DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,482,485

Trần Yên Hòa - Mẫu Hệ (Chương 10)

Wednesday, March 10, 20219:35 AM(View: 355)
Trần Yên Hòa - Mẫu Hệ (Chương 10)

Mẫu Hệ

 

 mẫu hệ mới




Bạn Văn Nghệ

2015
(Tái bản, có sửa chữa)

 

Mẫu Hệ

Truyện dài

Tranh và trình bày bìa:

   Uyên Nguyên

Bạn Văn Nghệ

Tái bản

2015

 

Lời Mở

 

Ngó đất ngó trời
Ngó trước ngó sau
Ngó trên ngó dưới
Ngó quanh ngó quẩn
Chạnh lòng viết chơi

Chuyện là hư cấu

mọi nhân vật, không gian, thời gian trong truyện đều là sản phẩm của tưởng tượng. 


                                                                               Chương 10
 
 
Văn phòng trường trung học chỉ có ba người thường xuyên có mặt. Ông hiệu trưởng tám Thọ tức Nguyễn Văn Thọ ngồi trong bàn bên trong. Ông Ngân, giám thị, ngồi bàn bên ngoài và Nại Hiên, thư ký, ngồi bàn ngoài cùng.

Hàng ngày, Nại Hiên đến lúc bảy giờ sáng. Làm việc đến mười một giờ, nàng đạp xe về nhà ăn cơm, nghỉ trưa một chút và một giờ bắt đầu đi làm lại. Thời khóa biểu xoay như một cái chong chóng.

Huy, giáo sư triết đệ nhị cấp. Bây giờ hết dạy triết vì chế độ mới không có môn triết học. Chỉ có môn chính trị học dạy về học thuyết Karl Mark, Leninise, nên những tư tưởng của những ông triết Tây Descarte, Voltaire, Montesqieu đều bị dẹp xó. Huy bị đưa xuống dạy Việt văn lớp sáu. Anh buồn không những mình bốn năm Đại học sư phạm ban Triết ra bị vứt vào sọt rác, mà còn bị hạ thấp lớp dạy. Từ giáo sư trung học đệ nhị cấp nay anh xuống dạy đệ nhất cấp cho nên anh càng chán. Thấy hoàn cảnh của Nại Hiên cũng như mình nên anh xuống văn phòng nói chuyện tâm sự với nàng.

Nại Hiên bận chiếc áo sơ mi xanh màu da trời, chiếc quần tây xám đi làm. Nàng không dám bận áo dài từ ngày đi làm việc lại. Không có ai bận áo dài, cả nữ sinh các lớp lớn. Quần tây, áo sơ mi, không đồng phục, nên trông sân trường như một cơ xưởng hơn là một nơi đào tạo con người.
Nại Hiên đang soạn một số hồ sơ của học sinh mới xin học theo cha mẹ từ miền bắc vào làm việc ở đây, lựa ra một danh sách riêng, để được ưu tiên, thi thầy Huy bước vào.

Nàng và Huy đã dạy những lớp đệ nhất, đệ nhị của trường mấy năm về trước đây, bây giờ “cách mạng” về, mọi việc đều bị thay bậc đổi ngôi.
Hôm nay ông hiệu trưởng và ông giám thị đi ra thị xã dự họp nên Huy muốn gặp Nại Hiên để trò chuyện. Văn phòng vắng, chỉ còn có Nại Hiên ngồi trước bàn đánh máy chữ.
Thấy Huy vào, Nại Hiên cũng thấy vui vui. Mấy lần trước gặp anh nhưng không nói chuyện được gì nhiều. Sau cuộc di tản, tháo chạy, giáo sư ở trường cũng tan tác, không biết hoàn cảnh mỗi người thế nào? Nại Hiên nhìn Huy cười. rồi nói:

-Chào thầy Huy, mấy lần gặp thầy mà không nói chuyện được nhiều với thầy, thầy khoẻ không?
-Chào cô Nại Hiên, bây giờ thì cô biết đó, tôi cũng như cô đều xuống cấp. Nhưng còn làm việc ở đây là mừng. May mà tôi chưa dính vào lính tráng của chế độ cũ chứ không thì nay cũng nằm ở Tiên Lãnh rồi.
-Thầy có biết tin tức mấy thầy ở đây không? Thầy Vũ hiệu trưởng cũ, thầy Quản, thầy Tú ra sao?
Huy trả lời:
-Cũng nghe tin thôi. Thầy Vũ bị tập trung cải tạo ở Tiên Lãnh. Thầy Quản cũng vậy. Thầy Tú không đi lính nhưng đã di tản vào Sài Gòn ở luôn trong đó. Chỉ có cô Hoàng hình như được đi Mỹ. Còn anh Soại ra sao cô?
Nại Hiên nói về hoàn cảnh mình:
-Thì tụi này chạy vào Sài Gòn, đến khi Sài Gòn mất thì không biết chạy đi đâu nữa. Anh Soại đi trình diện học tập ở trong ấy, từ ngày tôi về đây không nghe tin tức gì của ảnh hết.
Huy nói cho nàng vui:
-Thì hoàn cảnh ai cũng vậy thôi. Cô cũng đừng lo gì, ảnh học tập một thời gian thì về thôi. Bây giờ cảnh gạo châu củi quế. Tìm một chỗ làm cũng khó nên tôi còn nấn ná ở đây chứ không tôi cũng bỏ nghề rồi. Đời thuở gì mà giáo sư đệ nhị cấp lại đưa lên dạy đệ nhất cấp như tôi. Nếu thời gian nữa mà thấy không khá thì tôi cũng chuồn thôi.

Huy mới ra trường, còn độc than nên anh còn hăng say. Chứ Nại Hiên bây giờ chỉ lo làm việc để kiếm miếng cơm, mà không biết có ổn không, có đủ không đây?.
Huy lại hỏi:
-Cô là giáo sư đứng lớp mà nay xuống làm việc ở văn phòng cô có buồn không?
-Thì cũng như thầy thôi. Cái gì vươn lên cao thì mình vui, còn tụt xuống thì buồn chớ.
-Uổng đi bốn năm Đại học sư phạm.

Câu nói của Huy làm Nại Hiên đâm ra quay quắt. Đã từ lâu cô nghĩ đến chuyện này. Uổng. Uổng thực sự. Bốn năm đèn sách, ba năm đứng trên bục giảng. Thế mà bây giờ ngồi đây làm công việc của một thư ký văn phòng, hết tìm hồ sơ này ghi vào sổ, tìm hồ sơ kia ghi vào sổ, rồi đánh máy…Không nói lên những gì nàng đã học trong bốn năm. Nàng thấy ứa nước mắt.

Huy còn nói thêm là anh dạy đây một thời gian, nếu thấy không có gì khá hơn thì anh sẽ bỏ dạy, đi vào nam, nếu tiện anh sẽ vượt biên. Huy bạo miệng nói ra điều suy nghĩ của mình. Tuy nhiên, Nại Hiên cũng đồng cảm. Trai trẻ như anh mà sống ở đây thật uổng một đời.
Huy chào ra về rồi mà nàng thẩn thờ như người mất hồn. Đã ba tháng qua. Nàng không nhìn lại mình. Vào trường nàng chăm chú làm việc, về nhà lo cho con. Những học sinh cũ của nàng cũng nhìn nàng bằng đôi mắt khác, không trìu mến thương yêu như ngày nàng đang đứng lớp giảng bài. Các em cũng biết trường đã đổi chủ, con người cũng thay đổi. Mỗi học sinh đã làm những bản lý lịch dài thòng kê khai ba đời họ hàng gần xa, bên “ngụy”, bên “cách mạng”. Tất cả đều sống trong một xã hội lấy lý lịch bản thân và gia đình làm chính. Rồi các em ngày mai học sẽ lên cao hay dừng lại giữa đường cũng do lý lịch của các em mà thôi.

