DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,150,282

Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh (tiếp theo)

Saturday, November 27, 201012:00 AM(View: 8260)
Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh (tiếp theo)


Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh (tiếp theo)


Viết xong phần I tập hồi ký này, tôi đưa cho một anh bạn thân của tôi là

Phạm Luận, cán bộ giảng dạy trường Đại học Sư phạm Việt Bắc xem thử.

Luận đọc xong, nhận xét: “Những chuyện tình của cậu cũng chỉ đơn giản

thế thôi à?”

Tôi nghĩ bụng, hồi trẻ, đúng là những cuộc tình của tôi chỉ đơn giản có thế

thôi. Thậm chí có khi chỉ là thứ tình đơn phương – “Có gửi tình đi, chẳng có về”

(Xuân Diệu). Hồi ấy tôi thường vận dụng cái gọi là phép thắng lợi tinh thần của

AQ để tự an ủi: Những cô gái nào kia không có đôi mắt xanh để “Anh hùng

đoán giữa trần ai mới già”. Họ chỉ nhận ra được người anh hùng khi anh hùng

đã là anh hùng.

Nhưng có điều này rất lạ là khi về già thì tôi lại được nhiều cô gái mến,

thường là sinh viên cao học hay nghiên cứu sinh.

Có một sinh viên cao học (DT), khoảng ngoài ba mươi tuổi, vốn là giáo

viên ở một tỉnh miền trung, tha thiết nhờ tôi hướng dẫn làm luận văn. Trong suốt

quá trình làm luận văn, tôi hoàn toàn không nhận biết gì về tình cảm của cô đối

với tôi (chắc đã có những biểu hiện nào đấy, nhưng tôi không để ý). Cho mãi

đến khi cô bảo vệ xong luận văn, một buổi tối đến từ biệt tôi để ra về, tôi cũng

không biết gì. Cô tặng tôi một cái cặp da và một cái dây lưng. Tôi tiễn cô ra

cổng. Chúng tôi đứng với nhau trên một khoảnh sân nhỏ, cạnh cái cổng sắt. Đột

nhiên cô nói: “Thầy cho em hôn thầy một cái”, nói rồi ôm hôn tôi luôn. Chuyện

này không may vợ tôi biết được. Những ảnh cô này chụp với tôi đều bị xé tan

hết.

Từ thực tế này, tôi rút ra kết luận về sự khác nhau giữa tư duy của nam và

nữ: Nữ rất mạnh về tư duy trực cảm. Một thằng con trai yêu một cô gái, đến với

cô ta, dù chưa dám có biểu hiện gì rõ rệt, cô ta đã biết ngay anh chàng này đến

để tán mình đây. Ngược lại, thằng đàn ông chỉ mạnh về tư duy luân lý. Con gái

yêu mình, nếu không nói rõ ra thì hắn vẫn chẳng biết gì cả. Nghĩa là tư duy trực

cảm rất tồi. Nhưng tư duy trực cảm có nhược điểm: không sâu sắc. Cho nên ca

dao có câu:

Đàn ông nông nổi giếng khơi,

Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.

Ngoài ra, có hai cô gái, một người Việt (NT), một người Mỹ (NMP), cùng

thổ lộ tâm sự với mấy người bạn của tôi: “Thầy Mạnh mà còn trẻ thì em yêu

thầy ấy đấy”. Cô người Mỹ thì khi về nước có gửi thư điện tử cho Dương Thu

Hương và Nguyễn Thị Bình: “Ông Mạnh mà còn trẻ thì là một người nguy hiểm

đấy, em phải lòng ông ấy mất – cô viết tiếng Pháp (tomber amoureuse)

Không biết tôi có nên tự hào về cái duyên muộn mằn ấy không?

Có điều này thì tôi thật sự tự hào: những người đọc văn tôi và những học

trò nghe tôi giảng bài, đều nhận xét, đó là văn và lời giảng của một người chưa

già. Có lẽ con người tự nhiên của tôi nó thế: tôi không thích trò chuyện với

người già, dù những người gọi là già này có khi còn kém tôi đến dăm, bảy tuổi.

Họ cũng hay nói đùa đấy, nhưng vẫn là kiểu đùa của người già. Tôi chỉ thích

chơi với đám trẻ, ngồi tán chuyện với nhau, tưởng tượng ra những chuyện rất

tếu, nhiều khi vô nghĩa lý để cười với nhau một cách thoải mái.

