổn định nơi định cư.  Tôi ra đi trong tình huống vội vã, bất chợt, vả lại lúc đó tôi chưa đủ trí khôn để dìu dắt gia đình, và vì sợ hãi và ghét sự bạo hành cûa Việt Cộng, chưa có ý thức quốc gia hay cộng sản, tôi sống với người Pháp đã quen; cơn lốc chiến tranh bứng tôi tận gốc, ném vào đất Sài gòn, một định mệnh tuyệt vời!  

Những người có gia đình đi theo, họ nương tựa, an ủi nhau mỗi khi cảnh huống khó khăn; tiếng cười, tiếng nói xôn sao, khoe nhau đã tìm được nơi định cư như Cái Sắn, Củ Tri, Hố Nai, Tam Hiệp, Biên Hoà, hoặc các tỉnh xa sôi; cuối cùng, những đứa trẻ dưới 18 tuổi, không gia đình đi theo như trường hợp của tôi, được thu nhận vào trại do chính phủ thành lập, quản lý tại khu đất đối diện chợ Thiếc, gần đường Lê Đại Hành, Phú Thọ Trường Đua, quen gọi là trại học sinh Phú Thọ; ở đây, tôi cũng chưa đi học trở lại mà dành thì giờ lo tìm kiếm nơi cư ngụ chính thức.
 Một hôm, không nhớ tin tức từ đâu tôi có, tôi tìm ra địa chỉ cha Benoit Nguyễn Dũng, người cha tinh thần, nuôi tôi ăn học, giúp lễ; thời gian còn ở Nam Định; ông là “Quan Tư”, thiếu tá tuyên úy trong quân đội Pháp, uy tín của ông rất lớn thời bấy giờ; tôi tìm đến ông xem có giúp tôi được gì không. 

Gặp cha, cha con mừng rỡ, tíu tít, cha hỏi thăm, bảo tôi kể chuyện thời gian xa cách; tôi kể  ngọn ngạnh  lý do tôi đi được, và cuối cùng nói về cảnh ngộ khó khăn tôi đang hứng chịu; ông buồn rầu “hiện nay cha cũng chưa có Họ Đạo nào để đi, vẫn đang sống nhờ ông anh”; ông ngẫm nghĩ một lát nhìn tôi, ông nói: “nước Đức có cấp học bổng cho cựu quân nhân, có bằng Trung Học, Baccalauréa, sang đó học để trở thành một  chuyên viên, con muốn đi không:
-           Thưa cha, con mới học xong lớp Đệ V (lớp 8), người ta có nhận con?
-          Để cha xem sao.

Thấy cha không còn diều gì dặn dò, tôi ngồi nán lại ít phút, từ giã ra về; ngày hôm sau, tôi trở lại,  ông đưa cho tôi một phong bì, bảo tôi cầm lá thư này đến gặp ông Tổng Thư Ký Hội Cựu Chiến Sĩ để ông sắp xếp cho; nội dung lá thư ra sao, ai cũng đoán ra: thư giới thiệu; tôi kẹp nách lá thư như vật bảo mệnh, vô cùng âu yếm, chiếc phong bì, riềm xanh, trắng, và đỏ, tiêu biểu màu cờ Pháp.  Hôm sau, tôi đến hội, không gặp được ông Tổng Thư Ký (xin lỗi, lâu ngày, tôi không còn nhớ tên ông), được nhân viên phụ trách tiếp đón, đem đến phỏng vấn; ông này, mở lời:
-          Cái này dành cho cưu quân nhân.  Tôi nhẹ nhàng đáp lại:
-           Cha tinh thần của tôi là cựu Thiếu Tá trong quân đội Pháp, tôi không phải là gia đình cựu quân nhân?

Ông im lặng, nào ta bắt đầu:
-          Anh tên gì, bao nhiêu tuổi, và trìrnh độ học vấn?
-          Thưa ông, tôi tên Trần Hồn Nhiên, 17 tuổi, học xong lớp Đệ V.
Ông còn hỏi tôi một số câu khác, giờ này tôi không còn nhớ, chỉ biết tôi ra về, lúc đó khoảng 11 giờ trưa; đợi hoài, không nghe động tĩnh, mấy ngày sau, tôi đến cho cha biết, cha nói:
-          Chắc con trượt rồi!, Con về đi.