Nại Hiên được thầy hiệu trưởng thông báo cho biết, danh sách những học sinh là con em cách mạng thì được để một ngăn riêng. Còn danh sách những học sinh là con em gia đình ngụy thì cũng để riêng, nhất là cha mẹ có đi sĩ quan hay làm công chức chế độ cũ thì được xếp riêng biệt một hồ sơ, gọi là hồ sơ đen. Số phận các em cũng theo cha mẹ mà sáng sủa hay đen tối.

Mới làm ở văn phòng có mấy tháng mà Nại Hiên hiểu được thế nào là sự phân biệt đối xử giữa các em học sinh vô tội với nhau. Ngày xưa nàng vô tư quá, và tự nghĩ rằng không bao giờ có chuyện này. Em nào học giỏi thì sẽ thi đậu, sẽ thành công trên đường công danh, dù đó là con của người phu xích lô hay con của người công chức bự. Chuyện đó là chuyện thật. Bây giờ, trong văn phòng có mấy hộc tủ để chứa hồ sơ. Các em mới lớn lên, còn thơm mùi mực tím, mùi giấy trắng bảng đen, mà các em đã có sự phân biệt đối xử rồi.

Và cả nàng nữa. Nàng cũng thấy cái ghế mình ngồi đây sắp bị lung lay. Hôm qua, ông hiệu trưởng trước khi đi họp, đã nói bóng, nói gió với nàng:
- Lần này tôi đi về huyện họp về việc chính sách mới của nhà nước ta đối với việc tuyển dụng lại nhân viên chế độ cũ. Sắp tới đây sẽ tiến tới thống nhất đất nước, hai chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam sẽ nhập làm một. Đất nước thống nhất rồi dĩ nhiên sẽ có chính sách, quy chế, đối với việc tuyển chọn nhân sự. Cô ở nhà có gì không giải quyết được thì chờ tôi về nhé.
Ông bương bả dắt xe đạp ra đường cái, đón xe đò ra thị xã.

Nại Hiên nghĩ đến tình cảnh của mình, làm ở đây chưa có quy chế gì cả. Lương hướng được trả theo nhân viên tập sự tính bằng kí lô gạo và một số tiền mặt cũng như thực phẩm. Một tháng, nàng lãnh được một bao gạo mười tám kí lô, năm ngàn tiền chế độ cũ, bằng một phần mười tiền lương của nàng ngày trước. Ngày trước, lương tốt nghiệp đại học sư phạm, nàng lãnh theo chỉ số 450, sau khi dạy trên ba năm, lương tăng lên chỉ số 480, ngang hàng với lương công chức tốt nghiệp trường Quốc gia hành chánh. Bây giờ, lương bỗng quá thấp như thế này, với bốn miệng ăn, rồi nào sữa, bột dinh dưỡng cho Anh Chi nữa, làm sao cho đủ. Dù nàng tiện tặn đến đâu cũng không làm sao đủ được.

Nồi cơm ở nhà bà Ngọ nấu phải độn thêm khoai lang hay khoai mì. Các con nàng khi mới ăn khoai lang thì ngon miệng, nhưng ăn riết rồi tụi nó cũng than trời như bộng.
Con Anh Thư nói:
-Mai me nấu cơm đừng độn khoai nữa nhe me.
Con Đông Nghi xen vào:
-Nấu cơm độn khoai chị Thư bỏ khoai cho con ăn không hà. Ăn khoai ớn tới cổ rồi, me ơi!

Nại Hiên nghe lòng xót đau và thương các con mình quá. Thời buổi này, theo cái đà này, khoai củ cũng không có mà ăn nữa chứ đừng nói đến cơm. Cái ăn, cái mặc là cái cốt lõi hạnh phúc của một con người. Tìm ra miếng ăn cho đủ cũng trầy vi tróc vãy. Huống hồ chi nàng một thân một mình phải nuôi ba đứa con với một mẹ già.

Mà đâu phải nàng được yên ổn để làm việc ở đây. Số phận của nàng cũng theo vận nước nổi trôi. Bây giờ còn làm việc thì còn lãnh lương, chứ mai kia mốt nọ, với cái lý lịch hoàn toàn đen tối kia, nàng làm sao đứng yên được, dù với chức vụ thư ký văn phòng.

Nại Hiên trở về nhà thì trời cũng đã mát. Nàng ghé xuống chợ mua chút cá về kho mặn cho mẹ và các con ăn. Cái gánh nặng trên đôi vai nhỏ bé của nàng là mẹ và con. Hai bà mẹ. Mẹ của nàng cũng như mẹ của Soại. Bà nào cũng lớn tuổi và sống một mình. Thà ở xa xôi cách trở, không nhìn thấy cảnh sống của mẹ thì thôi. Bây giờ nhìn hai bà mẹ đã già, móm mém cái miệng, nhai lác khoai mì hay miếng cơn cháy cứng ngắt, nàng không đành tâm. Có lúc hợp tác xã không còn gạo để bán cho dân nên phải mua bù vào bằng bắp. Nàng đem bắp về nấu thật nhuyễn nhưng mỗi khi nhìn bà Ngọ trệu trạo nhai, nàng thấy đau thắt cõi long. Bây giờ nàng là người đứng mủi chịu sào chứ biết trông cậy vào ai đây.

Nàng dắt xe đạp xuống chợ. Dãy sạp bán cá thưa thớt người mua. Hàng rau cải có nhiều người mua hơn vì rau cải giá rẻ hơn cá. Nàng đến một cái sạp bán cá quen của mẹ em Châu. Châu vốn là học trò nàng, nay đã nghỉ học, thường ra phụ mẹ bán cá. Những con cá nằm trên rổ động đậy. Ở đây gần biển nên ngày trước muốn ăn cá tươi lúc nào cũng có. Hồi đó, vào những buổi sáng tinh mơ, “nậu rỗi” - là những người đi buôn bán cá - xuống tận bãi biển Tam Ấp. Họ đi từng đoàn, mua cá gánh chạy về các chợ bán. Chợ Trạm, chợ Cây Trâm, chợ An Tân, chợ Bà Bầu. Những con cá tươi đem về kho ngay ăn với cơm trắng thì ngon tuyệt. Ai cũng biết rằng “cơm trắng cá tươi” là ngon hết chỗ chê.

Bây giờ cá đem về phải qua hợp tác xã. Cân, đo, đong, đếm, vào sổ sách, định giá, rồi mới được bán ra. Còn nếu bán “chui” - là xuống tận nơi mua về bán - hợp tác xã thương nghiệp biết thì sẽ bị phạt. Dù vậy, trong buổi giao thời, kiểm soát còn lỏng lẽo, nhiều người vẫn bán chui. Cá ở đây tươi ngon hơn ở hợp tác xã nhiều. Thấy Nại Hiên đến, chị Cúc, mẹ của Châu, đon đã hỏi:
-Cô Hiên đi chợ đó hả? Có cá nục tươi đây cô.
Nại Hiên nói:
-Chị bán cho em một ký, lựa con nào tươi dùm em nghe chị.
Chị Cúc lấy tay bốc mớ cá bỏ vào cái cân nhỏ. Rồi gói vào trong tàu là chuối khô.
Nại Hiên trả tiền. Chị Cúc hỏi nhỏ:
-Cô Hiên có biết tin tức gì của anh Soại không? biết bao giờ ảnh về không cô?