Quan Hoa ngày 10 – 5 – 2006


Phần hai - Hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học . Một số thành tựu

Chương IV: Từ dạy học đến nghiên cứu, phê bình văn học

Tôi bắt đầu nghiên cứu phê bình văn học từ khi được giữ lại trường đại

học làm cán bộ giảng dạy (1960)

Như đã nói, hồi ấy chúng tôi coi đại học là một cái gì thiêng liêng lắm. Vì

thế được dạy đại học là danh giá lắm. ấy là được làm cái công việc của những

Trần Đức Thảo, Đặng Thai Mai, Nguyễn Mạnh Tường... kia mà! Tâm lý những

người như chúng tôi lúc bấy giờ rất lo lắng. Người nào cũng ngầm hứa với mình

phải quyết tâm, cố chí vươn lên. Nghĩa là phải học, phải đọc, phải nghĩ, phải tìm

hỏi các bậc đàn anh, hỏi bất cứ ai hiểu biết hơn mình để chiếm lĩnh cho được

kiến thức ở tầm cao. Không xấu hổ. Có gì mà xấu hổ! Vả lại người ta có khinh

mình thì cũng có oan ức gì đâu: đào tạo ba năm ở trong nước, nam nhân lại dạy

nam nhân, đúng là “cơm chấm cơm”, có người gọi là phổ thông cấp bốn! Vậy

mà cũng dạy đại học! Thương cho cái nước mình! Nghèo và dốt. Đến cái thứ

mình mà cũng dạy đại học! Thương nước và thương mình! Vậy thì phải cố, vượt

lên được chút nào hay chút ấy.

Hồi ấy chúng tôi rất kính sợ những người được học ở đại học nước ngoài,

được nghe những giáo sư Tây, giáo sư Tầu giảng bài. Như Lê Huy Tiêu, Bùi

Văn Ba, Trần Xuân Đề, Phan Hữu Nghệ, Phan Huy Luận, ở Trung Quốc về, như

Từ Đức Trịnh, Nguyễn Văn Giai ở Liên Xô về. Từ Đức Trịnh đang học dở dang

ở đại học Liên xô thì phạm kỷ luật, bị đuổi về nước, dạy văn học Nga Xô viết ở

Đại học Sư phạm Vinh. Trần Gia Linh, học đại học cùng khoá với tôi, cũng

được điều vào Vinh dạy Văn học Nga Xô Viết. Anh nói trịnh trọng trước một

hội nghị khoa văn: “Tôi học suốt đời cũng không hết chữ của anh Trịnh”.

Nguyễn Văn Giai cũng tốt nghiệp đại học Liên xô. Ngó vào phòng riêng của

anh, thấy một bộ Pouchkine toàn tập gáy da chữ vàng xếp kín cả một ngăn giá

sách. Sợ quá! Uyên bác quá! Anh đeo kính cận nặng, thường đi đi lại lại trước

sân khu nhà tập thể, đầu ngẩng cao, bộ mặt đăm chiêu. Hẳn là đang suy nghĩ

điều gì to tát, sâu sắc lắm.

Đến khi lớp phó tiến sĩ đầu tiên ở Liên xô về nước như Nguyễn Tài Cẩn,

Nguyễn Đức Nam, Tôn Gia Ngân, Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Ngọc Hiến... thì

chúng tôi không phải chỉ nể trọng mà còn coi như những đại trí thức. Chúng tôi

thường gọi là những ông “phó nghè”. Họ thuộc đẳng cấp khác hẳn, mình không

thể vươn tới được.

Tôi nhớ trong một cuộc hội nghị khoa học ở Đại học tổng hợp Hà Nội vào

đầu những năm 60 thế kỷ trước, anh Đinh Gia Khánh có đọc một bài nghiên cứu

về văn học dân gian. Đọc xong, anh rụt rè hỏi anh Nguyễn Tài Cẩn:“Thưa anh,

như thế có thể gọi là khoa học được không ạ?” Cũng giống như thế, trong một

cuộc hội thảo khoa học bàn về phương pháp luận nghiên cứu văn học, của Đại

học sư phạm Vinh, lúc đó sơ tán ở Quỳnh Lưu, anh Bùi Văn Nguyên, sau khi

đọc xong một báo cáo khoa học, cũng hỏi anh Nguyễn Đức Nam: “Thưa anh,

63

như thế có thể gọi là phương pháp luận được không ạ?”