Tôi toan đứng dậy ra về, cha bỗng gọi giật lại: cha còn có việc này cho con.  Hiện nay, Hội Cựu Chiến Sĩ đang quản lý nhà Phát Hành Thống Nhất, chờ cha thu xếp cho con một cái sạp bán báo, để cha tính, về đi.

Nhà Thống Nhất là nơi phát hành, phân phối báo và tạp chí toàn thể trong nước; hồi đó, Nhà Phát Hành Thống Nhất vừa mới được thành lập tại Sài gòn, nếu tôi sở hữu được một cái sạp bán báo ở Sài gòn thì đời sống, về mặt kinh tế, sẽ ổn định; vả lại, công việc không có gì khó, lại vừa nhàn, có thì giờ đi học, tôi mừng lắm!  Bán báo ở sạp báo thì còn được, ôm xấp báo bán rong ngoài đường phố, hoăc bán cà rem, tôi nghĩ, tôi là một học sinh, lại là con một gia đình, cha tôi, lúc ông còn sống, cũng có chút địa vị trong xã hội, “chiếu rách phải giữ lấy lề” tôi không làm, thà chết đói; tôi ngớ ngẩn, chưa từng trải nghiêm cuộc đời, chỉ nghĩ đơn sơ được bấy nhiêu; cuối cùng, tôi lại trượt, vì số sạp báo có hạn mà người có tiền bỏ ra mua, đông vô kể; dạy học kèm, trình độ tôi chưa đủ; tôi lúng túng, nhưng xoay sở cách nào, chưa có cách, cố kéo dài thời gian xem sao.

Những năm đầu di cư vào miền Nam, tại thành phố Sài gòn, sau khi trại giải tán, tôi sống trong môt xóm lao động thuộc khu Phú Thọ Hòa Trường Đua, đó là tên gọi trường đua ngựa Phú Thọ, nằm trong tứ giác: Trần Quốc Toản, Lê Dại Hành, Lũ Gia, và Nguyễn văn Thoại.  Cuộc sống người dân ở đó, nhìn tổng thể, rất chật vật; hàng ngày, nguồn lợi tức gia đình hoàn toàn trông vào những cuốc xe xích-lô hay xe ba bánh, hoặc giả được kêu đi làm công việc lặt vặt vài hôm.  Về mặt tình cảm: họ tính tình chất phác, luôn tỏ ra hoà nhã, thân thiến với mọi người; họ không chê vua Bảo Đại mà cũng chẳng khen Tổng Thống Ngô Đình Diệm, hầu hết thì giờ chăm chú lo sao cho có được nhiều khách để bữa ăn gia đình hôm đó có cá, có thịt, vợ con ăn.

Hầu hết những căn nhà trong xóm bình dân lao động được dựng lên sơ sài, vách lá và mái cũng được lợp bằng lá.dừa nước; cháy nhà rất dễ xẩy ra vì trời Sài gòn hanh nắng, khô ráo, và nhiều lý do, căn bản là ý thức an toàn chưa được dân chúng thấm nhuần.  Nhiều gia đình đang đêm, bị dựng đứng bởi những trận mưa, nước từ mái lá hoặc tôn cũ, xối xả tuôn xuống khiến trong nhà cũng như ngoài sân, nơi nào nới ấy ngập lụt; họ thức dậy lo lấy thau, lấy chậu hứng nước đổ ra ngoài.  Hàng xóm khi có việc cần nói với nhau điều gì, thường ở nhà mình, vạch vách lá chắn  hai nhà, là có thể chuyện trò, không phải mất công vòng vo đi lại; đôi khi chõ mồm sang hàng xóm chuyện trò, kể nhau nghe những điều sốt dẻo hoặc xa xưa. Đêm nằm ngủ, tai nghe đủ loại âm thanh từ hàng xóm vọng đến, đặc biệt tiếng kéo cưa của giọng ngáy, tiếng bổng tiếng trầm, lúc thôi thúc, khi hụt hơi, đủ mọi cung bậc; người khó ngủ, nghe được âm thanh đinh tai nhức óc, chẳng buồn khiếu nại, có chăng là kể lại “chọc quê” nhau rồi cười vui vẻ, hoà cả làng.