Nại Hiên nhìn chị Cúc bằng đôi mắt biết ơn. Lúc này còn có người hỏi mình là quý lắm. Những người ngày xưa quen thân, kể cả bà con nữa, thấy nàng cũng tìm cách lơ đi, huống hồ gì những người không bà con thân thích như chị Cúc.
Nại Hiên nói lí nhí trong miệng:
-Cảm ơn chị. Anh Soại em đi học tập cải tạo ở Sài Gòn, em cũng chẳng biết bao giờ về nữa. Thôi kệ chứ biết làm răng. Phần em bây giờ chỉ biết lo cho mấy đứa nhỏ. Bao giờ ảnh về thì về.

Chị Cúc gói thêm cho nàng hai con cá nhỏ, chị nói:
-Cô đem hai con cá này về nấu cho bà chén canh. Cá mới đem về còn tươi đó.
Nại Hiên không muốn nhận nhưng thấy chị Cúc đã nói vậy nàng đành nhận và nói lời cảm ơn. Nàng bước đi và thấy long mình muốn khóc quá. Lúc này nàng thấy có nói bao nhiêu lời cảm ơn cũng bằng thừa với những tấm lòng như vậy.

Cột mớ cá được gói bằng những tấm lá chuối trên baga xe đạp, Nại Hiên đạp xe một mạch về nhà. Nàng đạp mau vì muốn đem cá về nấu ngay cho tươi. Về đến sân, nàng thấy một chiếc xe đạp dựng bên hiên, nàng tự hỏi, ai vậy không biết? Nàng bước vào nhà thì thấy Hòa ngồi trên trường kỷ, đang nói chuyện với bà Ngọ. Hòa là anh bộ đội đi về cùng xe với nàng. Nàng hơi ngỡ ngàng một chút vì hôm nay Hòa bận đồ dân sự, trông khác hẳn với hôm trước trên chuyến xe đò. Trông anh thư sinh hơn, nhẹ nhàng hơn. Mái tóc hớt cao, khuôn mặt cân đối, ở Hòa có dáng vẻ nho nhả của một người công chức hơn là một bộ đội. Hoà đang bế Anh Chi trên tay, còn hai đứa kia thì đứng bên cạnh. Trông thấy Nại Hiên, Hòa cười, nói lớn:
-Chị Hiên về kia, chào chị. Tôi đi công tác ở trong này, sẳn ghé thăm chị và mấy cháu.
Nại Hiên cũng thấy vui trong lòng, nàng vồn vã hỏi:
-Chào anh Hòa, sao anh tìm nhà tôi ra, hay vậy?
-Hôm trước tôi có ghé thăm chị một lần rồi mà nghe bác nói chị đi học bồi dưỡng ngoài thị xã. Hôm nay biết chị đã về nên tôi ghé thăm. Chị có khoẻ không? Công việc dạy học ổn chứ chị?
-Thì cũng tạm, tôi không được đứng lớp dạy nữa, chỉ làm việc ở văn phòng thôi, cũng thấy khó khăn quá.

Bà Ngọ thấy Nại Hiên đã về thì bà cũng đứng lên. Nại Hiên nói với mẹ:
-Mẹ đem mớ cá này rửa rồi kho dùm con chút. Chị Cúc gởi biếu mẹ hai con cá bạc má, mẹ nấu miếng canh ăn.
 Mấy đứa con chạy lại đứng bu quanh nàng.
Anh Thư khoe:
-Chú Hòa mua bánh cho con, me. Con Đông Nghi cũng nói xem vào:
-Chú cho con kẹo nữa, me.

Nàng nở nụ cười vui vì các con nàng vui. Nàng lại gần Hòa đưa tay bế Anh Chi, con bé thấy nàng thì cười và quậy cái chân trông thật dễ thương. Nàng nhớ lại, trong suốt ba ngày hai đêm đi trên xe đò trở về đây, nhờ có Hòa giúp bế mấy đứa con, chứ không thì nàng không biết xoay xở ra sao? Cho nên vì thế mấy đứa nhỏ thích Hòa.
Nại Hiên nói với Hòa:
-Anh Hòa ngồi chơi, tôi cho con bé bú một chút. Tôi đi cả ngày nên chắc con bé khát sữa lắm.

Nàng bế Anh Chi, đặt con lên giường rồi ra bếp rửa mặt mũi. Nước mát tràn lên mặt, trên cổ, khiến nàng nghe khỏe ra. Nàng lấy khăn lau sạch nước và mồ hôi. Nàng lau kỷ người và cảm thấy từng thớ thịt mình bừng lên sức sống. Xong nàng vào trong giường cho con bé bú. Đặt Anh Chi nằm ngữa trên đùi và dỡ cái cọt xê. Con bé quậy quậy cái đầu rồi rồi đưa miệng tìm vú. Sữa từ thân thể nàng tuôn trào nơi miệng bé Anh Chi, những dòng sữa chạy từ thân thể ra đầu vú làm nàng nghe rạo rực. Một nổi rạo rực chạy khắp cơ thể, nàng lén khoác hé tấm màn nhìn ra ngoài. Hoà đang chơi với hai đứa kia, trông có vẻ tâm đắc. Nàng nhắm mắt lại nghĩ đến Soại và những lần Soại từ hành quân trở về. Soại lao vào nàng như một con thú, hai người quấn lấy nhau. Bây giờ thì Soại ở thật xa nàng, xa quá. Nhớ lại những lúc nàng quằn quại trong vòng tay Soại và cảm giác cũng bừng bừng như lúc này đây, bây giờ anh ở đâu,hở anh?

Anh Chi bú mẹ no nê rồi thiu thiu ngủ. Nàng đặt con lên giường rồi bước ra ngoài. Tự nhiên Nại Hiên thấy mình ngượng với cảm giác mình có khi nãy, nàng thấy nóng ở hai bên lỗ tai. Nại Hiên bước đến đến chỗ trường kỷ thì Hòa lên tiếng:
-Tôi đến thăm chị và cháu chút rồi tôi trở về lại ngoài thị xã. Nay tôi công tác ở tỉnh đội, nhưng thỉnh thoảng vẫn về các huyện đội để sinh hoạt. Lần khác, tôi vào đây tôi sẽ lại ghé thăm chị.
Nại Hiên thấy mình cần nói một câu xã giao:
-Cũng gần tối rồi, mời anh ở lại ăn cơm với gia đình tôi. Ăn cơm mắm mà.
Hòa đứng lên:
-Cảm ơn chị nhiều, nhưng bây giờ tôi phải về ngoài chớ không thì hết xe. Tối nay tôi phải trực.