Coi đại học là thiêng liêng, khoa học là một cái gì rất cao xa, đồng thời tự

thấy mình là hèn kém, theo tôi, đấy là một trạng thái tâm lý rất có ích cho những

cán bộ trẻ mới bước vào hoạt động khoa học như chúng tôi. Không biết các anh

cùng lứa với tôi ở Đại học Sư phạm hay Đại học tổng hợp Hà Nội có tâm lý ấy

không, nhưng những thế hệ trẻ của ngày hôm nay thì rất khác. Hầu như không

có tâm lý ấy nữa. Họ coi đại học chẳng có gì ghê gớm cả. Nhiều sinh viên được

giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy đã từ chối. Khoa học cũng vậy, ai làm chẳng

được. Ông Hoàng Ngọc Hiến nói, dắt con bò sang Liên Xô nó cũng đỗ phó tiến

sĩ kia mà! Anh Hiến thường có lối nói hết sức cực đoan như thế. Nhưng nhìn

vào sự thật, thấy quả cũng có nhiều trường hợp khiến người ta thấy lời anh Hiến

không phải hoàn toàn vô căn cứ: phó tiến sĩ, tiến sĩ ở Liên Xô, ở Đức về hoặc

các vị tốt nghiệp ở các trường đại học lớn ở Trung quốc, quả có một số chẳng

giỏi giang gì thật, thậm chí rất kém nữa.

Thế là coi thường tuốt. Gần đây, hàng năm, riêng khoa văn Đại học Sư

phạm Hà Nội cứ sản xuất đều đều hàng trăm thạc sĩ, hàng chục tiến sĩ, phần

nhiều đều đạt điểm xuất sắc cả. Khoa học vì thế càng bị coi rẻ. Tâm lý này càng

được bơm to thêm bởi thói đố kỵ của khá nhiều tay trong giới làm báo gần đây,

do học hành dở dang nên muốn nhân đây cào tất cả những người có học hàm,

học vị đại học vào cái mặt bằng chung của sự dốt nát, dốt hơn cả những người

không qua đại học. Vũ Hạnh đã nói như thế khi cho rằng Trần Mạnh Hảo không

học đại học là một sự may của anh ta.(1)

Tâm lý này hết sức nguy hại. Thực ra khoa học vẫn là khoa học nếu là

khoa học thật. ấy là con đường rất vinh quang nhưng đầy khó khăn, lắm chông

gai. Tâm lý coi đại học là thiêng liêng, khoa học là khó khăn có thể làm cho một

số người nản lòng, nhụt chí, mất tự tin. Nhưng nếu như ai đó có đủ bản lĩnh, đủ

ý chí, đủ say mê để đi vào con đường này, thì tôi tin rằng thế nào cũng sẽ đạt

được một cái gì thật sự có giá trị. Tất nhiên đạt đến mức độ nào còn tuỳ tài, tuỳ

sức của mỗi người. Mà xét đến cùng, khoa học chỉ cần đến những con người có

bản lĩnh, có ý chí, có sự say mê thực sự đối với nó mà thôi. Nó cần gì đến những

kẻ chỉ muốn thành đạt dễ dãi để dùng những mánh khoé này khác, tạo ra thứ

khoa học rởm, bằng cấp rởm...(2)

(1) Lời giới thiệu cuốn Văn học – phê bình, nhận diện ( Hầu chuyện các giáo sư) của Trần

Mạnh Hảo. Nxb văn học 1999.

(2) Gần đây, do một số người ( giáo sư Hoàng Xuân Sính, anh Hoàng Ngọc Hiến) sang Mỹ tìm

hiểu về đại học cho biết, tôi mới vỡ lẽ ra rằng, té ra ở Mỹ cũng có rất nhiều tiến sĩ rởm, viện sĩ

rởm, có khi còn nhiều hơn ở nước ta.( hơn ba nghìn trường đại học, chỉ có khoảng một trăm

trường có chất lượng và độ bảy trường có tầm cỡ quốc tế. Nhiều luận án tiến sĩ không đáng

điểm không ( zéro ) – bà Hoàng Xuân Sính nói thế. Nhưng khác với ta, họ không sử dụng loại

bằng cấp rởm. ở nước ta thì không phân biệt gì cả.