Các bà, các cô, y phục hàng ngày, ăn mặc rất giản dị quần đen, áo bà Ba màu sắc sực sỡ; chỉ khi đi xa hay tiệc tùng mới quấn lên đầu chiếc khăn sọc rằng ri và mặc chiếc quần lãnh đen nhánh, hàng vải Mỹ-A; thanh niên trong xóm thường mặc chiếc quần cụt, quần sà-lỏn; còn các ông già khá giả mặc quần áo ngủ may cắt theo kiểu Tây Phương (pyjamas), hoặc quấn khăn sà-rông giống như người Miên.  Giải trí cho tuổi trẻ thời đó, không có trò chơi nào được gọi là tiêu biểu; chung chung chỉ là các cô các cậu xúm nhau truyện trò hay hát hỏng.  Tân nhạc, ở Sài gon, so với vọng cổ, chưa được phổ thông; trai gái tuy nghèo nhưng họ sống rất vui, suốt ngày hát ca, nhất là ca vọng cổ, khi ru em hay lúc cao hứng; những cô gái di cư, ngân nga vài bài hát tân nhạc mới được các nhạc sĩ sáng tác với nội dung hoài vọng về miền Bắc.  Tiếng kẽo kẹt xa vắng của võng đưa hòa với tiếng ru em, lúc nào cũng có thể nghe được.

Những năm đầu sống ở Sài gòn, tôi không có tiền mua xe đạp để làm chân đi lại.  Từ đường Lê Đại Hành, Phú Thọ Trường đua, hàng ngày tôi phải đáp xe buýt lên Sài gòn học đến tối mới về.  Tôi nhớ, xe buýt hồi đó có chế độ đãi ngộ dành cho quân nhân và học sinh; quân nhân và học sinh, chỉ phải trả một đồng cho mỗi chuyến đi, bất luận gần xa.  Lên xe, học sinh, quân nhân đưa cho người bán vé một đồng thì sẽ nhận được tấm vé màu trắng có sọc đỏ chéo góc.  Những lần hết tiền, tôi bỏ chiếc vé vào túi áo ngực, mặt có sọc đỏ hướng ra ngoài, và (cố tình) ưỡn ngực để lộ tấm vé trắng có sọc đỏ trước người bán vé hầu tránh phải trả tiền cuốc xe.  Người bán vé tuyến đường Sài gòn-Phú Thọ Trường đua thừa biết mánh mung học trò, nhưng giả lờ cho qua; tuy nhiên, tôi, mắt lúc nào cũng chú ý đến sự đột nhiên suất hiện của nhân viên kiểm soát vé; đến trạm nào thấy có viên kiểm soát bước lên xe, tôi vội vàng bước xuống, hành động nhanh nhẹn tưởng như sự hoán đổi có thứ tự.  Có lần vội vàng xuống xe né tránh nhân viên kiểm soát, tôi bắt không kịp chuyến xe kế tiếp, bị trễ buổi học.

Ở Sài gòn, ngoài giờ đi học và học bài, tôi luôn cố dành chút thì giờ giúp các bà mẹ trẻ trong xóm, các em bé tập đánh vần quốc ngữ, và đôi khi cũng kèm toán cho các em học ở trường.  Những năm chuẩn bị thi tú tài, đầu óc tôi lúc nào cũng lo học, học sao cho việc thi cử thành công, các việc khác thì rất sao lãng; dẫu cho đang ở độ tuổi thanh xuân, lứa tuổi mộng mơ đẹp nhất đời người, nhưng bị mạc cảm nghèo, tôi chỉ chuyên tâm vào việc học và lo nghĩ sao có được mảnh bằng để giải quyết vấn đề cơm ăn áo mặc, việc trai gái rất hờ hững. 

“Tôi xa Hà Nội năm lên 18 khi vừa biết yêu” (Anh Bàng, Nỗi lòng người đi); bài hát này ông Anh Bàng viết năm ông bao nhiêu tuổi, tôi không rõ, nhưng nó hầu như diễn tả cảnh huống của tôi rất xít xao; năm 1954, tôi ở cái tuổi chưa biết phân biệt tình yêu nam nữ; tuy thế, lúc còn ở Nam Định, tôi đã mơ hồ cảm nhận “thiếu thốn” một cái gì đó, không rõ ràng; thường ngày, tôi ngồi học ở ô cửa sổ, nhìn qua đường bên kia, đối diên nhà tôi, thấy có hình bóng mái tóc dài xuất hiện ở cửa sổ nhà bên đó, và “ghiền” hay nhớ bâng quơ cái cảnh đó; ngày nào nó không xuất hiện, tôi cảm thấy như mất mát một thứ gì đó.  Tuy nhiên, nếu có người đột ngột hỏi tôi thích gì, hoặc yêu cô nào chưa, tôi phản ứng như đã được lập trình từ trước, đáp không do dự: tôi ước lấy được một cô gái miền Nam, nhà giầu.  Thật sự, mơ có được một cô gái Nam, nhà giầu, chi là ước mơ được “đổi đời”, còn lòng tôi, việc trai gái hãy còn chay tịnh.