Thấy Hòa quyết chí đi về nàng cũng không mời thêm. Thật sự nghe Hòa từ chối nàng cũng thở ra nhẹ nhõm. Chứ nếu Hòa ở lại, ăn cơm toàn khoai độn nàng cảm thấy ngượng, dù biết rằng, trong giai đoạn này, biết bao nhiêu gia đình còn tệ hơn gia đình nàng, ăn toàn khoai. Nhưng dù sao, tránh đi cho người khác nhìn vào sự thiếu thốn nghèo khổ của mình, vẫn có cảm giác nhẹ nhàng hơn.
Hòa ra chào bà Ngọ, bế mấy đứa nhỏ lên hôn, rồi dắt xe đạp leo lên yên. Con Anh Thư nói:
-Chú Hòa lần sau tới mua cho con bánh nữa nghe.
Con Đông Nghi hùa theo:
-Chú nhớ mua cho con bong bóng nữa đó. Hòa gật đầu cười, vẫy vẫy tay rồi nhấn pe-đanh xe đạp. Hòa đi rồi, con Anh Thư kể:
-Mẹ, chú Hòa mua cho con và em nhiều bánh lắm, có cốm rang Trung Quốc nữa me.
Nại Hiên giật mình, Hòa mua quà cho các con mà nàng không biết để nói tiếng cảm ơn. Nàng đi vào bếp, thấy một gói giấy báo để trên bàn, nàng hỏi bà Ngọ:
-Gói gì đây mẹ?
-Thì bánh của chú bộ đội đem cho mấy đứa nhỏ.

Nàng bước tới lấy gói giấy dỡ ra coi, một gói bán ngọt, kẹo và những hộp cốm Trung Quốc. Loại cốm này rất quý. Gọi là cốm Trung Quốc vì đây là lương thực sản xuất cho sĩ quan quân đội nhân dân Trung Quốc. Trong chiến tranh Việt Nam, cốm này chỉ dành cho sĩ quan thôi. Đó là suất lương khô cho các sĩ quan bộ đội đi hành quân trong rừng. Nay hòa bình, sĩ quan được phát để ăn thêm khi đi công tác. Nại Hiên đem gói bánh lên nhà trên. Nàng lấy mấy cái bánh cốm ra mời bà Ngọ, còn lại phân phát cho mấy đứa con. Ai cũng tấm tắc khen ngon vì từ lâu rồi, hình như cả nhà đều không được ăn bánh kẹo nên thiếu chất đường. Bánh cốm Trung Quốc ăn ngọt và bùi, Nại Hiên để dành lại một số bánh ngọt và kẹo, còn bánh cốm nàng chia cho mấy con ăn hết. Một gói quà nhỏ mà làm cho cả gia đình vui, nàng cũng thấy vui lây trong bụng.

Nại Hiên nhớ ngày trước, mỗi khi Soại đi hành quân về, hai vợ chồng thường dẫn về thăm bà nội ở thị xã. Hai người vẫn thường ghé tiệm bánh ngọt Bảo Hương ngon nổi tiếng với những cái bánh ngọt lịm, tươm mất, bỏ vô miệng nghe mát cả người. So ra thì bánh cốm Trung Quốc này làm sao bằng bánh Bảo Hương, nhưng mà nay thì quý làm sao! Tự dưng trong lòng Nại Hiên thấy một nỗi bồn chồn. Nàng nghĩ đến Hòa, người bộ đội đã đem đến cho mẹ con nàng niềm vui nho nhỏ này, với một tình cảm nhẹ nhàng hơn.
 
 
***


Ông hiệu trưởng tám Thọ hôm nay đến trường sớm. Ông ăn mặc tươm tất hơn mọi ngày. Chiếc sơ mi trắng đã cũ, quần tây xám bằng vải đạt-rông xếp li, áo bỏ trong quần, được thắt với dây nịt màu nâu. Như thế cũng tạm gọi là chững chạc, vì thường ngày, ông chỉ bận độc một bộ áo quần bộ đội bỏ ra ngoài quần, nón cối, dép râu, thế là đủ, để ông đi làm.

Thường thường, khi ông thay đổi áo quần là có chuyện quan trọng xảy ra ở trường, như có cấp trên đến tham quan hay là có công tác đặc biệt như thi cử hay hội họp, chẳng hạn.

Thật vậy, hôm nay, Phòng Giào Dục sẽ xuống trường xem xét lại nhân sự ở trường, cho vào biên chế hoặc sa thải những người không đủ năng lực về căn bản trí thức hoặc lý lịch.

Ông tám Thọ đi vào văn phòng với cái xắc cót đựng hồ sơ. Hôm nay ông phải báo cáo với phái đoàn của huyện về tình hình nhân sự của trường. Thật ra, từ ngày giải phóng đến nay đâu cũng mới hơn sáu tháng. Thời gian giao thời còn nhập nhoạng, những giáo chức cũ trở lại trường ông đều thu nhận dạy lại, vì trường đang thiếu giáo viên. Giáo viên mới của chế độ chưa được đào tạo. Giáo viên ngoài bắc vào hay theo giải phóng trở về cũng rất hạn chế, vì trong chiến tranh, ngành giáo dục không được quan tâm đúng mức. Trình độ giáo viên còn quá hạn hẹp nên ông đành thu dụng những giáo viên cũ. Đây là bước đầu, nên ông phải tạm hoản binh và cũng theo đúng chính sách của chế độ mới ban hành.

Chứ thật ra, ông rất sợ những giáo chức cũ, nhất là những giáo sư đã tốt nghiệp đại học sư phạm, trình độ trí thức họ đã cao, kèm theo trình độ chuyên môn đứng lớp họ vững vàng, nên ông sợ. Một người đi tập kết như ông, học lôm côm mớ chữ ở trường làng, rồi theo đuổi mấy khóa nghiệp vụ bổ túc văn hóa mấy tháng, nên ông sợ mình có nói điều gì hớ hay sai, sẽ là đầu đề cho bao nhiêu chuyện cười mà ông đã nghe loáng thoáng trong những lúc chuyện vãng, những mẫu chuyện như đùa của những anh lính giải phóng từ miền bắc vào nam, họ lớ nga, lớ ngớ, thế mà cứ làm như mình đang ở một nước văn mình tân tiến đến khai hóa một dân tộc man di mọi rợ.

Ông quyết tránh những chuyện trên, nên với lớp giáo sư cũ ông ít trao đổi hay thân tình. Ông chỉ ra những chỉ thị của nhà trường để họ thi hành. Ông sợ nhất là nói đến triết học, đến chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa Lenine. Những vốn liếng ấy thì ông ít biết. Thôi thì cũng một lần nín thở cho xong công việc. Đến bây giờ, công việc trường trại tạm thời ổn định và bắt đầu đi vào nề nếp, nên ông muốn nhân cơ hội có phái đoàn từ Phòng Giáo Dục huyện xuống thanh tra, ông muốn danh chính ngôn thuận, đề nghị loại bỏ những giáo viên cũ. Ít ra, như vậy ông cũng muốn cái quyền của ông được thực thi và nhổ đi được những cái gai trước mắt. Rồi ông phủi tay, cho sự loại bỏ này là do phái đoàn thanh tra của huyện quyết định.

Ông bước vào văn phòng với sự hăm hở của những toan tính. Nại Hiên ngồi đánh máy một số giấy tờ tại bàn làm việc thường ngày, thấy ông vào, nàng đứng dậy thưa:
-Thưa thầy.
Ông nghiêng cái đầu, nửa gật nửa không, ông đáp lời:
-Chào cô, cô làm việc sớm quá, tốt lắm.
Nại Hiên nói lại:
-Thưa thầy, em cũng vừa đến đúng giờ.