Tôi muốn là anh chàng Julien Sorel của Stendhal với cái ý chí quyết liệt

muốn vươn lên kia. Tự thấy mình chỉ là một kẻ tầm thường, như Julien ở đẳng

cấp thứ ba vậy thôi, nhưng quyết tấn công vào dinh luỹ của những đẳng cấp cao

hơn. Anh chàng nhà quê, con ông thợ xẻ ở thị trấn Verrières phải làm sao chinh

phục được cả những tiểu thư kiêu kỳ, đài các nhất Paris.

Nhưng phải nói cho đầy đủ rằng, sở dĩ tôi hăng hái lao vào nghiên cứu

khoa học, trước hết và trực tiếp nhất còn vì sự thúc bách của nghề dạy học. Tôi

rất yêu nghề dạy học. Hạnh phúc nhất của đời tôi là được làm cái nghề mình yêu

thích. Lâu lâu không được lên lớp, buồn lắm. Tôi vẫn định nghĩa, nghề dạy học

là nghề được nói. Nhà nước tổ chức những lớp học, tập hợp thanh thiếu niên lại

nghe mình nói hàng ngày. Tôi thường dẫn câu văn này của Nam Cao trong

truyện Lang Rận: “Nói, trao đổi những ý nghĩ, những nỗi lòng, có lẽ là cái tật

chung của loài người. Không được nói thì khổ lắm.”

Điều thú vị là với nghề dạy học, người nghe mình nói lại là một đối tượng

hết sức lý tưởng, tức là những thanh niên có văn hoá, tâm hồn trong sáng. Họ có

nhiệm vụ đi học, nghĩa là đến lớp chỉ để được nghe thầy nói. Cho nên bây giờ

đây, mỗi lần lên lớp, tuy tuổi đã cao, dạy học đã hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn rất hào

hứng, náo nức.

Nhưng không phải ngay từ những ngày đầu dạy học, tôi đã yêu nghề.

Muốn yêu nghề, điều kiện quan trọng nhất là phải dạy tốt. Nghĩa là bài giảng

phải hấp dẫn học trò. Mới lên lớp, (1951) kinh nghiệm chuyên môn chưa có,

kiến thức còn nghèo nàn, nông cạn, dạy hay làm sao được! Vì thế hồi ấy, mỗi

lần lên lớp, tâm trạng tôi rất nặng nề, chưa cảm thấy hứng thú gì. Bài giảng hay

trước hết phải có nội dung hay, nghĩa là có ý mới, ý riêng, chính xác và sâu sắc.

Đối với đại học, yêu cầu này càng cao. ở cấp học này mỗi bài giảng phải là một

công trình nghiên cứu thật sự. Tất nhiên trong cách truyền đạt cũng có một số

thủ thuật này khác tạo thêm sự hấp dẫn. Nhưng đó chỉ là những yếu tố rất phụ,

không thay thế được nội dung khoa học của bài giảng.

Như vậy là, soạn bài giảng và nghiên cứu khoa học là hai công việc luôn

luôn đi sóng đôi với nhau trong cuộc đời người giáo viên đại học.

Vì lẽ đó, với tôi, bắt đầu dạy đại học cũng là bắt đầu nghiên cứu, phê bình

văn học.

Ở đại học, tôi được phân công dạy văn học Việt Nam giai đoạn 1930-

1945. ở Sư phạm Hà Nội, dạy giai đoạn văn học này có ba người: anh Nguyễn

Trác, anh Hoàng Dung, anh Nguyễn Hoành Khung. Nhưng ở Sư phạm Vinh, chỉ

có một mình tôi. Mà phải soạn nhanh, soạn gấp, dạy ngay. Vất vả thật đấy,

nhưng chính nhờ thế mà tôi chiếm lĩnh được văn học giai đoạn này khá nhanh. ở

lại đại học giữa năm 1960, năm 1961 mới bắt đầu lên lớp, vậy mà năm sau

(1962 ), tôi đã tham gia viết giáo trình chính thức với các anh ở Hà Nội (Giáo

trình Lịch sử Văn học Việt Nam 1930 – 1945 Tập V) Nxb Giáo dục in năm

(1963). Đến 1973 thì được giao làm chủ biên viết lại giáo trình này. Từ văn học

1930 – 1945, tôi mở rộng dần đối tượng nghiên cứu sang thời kỳ sau cách mạng

Tháng Tám, và đến cuối những năm 80 thì được giao làm chủ biên bộ giáo trình

Lịch sử văn học Việt nam 1945 – 1975 ( hai tập ) Nxb Giáo dục in năm 1989.