Tôi ngỡ cuộc đời bất hạnh của tôi cứ thế kéo dài đến vô tận; nhưng một hôm, trong tiệc cưới của một người bạn, trong vai phù rể, tôi giật mình, không ngờ mình lại lọt mắt xanh cô phù dâu; tôi đón nhận tin này với nỗi kinh hoàng và ngờ vực.  Không bao lâu, sau khi quen biết cô, tôi được anh bạn, người vừa cưới vợ mà tôi mượn quần áo của anh làm “bộ cánh”để phù rể, cho biết cô phù dâu “đê ý” đến tôi; cô là một cô giáo dậy cho một trường Công giáo danh tiếng ở Sài gòn, trường Regina Pacis; giấc mơ đổi đời của tôi sắp trở thành hiện thực; tôi, chẳng mấy chốc sẽ thành một người có “hộ chiếu” ở Sài gòn, qua việc lấy vợ giầu.  Ấy vậy, khi đụng thực tế, vì tự ái (mạc cảm tự ty), tôi từ chối lời đề nghị giúp đỡ của cô ấy; khi hết tiền trọ học, tôi âm thầm rời đi Buôn Ma Thuật, lên đó với ý đồ vào rừng đốn củi bán lấy tiền ăn học tiếp; cuộc tình tinh khiết của tôi vuột biến mất từ đó!

Đến Buôn ma Thuật, tôi không vào rừng đốn củi như dự tính lúc ban đầu; tôi, bỗng nhiên được thằng bạn học cùng đi, nó có người chú-bác gì đó là hiệu trưởng một trường trung học tư thục mới mở - nó chứ không phải tôi - đề nghị tôi vằo dậy ở đó; tôi ngỡ ngàng, lo sợ mình không đủ điều kiện; dậy trung học đòi hỏi phải ít nhất văn bằng tú tài, nhưng “đánh liều” làm theo.  Một hôm, nó dẫn tôi đến gặp ông Hiệu Trưởng, giới thiệu và nói về hoàn cảnh khó khăn của tôi, định vào rừng đốn củi bán lấy tiền theo học; nó nói: “chúng cháu học cùng lớp, thường học chung môn toán, và môn hình, nhất là mỗi khi cháu “bí” về môn lượng giác, anh bạn thường đả thông dùm cháu”; ông Hiệu Trưng ngần ngừ một chút, lên tiếng: “về đi, mai trở lại!”  Hôm sau, tôi đi một mình, quần áo chỉnh tề, đến diện kiến ông; ông nói:
-          Anh tạm phụ trách dùm tôi lóp Đệ Thất, môn toán, đại số, bây giờ thì về đi, chiều 5 giờ đến… à mà đến sớm một chút; tôi vâng, dạ, ra về.
Về đến nhà, tôi đến gặp thằng bạn trước nhất, kể nó nghe chuyện tôi đến trường; nó nói:
-          Tao biết, mày dư khả năng dạy lớp Đệ Thất, mày từng dạy kèm lơp Đệ Tam, Đệ Tứ, đối với mày thì chuyện này “ngon ơ”; tôi cảm ơn nó, ra về! 