Ông không trả lời câu nói của Nại Hiên, nhưng ông đã có trong lòng sự khâm phục ngầm. Cô giáo trung học đệ nhị cấp bị đưa xuống làm thư ký văn phòng, nhưng cô không bất mãn, công việc lúc nào cũng hoàn tất tốt, nhất là quy luật về giờ giấc, đến đúng giờ mà về cũng đúng giờ, không bao giờ ăn gian của nhà nước một giây phút nào. Trong tâm ông, ông có phục cô giáo trẻ này, nhưng khi đối diện với cô, ông có chút mặc cảm về bằng cấp, về sự hiểu biết. Trong ông luôn có hai trạng thái đối nghịch, muốn loại bỏ cô giáo này cho ông khỏi phải đối diện với những mặc cảm tự ti thua sút, nhưng ông cũng có một chút lương tâm công bình là cô giáo làm việc rất có hiệu quả, đã đỡ đần cho ông biết bao là công chuyện. Vã lại, với ông tư Lôc, anh rể của Nại Hiên, dù gì cũng là chỗ tình nghĩa nhiều năm ở đất Bắc, nên ông cũng thấy phân vân.

Ông đặt cái xắc cốt lên bàn rồi ngồi thừ người ra. Những giáo viên ông muốn loại bỏ ông đã lên danh sách. Thầy Quỳnh dạy vật lý lớp mười một, trung úy ngụy biệt phái, đã theo lớp học tập cải tạo ở huyện một tuần, rồi về xin đi dạy lại đã được ông chấp nhận. Nhưng hôm nay, ông sẽ đề nghị phái đoàn huyện cho Quỳnh đi tiếp tục cải tạo trên Tiên Lãnh vì Quỳnh trong diện sĩ quan ngụy. Giáo sư Huy dạy môn Triết ở lớp mười hai nay xuống dạy Việt văn lớp sáu, ông cũng đề nghị cho nghỉ vì Huy có người anh chạy trốn ra nước ngoài. Huy bị động viên đi lính ngụy chín tuần lễ trở về. Ông sẽ đề nghị lên với đoàn huyện là, môn Triết tư bản là phản động, không còn chỗ đứng trong chế độ mới. Huy không còn môn dạy với chuyên môn của mình nên cho về vườn là hợp lý. Giáo sư Khởi dạy Anh văn, là con rể trong gia đình Quốc Dân Đảng. Khởi bị động viên đi sĩ quan Thủ Đức, tốt nghiệp ra chuẩn uý, trở về dạy lại tại trường. Nay ông sẽ xét lý lịch và đề nghị phái đoàn cho thầy Khởi nghỉ.

Ông xoa tay, đứng lên cầm phích nước nóng rót vào bình trà. Nại Hiên vẫn chu đáo lo nước nóng và trà cho ông hàng bữa. Ông biết đó là lòng tốt của Nại Hiên. Nhưng bây giờ thì sao? Cô giáo đại học sư phạm này cũng sinh ra trong gia đình Việt Nam Quốc Dân Đảng, có chồng là sĩ quan Đà Lạt đang tập trung cải tạo. Lý lịch như vậy làm làm sao ông lưu giữ lại cho được. Dù có lời gởi gắm của tư Lộc nhưng tư Lộc đã đến thời xuống dốc, không còn nắm giữ chức vụ gì quan trọng nữa. Ông nghĩ, để công minh, ông nhường cho phái đoàn huyện quyết định việc này. Như vậy, ông vừa an tâm, vừa không chạm đến tư Lộc.

Khoảng chín giờ thì phái đoàn của huyện tới. Có năm người. Tất cả đều bận đồ bộ đội. Thời đại này các viên chức hành chánh, giáo dục, mà vẫn bận đồ bộ đội. Hình như cái bộ đồ ấy đã tự nói lên cái vẻ cách mạng, cái vẻ viên chức nhà nước. Nó là một quyền hành.

Ông tám Thọ ra đến tận hành lang văn phòng đón phái đoàn. Những cái bắt tay nồng nhiệt, những vòng tay ôm nhau thân thiết. Những lời nói đẩy đưa:
-Chào đồng chí thủ trưởng.
-Chào đồng chí.
-Chào đồng chí.
-Đồng chí mạnh giỏi.

Phái đoàn giáo dục huyện gồm năm người, trưởng phòng, phó phòng đặc trách chi ủy, trưởng ban nhân viên, một thư ký và một nhân viên lái xe. Họ đi trên một chiếc xe nhà binh Trung Quốc đã cũ.
Sau khi an toạ ở bàn hội nghị trong văn phòng hiệu trưởng, ông tám Thọ đứng lên nói lời chào mừng phái đoàn. Ông nêu ra một số khó khăn về nhân sự của trường còn tồn tại. Sự thiếu hụt giáo viên trong lúc ban đầu. Bây giờ tình hình đã đi vào nề nếp. Mọi quyết định đều do Phòng Giáo Dục huyện chỉ đạo.

Ông nói nhiều về cách trồng người của chế độ mới, những ưu việt hơn hẳn chế độ tư bản như là tôn trọng tài năng và nhân phẩm của con người. Giáo dục góp một phần quan trọng trong sự nghiệp trên, nên cần có một lớp cán bộ căn bản đạo đức, thấm nhuần tư tưởng con người mới xã hội chủ nghĩa.
Ông kê ra một số giáo viên mới, được đưa từ rừng về, dù sức học trong chiến tranh có hạn chế, nhưng đó cũng là những hạt nhân tốt để đưa nền giáo dục xã hội chủ nghĩa lên cao. Đó là giáo viên tư Lành, nguyên là du kích xã Kỳ Sanh, bị thương được đưa ra chữa ở miền bắc và đã theo tu nghiệp ngành giáo dục ở Trung Quốc. Đó là cô giáo hai Mới, giáo viên ấp tân sinh chế độ cũ, lén lút hoạt động địch vận nay đã trở thành giáo viên tiên tiến. Đó là ba Kha, đã trên bốn mươi tuổi mới tốt nghiệp đại học hệ tại chức tại miền Bắc. Đó là hai Mô, người đàn bà đã chiến đấu gan dạ trong trận đánh vào căn cứ Núi Thành của ngụy quân, nay hòa bình lập lại, trở về cầm phấn và đứng trên bục giảng.

Ông tám Thọ thôi nói. Ông nhìn lướt qua những khuôn mặt trong phái đoàn huyện. Tất cả những cán bộ này cũng là người từ rừng về. Trông ai cũng đăm chiêu, khắc khổ. Ông uống một ngụm nước trà cho thông cổ họng rồi ông chuyển qua những người ông muốn loại bỏ.

Thầy Quỳnh, thầy Huy, thầy Khởi, cô Nại Hiên. Ông nói, cố giữ cho ra vẻ vô tư, bình thản. Các người trong ban thanh tra cúi xuống ghi chép. Ông đi từ đoạn đời hoạt động của từng người trong thời gian phục vụ trong chế độ cũ. Ông xuyên sâu đến tư cách, phong cách giảng dạy.
Rồi ông kết luận:
-Thưa các đồng chí! Tôi muốn cho các đồng chí hiểu được nhu cầu giáo dục của trường chúng tôi. Chúng ta cần đào tạo ra một lớp người mới xã hội chủ nghĩa, như lời bác Hồ dạy về cách trăm năm trồng người, để tùy các đồng chí quyết định.
Buổi họp kéo dài gần ba tiếng đồng hồ.