Dạy được hai mùa, ông Hiệu Trưởng tăng lương cho tôi và đôn tôi lên dạy lớp Đệ Lục; mùa sau, môt lần nữa, được phụ trách dạy lớp Đệ Ngũ.  Một hôm, thày dạy môn Vật Lý lớp Đệ Lục không đến được trường, thày Hiệu Trưởng bảo tôi dạy thế; tôi bắt đầu giảng bài vật lý căn bản về Chiều và Phương; tôi cầm cục phấn viết bảng, ném về phía trước, tạo hình cho học sinh dễ hiểu, tôi bắt đầu: đó là phương, cục phấn từ tay tôi đến.. trời ơi, nó rơi trúng ngực cô bé ngồi đầu bàn; mặt cô bé đỏ lên, nhìn tôi một cách sững sờ, trách móc; còn tôi, tôi nhìn lại bằng con mắt ân hận và áy náy. Việc này, tôi tưởng đã qua đi êm suôi, cô bé không khiếu nại lên phòng Giám Học, sau này mỗi khì thấy tôi, cô bé mật tự nhiên, thẹn thò, ê lệ.  Một hôm ông Hiệu Trưởng mời tôi vào phòng, bảo tôi khép cửa lại, ông nói “tôi đã nhìn thấy cảnh cục phấn anh ném, việc đó do “tai nạn”, anh không cố ý, nhưng không thể, không có trách nhiệm, về lớp, anh phải cẩn thận”, ông Hiệu Trưởng nhỏ nhẹ dặn bảo.  Tôi đứng như trời trồng!  Công việc giữ trật tự, an ninh trương, lớp, hiển nhiên là của người giám thị; ông Hiệu Trưởng hôm đó không phải ông tò mò,  rình rập mà là quan sát khả năng dạy học của thày dậy mới đến dạy học; ông nhìn được cảnh đó chỉ là ngẫu nhiên.

“Miền Nam có nắng thanh bình, có đồng lúa đẹp có tình quê hương” (Lam Phương-Hồ Đình Phương, Nắng Đẹp Miền Nam); Nắng Đẹp Miền Nam, miêu tả cảnh tự do thanh bình no ấm của nhân dân miền Nam, nói chung, Sài gòn nói riêng.  Bài hát mở đầu khẳng định một miền Nam lý tưởng: “Đây trời bao la, ánh nắng mai hé đầu ghềnh lan dần tới đồng xanh/Ta cùng chen vai đem tay góp sức tăng gia cho người người vui hòa”; cảnh quê miền Nam và tình người miền Nam tuyệt đẹp, đẹp như bức tranh, không tồn tại được nhiều năm thì bị giết chết bởi biến cố, các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hoà, đảo chính chính quyền của Tổng Tống Ngô Đình Diệm, ngày 1 tháng 11, năm 1963, khiến miền Nam bị chao đảo tột cùng; những năm đầu, biểu tình rầm rộ diễn ra kháp nơi, diễn ra mỗi ngày; người chống, kẻ bênh, làm cho sự an vui của người dân lên ruột; các tướng lãnh thành công cuộc đảo cánh chỉ trong vòng một ngày cho đến khi cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, từ một nới ẩn nấp gọi điện thoại nói chuyện với tướng Trần Thiện Khiêm, một lãnh tụ vai vế trong cuộc đảo chánh; sau khi trao đổi điều kiện, Tổng Thóng Diêm tiết lộ nơi ông đang có mặt, nhà thờ cha Tam, đem xe đón ông về để bàn phương thức giải quyết sự bất đồng giữa hai bên; ông Khiêm cho đón Tổng Thống Diệm bằng một đội xe bọc sắt, M-113; trên đường từ nhà thờ cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Thống Diệm và bào huynh là ông Ngô Đình Nhu bị sát hại, và người giết ông Diêm, ông Nhu là Đại úy Nguyễn văn Nhung, cận vệ của Tướng Dương văn Minh, chủ tịch hội đồng tướng lãnh. 

Liền sau thời khắc ấy có tiếng từ trong Bộ Tổng Tham Mưu giải thích: ông Diệm, ông nhu đã chết; lời lẽ chính thức của Hội Đồng Tướng Lãnh phát ra cho quần chúng bảo hai ông Diệm, Nhu tự tử; nhưng một số dân chúng lý luận: không thể, hai ông là người Công Giáo, nhất là ông Diệm, con người rất ngoan đạo, không bao giờ hai ông vi phạm luật cấm tự tử; vả lại, ông Diệm đã bảo đem xe  đến rước, sao còn phải tự vẫn, vô lý!

Tiếp theo.  Cộng Sản Bắc Việt, phát động cuộc chiến này, kéo quân xâm chiếm miền Nam dưới chiêu bài giải phóng.  Cuộc chiến tranh được đặt cho nhiều cái tên khác nhau: chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ, rồi còn có tên cuộc nội chiến.  Thực sự, cuộc chiến tranh do Cộng Sản miền Bắc phát động, ý đồ xâm chiếm miền Nam.  Cả hai miền Bắc và Nam, không tự mình kham nổi sự tốn kém của cuộc chiến, cả hai bên đều khom mình cầu cạnh nước ngoài để có tiền chi phí cho cuộc chiến: miền Nam cầu viện Tây Phương, chủ yếu là Hoa Kỳ, để tự vệ, miền Bắc xin xỏ giúp đỡ của Nga, Tàu, và khối Cộng Sản Đông Âu, chi phi cho cuộc xâm lăng của họ. Cuộc chiến tương tàn gây ra cảnh sinh linh đồ thán; dân miền Nam chết, lính miền Nam chết, và tất nhiên VC cũng phải trả cái giá không nhỏ.  Tôn trọng quyền tự do suy nghĩ, ai nghĩ sao, cái đó tùy mỗi Cá nhân, riêng tôi, tôi quan niệm rằng, miền Nam Việt Nam không cần Việt Cộng giải phóng; họ, hiển nhiên chỉ tạo cho miền Nam một cảnh huống khác: đặt nó trong vòng kiểm tỏa của Trung Cộng.

Có thể nói người My gia tăng sự can thiệp vào chiến tranh Việt nam qua cuộc đổ bộ của toán lính Thủy Quân Lục Chiến, đầu tiên đổ bộ xuống bãi biển Xuân Thiều, Đà Nặng ngày 8 tháng 3, 1965, dưới quyền chỉ huy của chuẩn tướng Frederick F. Karch, cuộc đổ bộ mang bí danh Red Beach Two.  Có người nói cuộc đổ quân của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã không được thông báo (xin phép) chính quyền Việt nam; tuy nhiên, có chút mâu thuẫn, chính quyền địa phương biết trước nên có cho phái đoàn nữ sinh đón lính Mỹ và choàng vòng hoa chào đón các chiến binh Hoa Kỳ tại bãi đáp.  Điểm then chốt cuộc chiến leo thang, Quốc Hội Mỹ thông qua luật, cho phép tổng thống Hoa Kỳ được xử dụng binh lực trả đũa (retaliation) cái gọi là vụ chiến hạm Maddox.  Theo kiến nghị từ phía Hoa Ky, Khu Trục Hạm USS Maddox (DD-731) thuộc hạm đội 7, ngày 4 tháng 8, 1964, thi hành nhiệm vụ tuần tra trên vùng vịnh Bắc Việt, đột nhiên bị 3 tầu Ngư Lôi của Việt Cộng tấn công.  Con tầu Maddox – có bị Việt Cộng tấn công hay không – theo ông hạm trưởng và một số nhân viên hiện diện, có những điều nghi ngờ.  Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara (1916-2009), tựa vào biến cố Maddox rằng tầu Mỹ bị VC tấn công, xin Tổng Thống Lyndon B. Johnson (1908-1973) ban hành lệnh cho quân đội đánh trả đũa; Tổng Thống Johnson chấp thuận đề nghị của ông Bộ Trưởng Quốc Phòng; không bê trễ, ông xuất hiện trước Quốc Hội, điều trần sự cố, xin thông qua luật trừng phạt Việt Cộng; Quốc Hội Hoa Kỳ biểu quyết chuẩn thuận, cho tổng thống được đem quân đội Hoa Kỳ trừng phạt Việt Cộng, cuộc chiến leo thang từ đó.

Vụ việc có xẩy ra đúng như chính quyền Mỹ thông tin, vấn đề còn nhiều nghi vấn, và cũng được các nhà sử học và một số người liên hệ  tranh cãi, chưa có chứng minh sự thật rõ ràng.  Cho đến cao điểm của của cuộc chiến, thập niên 1960’s, có lúc quân đội Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam lên đến trên 550,000 người thì đã có nhiều binh lính hai bên và thường dân bị thương vong; quân đôi Hoa Kỳ có trên 55,000 binh sĩ tử trận, quân đội Việt Nam Cộng Hoà, con số thống kê báo cáo thiếu chính xác, không biết con số thương vong chính xác.

Người Mỹ dành quyền điều hành cuộc chiến, trên thực tế, chủ quyền quốc gia vẫn còn trong tay Việt Nam!  Số lượng người Mỹ có mặt trong các đơn vị hành chánh và quân đội thời Đệ Nhất Cộng Hòa, cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm chỉ chấp nhận con số cố vấn Mỹ ở mức nhỏ.  Công việc chính của cố vấn Mỹ là yểm trợ hậu cần cho quân đội và cơ quan hành chánh nơi họ phục vu; họ sống hoà đồng mọi người và biết tôn trọng quyền lãnh đạo của giới chức Việt nam, do vậy họ được, từ giới chức chính quyền đến quần chúng chân tình yêu mến.