Nại Hiên sững người khi biết mình không còn đi làm được nữa. Ông hiệu trưởng tiễn phái đoàn ra tận cổng, khi trở vào, ngập ngừng một chút, nhìn lướt qua khuôn mặt nàng, rồi ông tám Thọ nói:
-Thành thật chia buồn cùng cô. Tôi cũng muốn giữ cô lại làm việc, vì cô làm việc rất tốt, nhưng quyết định không phải ở tôi mà ở phái đoàn thanh tra của huyện đã cho cô nghỉ việc.
Nại Hiên không nói gì. Nàng biết mình sẽ bị loại bỏ từ từ khỏi các sinh hoạt trong guồng máy của chế độ mới. Nghĩ đến mẹ đang ở nhà, đến ba đứa con, nàng ứa nước mắt.

                                    
***

 
Nại Hiên trở về nhà. Một lần trở về buồn bã và tuyệt vọng. Nhận được tin thôi việc từ ông hiệu trưởng tám Thọ, nàng bỗng chao đi một lúc rồi nàng lấy lại bình tĩnh. Nàng sắp xếp hồ sơ đúng như mọi ngày vẫn làm, nàng định cố gắng để làm hết ngày hôm nay, nhưng đến gần trưa, không chịu được sự xao động và buồn trong lòng, nàng gõ cửa vào nói với ông hiệu trưởng:
-Thưa thầy, em đã làm xong công việc ngày hôm nay, em xin về.

Ông hiệu trưởng tám Thọ đang đọc cái gì đó, nghe tiếng gõ cửa thì ngẫn đầu lên, thoáng thấy bóng Nại Hiên, ông trở nên lúng túng, khi nghe Nại Hiên nói, ông mới trấn tỉnh lại rồi cất tiếng:
-Cô muốn nghỉ việc ngay hôm nay hả? Thôi cũng được. Tôi cũng không giữ cô làm gì. Cô về đi, tôi sẽ chấm công cho cô đến cuối tháng. Tem phiếu mua hàng cũng vậy, cô sẽ nhận được đầy đủ.

Nại Hiên nói cảm ơn thầy rồi bước ra ngoài. Nàng đi luôn một mạch ra ngoài chỗ để xe đạp. Nàng cúi mặt đi lầm lủi, rồi nàng ngững lên nhìn lại ngôi trường. Đây là lần cuối cùng nàng nhìn lại ngôi trường, một thời gian dài nàng đã gắn bó. Bây giờ thì hết rồi, hết mọi hy vọng. Sẽ là lần cuối cùng, sẽ không còn những háo hức đứng trên bục giảng trở lại. Bốn năm đã sống và làm việc ở đây. Dù gì cũng để lại trong tâm hồn nàng bao nhiêu kỷ niệm. Nàng cũng muốn đến chào thầy Quỳnh, thầy Huy, thầy Khởi, nhưng cũng chẳng nghĩa lý gì. Ai cũng như nàng, cũng hoàn cảnh của một người bị cho thôi việc.

Nại Hiên bước ra khỏi sân trường, đến cổng, nàng quay lại nhìn ngôi trường. Nàng vẫy tay thật nhẹ với ngôi trường rồi vẫy tay tay đón một chiếc xe lam, cho tài xế bỏ chiếc xe đạp nàng lên mui, nàng thấy mệt mõi không còn sức để đạp xe đạp nữa.
“Anh biết không? Em đã trở về và đã thất vọng. Một hy vọng nhỏ bé để bấu víu là được đi dạy lại, để khi anh về cùng em lo nuôi con, mà cũng không được. Bây giờ không biết em sẽ làm gì để sống đây. Anh ở đâu, anh đang ở đâu vậy hở?”

Người lái xe hỏi:
-Cô về đâu?
-Tôi về đến chợ.
-Hai trăm.
Nại Hiên lấy tiền ra trả. Nàng không nói gì thêm. Nàng nghe lòng mình chùng xuống.

Nại Hiên đạp xe từ ngã ba chợ về nhà. Vẫn con đường đất đỏ mấy chục năm nàng đã sống. Bây giờ tự nhiên như xa lạ, vô hồn. Mấy lần đi làm về, nàng thường ghé chợ để mua chút cá hay chút thịt về nấu cho mẹ và các con ăn cơm. Hôm nay nàng bị thôi việc, buồn quá, nàng chạy xe về nhà luôn.

Các con chạy ra đón nàng. Đứa nào cũng vô tư hỏi mẹ đủ điều.
Nàng đi vào nhà. Bà Ngọ hỏi:
-Sao hôm nay về sớm vậy con?
Nàng ứa nước mắt:
-Con bị cho nghỉ việc rồi mẹ.

Bà Ngọ hơi sựng lại một chút. Nhưng rồi bà cũng hiểu ra. Nai Hiên không thể được tiếp tục làm việc vì gia đình bà toàn là “ngụy”. Điều đó thật dễ hiểu. Bà không buồn nhưng bà lo cho con và cháu. Nó sẽ làm gì để kiếm miếng ăn đây?
Bà nhẹ nhàng nói:
-Khi con về lại đây mẹ đã nghĩ là con không xin đi dạy lại được. Trước đây những thầy cô giáo gia đình có liên quan đến ngụy đều không được dạy lại. Con được làm việc là chuyện khó tin, cũng nhờ thằng tư Lộc. Nay con nghỉ việc là mẹ biết điều mẹ nghĩ là đúng, thằng tư Lộc thì sắp nghỉ hưu. Thôi cũng đừng buồn, chuyện đâu còn có đó. Trời sinh voi sinh cỏ.

Bà Ngọ nói theo suy nghĩ của bà, bà dùng chữ “ngụy” để chỉ về phe quốc gia như bao nhiêu người đã dùng, để chỉ một chế độ đã qua, bà không có một suy nghĩ gì về từ ngữ. Nại Hiên ra giếng rửa mặt, mũi, tay, chân. Nàng thả chiếc gàu xuống giếng nước múc nước, mặt nước lung linh, bóng hình nàng tan loãng, chao động. Bóng nước chao động như chính lòng nàng lúc này. Chỉ có một ý nghĩ duy nhất. Làm gì để ăn, để sống đây? Nàng, một bà mẹ và ba đứa con. Nàng làm việc ở trường thế mà cũng được sáu tháng. Mỗi tháng lãnh được mười tám ký gạo. Tem phiếu mua thức ăn, thực phẩm và một số tiền nhỏ. Cả gia đình nàng sống dựa vào đó.

Bây giờ mất đi khoản lương đó. Làm sao? Làm sao? Gần Tết rồi. Còn mấy tuần nữa thôi. Thôi chịu đựng qua Tết sẽ lo liệu cho công việc mới. Lúc này phải xắn tay áo lên chạy chợ. Chứ không cả nhà sẽ đói. Nghĩ đến chữ đói nàng thấy run người lên.

Tết rồi cũng đến, đang đến. Buồn tẻ và lạnh ngắt. Cả nhà không sắm sửa gì. Không hoa quả, không bánh trái. Bánh tét, bánh ú, bánh gai của những mùa tết xưa, nay không có. Không pháo nổ, không dưa hành câu đối đỏ. Cả gia đình Nại Hiên sống lầm lủi. Nàng soạn lại mấy cái áo cũ còn mặc được cho các con. Mua một con gà về cúng giao thừa với xôi nếp. Cả nhà im lặng. Bà Ngọ nhìn con và cháu ăn tết mà nước mắt lưng tròng. Cái tết đầu tiên sau ngày giải phóng. Nàng không dẫn con đi chơi đâu, chỉ lẩn quẩn trong nhà. Nàng nghĩ đến Soại bằng những ý nghĩ rời rạc. Mười ngày đã qua. Rồi ba tháng, rồi sáu tháng. Mọi hy vọng đoàn tụ tắt ngấm trong lòng nàng. Nàng thấy nàng khổ hơn bất cứ ai, kể cả Soại đang trong diện tập trung. Vì trên vai nàng còn phải nuôi ba đứa con. Nàng phải suy nghĩ, tính toán.