Năm 1975, cuộc đời tôi lại một lần nữa gặp một khúc rẽ khác, Việt Cộng xâm chiếm miền Nam; bước ngoặt này  vô cùng gian truân, và tôi cũng phải trả bằng một cái giá rất đắt; bao nhiêu tài sản tích lũy đều bỏ lại đàng sau, mang theo được vợ con đến chốn bình yên, đã là may; lúc đó tôi đã lập gia đình, vợ tôi mới ở tuổi 28, có bốn đứa con; trong cảnh hỗn loạn, thành phố Vũng Tàu đang lên cơn sốt, chúng tôi bồng tống nhau len lỏi trong đám người sát cánh nhau như nêm cối, nhích từng bước, lấn từng tấc đất; trên mặt đường đồ đạc vất ngổn ngang, và còn trẻ em lạc gia đình khóc như gi, nhưng tôi không còn cảm xúc thương xót mà chỉ chăm chăm len kẽ hở tìm đến chiếc tàu đánh cá, đậu cách đó chừng bốn, năm cây số; thoát ra khỏi đám đông, tôi thuê được chiếc xe lam chở khách (lambrata) để đi đến bến tàu thuộc xứ đạo Đông Xuyên, tên khác là  Cầu Đen.  Cuối tháng Tư năm 1975, Cộng quân tiến quân như vũ bão xâm chiếm miền Nam; xem ra miến Nam khó đứng vững, dân chúng Sài gòn, còn có cả quân nhân, dân chính,  những người nhiều tiền bạc, ùn ùn tuôn ra Vũng Tàu tìm mua những chiếc tàu đánh cá hòng thoát thân.  Vũng Tàu là một thành phố nằm ven biển, thuận tiện cho tàu bè vượt biển đến các nước như Mã Lai, Singapore, Philippines, và Thái Lan; ngoài lượng người từ Sài gòn đổ ra, còn có biết bao tàu thuyền từ miền Trung đổ đến, khiến nó vượt sức chứa, nhiều nơi bị hỗn loạn.

Trước khi đem vợ và bốn con ra khỏi nhà, ông bà già vợ tôi đứng nhìn khóc lóc thảm thiết; nhân tiện, ông chỉ cậu em vợ (út) đang đứng ngơ ngác gần đấy, giọng ông đầy tuyệt vọng, buông thõng: “mày theo anh chị đi đi”, tôi gật đầu; lúc này không ai nói với ai bằng lời mà bằng cử chỉ hay cảm xúc xuất phát từ trong lòng sâu thẩm.  Nhẽ ra, toàn thể gia đình vợ tôi cùng đi, tôi đã âm thầm chuẩn bị chuyến đi từ những ngày trước; linh mục thân quen, cha xứ Đông Xuyên, đã dành cho tôi 11 chỗ, đủ cho gia đình trên một tàu đánh cá do người anh của cha tổ chức ra đi, nhưng ông bà đổi ý vào giờ  chót, vì một cậu em nhà tôi đang phục vụ trong tiểu đoàn 81 Biệt Cách Du còn kẹt ở Sài gòn; thêm vào đó, cậu em, kế nhà tôi, và cũng là học trò cũ của tôi vừa ra trường Thủ Đức tử trận mới tháng trước, ông, bà buồn không đi.

Ngoài phương tiện ra đi bằng tàu đánh cá, tôi cũng đã đăng ký vào chuyến bốc người bằng trực thăng do người Mỹ tổ chức; một hôm, tôi đang mải mê phân phát bánh mỳ và nước uống cho đoàn người tỵ nạn từ miền Trung vào Vũng Tàu, bỗng có cái vỗ nhẹ nơi vai, quay mặt lại nhìn thì ra một nhân viên làm chung sở với tôi, anh vẫn còn đang làm việc, lên tiếng: “Giờ này ông còn hăm hở lo việc cứu trợ, đã đi đăng ký chưa?”  Tôi ngẩn người ra, phản ứng như phản xạ, hỏi lại:

-          Anh bảo đăng ký cái gì?  Anh bạn trả lời ngắn gọn:
-          Thì đăng ký để được bốc đi.  Ông đi theo tôi. 
Nói xong, anh đi trước bảo tôi đi theo anh; tôi được Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ Phước Tuy cho đăng ký để ‘đến lúc biến động” sẽ có trực thăng Mỹ đến bốc đi, đi đâu thì chưa được biết; ít hôm sau, chúng tôi được đưa vào tá túc, cách ly trong một ngôi biệt thự ở bãi sau do họ mới thuê dùng làm trại chuyển tiếp, chờ ngày bốc đi.  Trong khi đang ở đó, nhìn thấy chị tôi đứng ngoài hàng rào sụt sùi khóc, mặt mũi méo mó ra chiều thèm thuống, chị tôi giã biệt tôi: “cậu đi đi nhé, anh ấy phục vụ trong ngành cảnh sát, ở lại chắc sẽ bị giết chết, nhưng sao có chỗ mà đi”, ý muốn nói người anh rể tôi; chúng tôi chỉ còn biết ngậm ngùi nhìn nhau với tâm tình thương cảm!  Đứng ngoài hàng rào còn có rất nhiều đồng bào chen chúc bủa vây căn biệt thự, có người lắc đầu thất vọng, có người sợ quá khóc ròng; tôi còn nhận ra một BS, cũng quen biết, đứng bụm mặt khóc; thật là một cảnh tượng vô cùng thẳm thương.  Ở trong “trại cách ly” ít hôm, chúng tôi được nhân viên Toà Lãnh Sự đến báo tin: địa điểm dự trù cho trực thăng xuống bốc bị mất an ninh, sẽ hủy bỏ, mọi người giải tán; ai muốn tiếp tục đi phải về Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài gòn nằm chờ; nghe tin này, tôi buồn bã lếch thếch đưa vợ con về nhà.

Những năm tháng sống ở miền Bắc của tôi không nhiều; năm 8 tuổi, lần đầu tiên về Bắc, và gần như khoảnh khác, tôi phải tản cư về quê, sống ở đó vài năm mới hồi cư về thành phố Nam Định cho đến ngày di cư vào Nam năm 1954.  Với số năm sống ở ngoài Bắc không nhiều, mặt khác, họa chiến tranh bao trùm khắp nơi, do đó việc học hành của tôi cũng vì lý do đò mà chậm trễ, 17 tuổi tôi mới học xong lớp Đệ Ngũ; thêm vào đó, tôi chỉ đi lại mon men trong thành phố, do vậy ấn tượng hay kỷ niệm được thành lập trong đời niên thiếu về miền Bắc hết sức mơ hồ.  Miền Nam, trái lại, bằng một nền văn hóa khai phóng với thể chế Cộng Hòa và nền dân chủ tự do, un đúc tôi thành một con người biết tự trọng và không vong bản, cho tôi rất nhiều ý nghĩa của cuộc sống; những ngày tháng tuyệt vời của tuổi thơ, những ttải nghiệm về cuộc sống của tôi, nay chỉ còn là hoài niệm.

 
November, 2017
Trần Anh Tống
(Tác giả gởi)

*

 Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

 



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, May 9, 20207:47 AM(View: 1094)
Tôi đã bỏ Mẹ tôi ngoài quê. Mẹ sống một mình, làm lụng một mình, ăn, ngủ một mình...suốt bao năm. Điều mơ ước nhỏ nhoi của tôi, ở trong trại cải tạo, là ngày về được
Thursday, May 7, 20207:40 PM(View: 549)
Thuở ấy, chuyện ăn nằm giữa vợ chồng ngoài sinh thú âm dương, còn có tính nhân linh là lưu lại một con người, thay mình sống đời. Khoa học chưa can dự vào công việc trên chiếc giường rằng lúc này
Tuesday, May 5, 20206:03 PM(View: 501)
Đôi khi người sống không phải vì muốn sống. Người ta phải sống vì không thể chết được. Thế là phải sống. Cho dù sống chui sống nhủi, sống lăn sống lốc, sống trầy sống trụa,
Friday, May 1, 20201:17 PM(View: 621)
Người ta thường nói, gái một con trông mòn con mắt. Những ngày tháng đau buồn, mất niềm tin, mất hy vọng rồi cũng qua đi. Yến Oanh ở nhà một mình lo trông giữ bé Duy, nàng không tiếp xúc với ai, chỉ ngồi "ru con.. tình cũ".
Wednesday, April 29, 20208:23 AM(View: 650)
Cọc…cọc,cọc… Hình như Thụ nghe có tiếng gõ cửa quen thuộc, anh nhỏm dậy, xoay mình, nhấc mí mùng và bước xuống giường một cách êm ái như bước chân của một chú mèo khôn ngoan.