Ngày mồng ba.
Đang ngồi xếp đồ cho con ở ghế trường kỷ thì có tiếng chó sủa rồi tiếng xe đạp thắng kít ngoài sân. Tiếng của bé Anh Thư reo ngoài hiên:
-Chào chú Hòa, chú Hòa đến thăm con đó hả? Chúc mừng năm mới chú Hòa.
Nại Hiên nghe tim mình đập mạnh. Hòa. Lại Hòa.
Hòa dựng xe bên bức tường rồi bước vô nhà sau khi trả lời mấy câu chào hỏi của bé Anh Thư. Ngày Tết, Hòa bận đồ thật tươm tất. Quần tây xám, áo sơ mi xanh da trời, đi dép sa bô. Bỏ đi bộ quần áo bộ đội thấy Hòa trẻ ra.

Hòa thấy Nại Hiên thì nở nụ cười, rồi vồn vả nói:
-Chào chị Nại Hiên năm mới.
-Chào anh Hòa, năm mới anh đi chơi sớm nhỉ.
Hoa đon đả:
-Sẳn đi thăm bạn bè ở Núi Thành, ghé qua thăm chị và mấy cháu. Chị khỏe không, phát tài chưa?

Nại Hiên không cười nữa. Nàng cau mặt lại, nói mỉa mai:
-Tôi mất việc từ tháng nay lận, nên tết đến buồn lắm. Mấy ông ở phòng giáo dục huyện cho tôi nghỉ việc vì tôi có thân nhân tham gia chính quyền cũ. Tôi đói đến nơi rồi đây, chứ có gì mà phát tài.

Hòa trố mắt nhìn Nại Hiên, tưởng như nàng nói đùa, nhưng nhìn khuôn mặt ấy, đôi mắt ấy, ai cũng thấy một nổi u uẩn khôn cùng.
Hòa nói nhỏ như một an ủi:
-Tôi không biết chị đã nghỉ việc. Xin lỗi chị. Tôi đã nghĩ trước chuyện này nhưng không giám nói cùng chị.

Hòa đứng im lặng bên Nại Hiên, hai tay anh vòng trước ngực. Nại Hiên nghe tự lòng mình có một cơn giận từ đâu ùa tới. Có phải chế độ này mà đại diện là Hòa, là những người mặc đồ bộ đội từ trên rừng về. Đạn pháo nổ trên những nóc nhà, những mảnh vườn, cày xới đất đai, làm bật tung lên những xác người. Trẻ em. Đàn bà. Người già. Họ không có một tấc sắt trong tay. Họ là những người cùng khổ chạy giặc tứ tung cùng khắp các nẽo đường. Không có những người bộ đội như Hòa, bỏ quê, bỏ đất, lên rừng. Để bây giờ, trở về tạo nên một hố sâu ngăn cách với những ý thức hệ về chủ nghĩa. Quốc gia, Cộng sản, là gì? Chẳng là gì hết. Nạn nhân. Những con tốt nạn nhân. Nàng cũng là một trong những con tốt đó.
Cơn giận làm nàng đỏ mặt, nàng muốn nói một câu gì đó với Hòa, nhỗ toẹt vào mặt anh những uất hận mà nàng đã ngầm giữ trong lòng từ ngày bị nghỉ việc. Nhưng cái lòng nàng, cái miệng nàng, từ lâu, vẫn là của một cô giáo, đứng trên bảng đen giảng cho học trò những lời hay ý đẹp. Nàng không mở ra lời. Cuối cùng nàng chỉ ứa nước mắt nói:
-Các anh về đây làm gia đình tôi khổ quá. Thôi anh đi đi, đừng đến thăm tôi nữa, tôi hận mấy anh quá rồi.

Hòa hơi sựng lại vì câu nói của Nại Hiên, anh cũng tự hiểu ra, có một hố sâu ngăn cách gữa anh và nàng. Trên đường từ Sài Gòn về, cô giáo một nách ba con làm anh mũi lòng và thấy cần giúp đỡ. Qua những lần tiếp xúc, anh thấy nàng một tâm hồn rất lạ lẫm làm anh bị cuốn hút. Có phải những ngày trong bộ đội, nằm rừng, nằm hố, đã chôn chặt trong anh những ước mơ về một mối tình đẹp. Ai nói con người cộng sản không có tình yêu. Anh đã lên rừng là cả một nhiệt huyết của tuổi trẻ. Chiến Tranh Giải Phóng. Kháng Chiến. Là những danh từ đẹp nhất đã kích động con người anh. Bây giờ trở về. Anh thấy mình như đã qua đi, đã bỏ mất một quãng đời niên thiếu đẹp đẽ thơ mộng. Nại Hiên đã cho anh lại những mơ mộng về một tà áo dài thấp thoáng ở sân trường trung học. Nhưng sao Nại Hiên vẫn còn căm hờn những người như anh? Ra đi vì một lòng giải phóng quê hương.
Anh nói nhẹ nhàng:
-Chị đừng buồn tôi. Tôi vô tội trong chuyện này. Thôi xin phép chị tôi về. Chúc chị một cái tết vui. Tôi gởi chị chút quà cho các cháu.

Hòa để gói quà trên bàn rồi quay quả ra xe. Nại Hiên nghe lòng mình trống không. Cái trống không của chán nãn và uất hận.
Hòa đạp xe đi. Tiếng chuông leng keng đã ở đầu ngõ. Nại Hiên mới thấy ân hận về chuyện mình đã nói nặng lời với Hòa. Mình giận cá chém thớt quá đáng. Nại Hiên bước đến cầm gói quà và mở ra. Bánh ngọt và cốm Trung Quốc. Của tuy không quý nhưng nàng nghe lòng mình dịu lại. Đây có lẽ là suất lãnh ăn tết của Hòa, Hòa đem biếu hết cho nàng và các con. Dù gì thì cũng là một tấm lòng. Nàng đem những miếng cốm Trung Quốc cho bà Ngọ và các con.

Nàng kêu:
-Anh Thư dẫn em vào đây me biểu.
Ba đứa con nàng đang chơi ngoài sân chạy vào. Đông Nghi liếng thoắng hỏi:
-Sao chú Hòa về sớm vậy me, me làm gì chú Hòa giận vậy?
Nàng nạt con:
-Kệ chú ấy, con đừng hỏi. Vào đây ăn bánh.
Thấy các con vui mừng chia nhau bánh cốm. Nàng nghĩ, mình hận thù họ mà mình nhận quà của họ. Thật là nhục quá chừng. Nàng muốn hất tung gói quà đi nhưng thấy các con đã cầm trên tay đưa lên miệng ăn ngon lành, trông chúng đùa giỡn vui vẻ với nhau nàng không nỡ giật lấy miếng bánh.
 
* * *
 
Dắt díu ba đứa con trở về lại căn nhà bà Khải, nàng thấy bước chân mình như đi trên con đường nung nóng. Xuống xe lam từ bến xe Tam Kỳ, Nại Hiên thuê xe đạp thồ chở ba đứa con, còn nàng đạp chiếc xe đạp của nàng đem theo về nhà bà nội. Chiếc xe đạp bây giờ như là một vật bất ly thân đối với nàng. Đó là cái chân nối dài của nàng.

Nàng nói với người đạp xe thồ:
-Bác chở dùm ba đứa nhỏ về chợ Quán, bao nhiêu hả bác?
-Mười lăm ngàn đồng.
-Bác chở ba đứa nghe, một đứa bác để trước, hai đứa để ở sau, được không bác?
-Được chứ. Thì phải vậy thôi.

Bác xe thồ cột sau baga một tấm gỗ dài, đặt hai đứa nhỏ lên. Anh Thư và Đông Nghi ngồi ôm nhau. Còn Anh Chi ngồi phía trước. Nại Hiên đạp xe theo trên con đường lởm chởm những hòn đá cuội. Cuộc di tản, bỏ chạy, thất trận, để lại cho nàng một gia tài như thế này đây.
Xe chạy vô nhà bà Khải. Căn nhà cũ, mảnh vườn, sân cỏ, cây dừa, cây dâu đất, cái giếng tắm. Tất cả hiện ra trước mắt như đang nhìn nàng bằng cái nhìn soi mói.

Nại Hiên xuống xe đạp. Ba đứa con được bế xuống đất, tụi nó chạy vô nhà thưa bà nội. Nàng trả tiền cho bác xe thồ rồi bước vào nhà. Bà Khải đang ngồi trên cái chỏng tre.
Bà nói giọng hiền lành:
-Mẹ con nhà Hiên về đó hả. Con Thư, con Nghi, con Chi, đứa nào cũng lớn quá he.
Nàng bảo ba đứa con:
-Mấy đứa vòng tay chào bà nội đi con.

Ba đứa thi nhau chào bà nội rồi chạy ra sân chơi. Còn lại mình nàng trong nhà, nàng nói vơí bà Khải:
-Con bị trường cho nghỉ việc rồi mẹ. Họ nói gia đình mình là ngụy nên không cho con làm việc nữa. Biết làm sao bây giờ. Con ra ở với mẹ một thời gian, nhờ chị Kim chỉ cho con mua bán kiếm ăn nuôi con. Mẹ thấy được không mẹ?
Bà Khải chậm rãi:
-Thời buổi khó khăn quá. Kiếm miếng cơm cũng khó. Nhưng thôi để đó tính sau. Miễn là con chịu cực, chịu khổ thì làm gì cũng được. Kệ, cố gắng nghe con. Con có nghe tin tức gì của thằng Soại không?
-Dạ có. Chị Vân con nhắn về, họ nói đi học tập mười ngaỳ mà mười ngày không thả về mẹ à. Anh Soại đang tập trung ở Long Khánh, ảnh có thư về cho chị Vân con đó mẹ, ảnh nói ảnh vẫn khoẻ.

Nàng nói để cho bà Khải an lòng, chứ thật ra từ ngày về đây nàng cũng chẳng được của Soại một thư nào. Nghe tin chị Vân nhắn về, anh có gởi cho chị một là thư ngắn viết có mấy dòng, báo tin anh đang ở Long Khánh, hỏi thăm Nại Hiên và mấy con. Thế thôi. Thời buổi khó khăn, đường sá ngút ngàn. Nại Hiên thấy lòng mình bỗng dưng nguội lạnh, cả tình yêu với chồng. Có phải cái khổ của nàng bây giờ là do Soại làm nên không? Có phải ba đứa con đã ghì cuộc đời nàng xuống để nàng ngóc đầu không nổi, có phải cái từ “ngụy” đã đi theo sát nàng là do Soại đem đến không?

Nàng mua cho bà Khải gói thuốc Cẩm Lệ để bà ăn trầu. Bà Khải ngồi nhai trầu bỏm bẻm, bà còn xỉa thuốc nữa, thuốc Cẩm Lệ ngon, bà xỉa vào, hơi thuốc làm bà ngây ngây say. Bà nói với Nại Hiên:
-Chị hai mi cũng hết đi dạy rồi. Nó đi buôn trên Cẩm Khê, Tiên Phước. Buôn hàng xáo đó mà. Lên đó có gì mua nấy đem về chợ Quán bán. Cũng kiếm đủ ăn. Mi không biết có sức đi buôn như rứa không?
Nại Hiên trả lời:
-Con cũng cố thôi chứ không biết làm sao mẹ. Đói thì đầu gối phải bò. Chắc là phải nhờ chị hai dẫn dắt chuyện buôn bán chứ con trước giờ đâu có biết buôn bán là gì?
Bà Khải nói:
-Mi đem cháu về đây ở với tau là tau mừng. Chuyện làm ăn để đó tính sau. Mi tắm rửa rồi đi nấu cơm ăn. Mẹ ra chợ mua chút đồ ăn. Gạo mẹ để trong thạp đó.

Nói rồi bà Khải le te bước ra cổng. Cuộc đời bà, vẫn những bước chân le te đó, đã nuôi hai thằng con trai lớn khôn.
Nại Hiên dọn dẹp trong bếp. Những cái nồi đã cũ đầy lọ. Những cái rế dùng đề soong, nồi đã hư, đã rách, nằm chông chênh ngoài sàn nước. Bà Khải ở một mình, đã già rồi nên không ai dọn dẹp. Nàng sắp xếp lại chỗ để bát, đủa. Sắp xếp lại nồi, niêu, soong, chão cho gọn ghẽ. Bây giờ nàng thực sự gánh vác gia đình này. Một mẹ già và ba đứa con dại.
Nàng chạnh nghĩ đến câu ca dao:

Có chồng phải giữ giang san nhà chồng.

 

 

 Trần Yên Hòa
(còn tiếp)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, September 7, 20204:54 PM(View: 1041)
Cái việc Nghiễm không ăn được món Huế, không chịu ăn món Huế đánh đau tự ái của cả gia đình, tôi hướng về ai cũng gặp những khóe nhìn bất thông cảm,
Tuesday, September 1, 20207:58 PM(View: 1168)
Tôi phát âm: chồng tôi hiện có mặt tại chỗ ở, thay vì “chồng tôi hiện ở nhà”, vì căn phòng phập phồng hạnh phúc của vợ chồng tôi tọa lạc tại lầu ba này, không bao giờ có thể được gọi là nhà. Bà khách đi vào trước mặt Nghiễm
Wednesday, August 26, 20205:39 PM(View: 1369)
– Em tôi nói cái giọng gì mà chua như nhúng giấm vậy! – Cái căn phòng này không thể gọi là nhà, không thể gọi là tổ ấm. Em muốn nhà chúng ta phải là một cái nhà
Saturday, August 22, 20206:49 PM(View: 1018)
Tôi bỏ lên gác quên tráng miệng bằng trái chuối. Chiếc quạt máy chạy xoay tròn nửa vòng loang loáng một màu lục
Wednesday, August 19, 20203:59 PM(View: 1093)
Tôi sẽ mặc lại bộ đồ vải quyến trắng, tôi sẽ đi lại đôi guốc mứt, tôi sẽ cặp đuôi tóc bằng cái kẹp ba lưỡi để vào thăm lại trường Đồng Khánh. Tôi sẽ dẫn Nghiễm lên dốc Bến Ngự,