Giai đoạn văn học 1930 – 1945 có một hiện tượng đặc biệt: sự xuất hiện

hàng loạt cây bút tài năng, có cá tính, phong cách độc đáo. Vì thế tôi đặc biệt tập

trung nghiên cứu các nhà văn này. Những công trình nghiên cứu của tôi phần

lớn là những tiểu luận về họ: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng

Phụng, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Tô Hoài, Xuân Diệu, Chế Lan

Viên, Hoài Thanh, Hoàng Cầm..vv… Tiếp tục theo hướng ấy, tôi nghiên cứu các

nhà văn sau cách mạng như Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Chính Hữu,

Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Thi, Dương Thu

Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Đăng Khoa.

Ngoài ra còn có điều này nữa khiến tôi say mê nghiên cứu khoa học: tôi

hình như có cái máu thích tìm tòi khám phá, cho nên bắt đầu ở lại đại học (1960)

ngoài việc nghiên cứu để giảng dạy, tôi lao luôn vào việc tìm hiểu và giải quyết

các vấn đề đặt ra lúc bấy giờ về hai ông Nguyễn Tuân và Vũ Trọng Phụng. Phải

nói rằng đây là hai đối tượng tôi nghiên cứu sớm nhất và say mê hơn cả. Từ

Vinh phóng ra Hà Nội, suốt ngày bám lấy các thư viện ( thư viện quốc gia, thư

viện khoa học xã hội, thư viện của viện văn, viện sử…) hăm hở đọc các ông ấy

từ sách đến các bài báo. Hồi Pháp thuộc, các nhà văn như Nguyễn Tuân, Vũ

Trọng Phụng, Ngô Tất Tố..vv… thường đăng bài trên đủ các thứ báo với những

bút danh khác nhau, kể cả những tờ báo nhỏ của địa phương như Tuần lễ, Thanh

Nghệ Tĩnh tân văn chẳng hạn… Đọc và ghi hết. Rồi chạy đi hỏi những người có

quen biết Nguyễn Tuân và Vũ Trọng Phụng như Đồ Phồn, Như Phong, Vũ Đình

Liên, Lưu Trọng Lư, Tô Hoài, Kim Lân, Nguyên Hồng, Hoài Thanh, Vũ Ngọc

Phan, Nguyễn Lương Ngọc, Trần Minh Tước… Lại hỏi các bậc đàn anh trong

giới lý luận phê bình, nghiên cứu văn học về các khái niệm liên quan đến

Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng như khái niệm phong cách, chủ nghĩa tự

nhiên… Rồi tìm ảnh hưởng của các nhà văn Pháp đến hai ông này như André

Gide, Paul Morand, Emile Zola... Tiếng Pháp, tôi có giỏi giang gì đâu, nhưng

cũng cố đọc một số tác phẩm của các nhà văn này. Đọc cả Nietzsche (

Zarathousta) vì thấy có liên quan đến cái ngông của Nguyễn Tuân..vv...

Nghiên cứu Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng để làm gì? Viết báo, viết sách

về hai vị này rất khó. Vì hồi ấy người ta quy cho các ông này lắm tội lắm: Văn

Nguyễn Tuân thì phù phiếm, có người còn gọi là văn cô đầu thuốc phiện, đùa

cợt với chính trị, lắm cái rớt... Vũ Trọng Phụng, thì sau vụ Nhân văn, bị quy là

chống cộng, tự nhiên chủ nghĩa, chỉ có tài xỏ xiên, Giông tố thì ăn cắp Lôi vũ

của Tào Ngu – một vị uỷ viên bộ chính trị ( Hoàng Văn Hoan ) đã phán như thế.

Đúng là tôi cứ thích húc vào những đối tượng phức tạp như vậy, chả để

làm gì cả. Yêu cầu dạy học không có, chương trình môn văn từ phổ thông đến

đại học hồi ấy đều tránh các nhà văn này như những vùng cấm địa. Nếu có nhắc

đến đôi chút thì cũng chỉ để lên án mà thôi. Sau vụ Nhân văn, không ai nghĩ đến

chuyện viết sách về các ông này. Viết báo còn khó, nói gì viết sách.

Tôi nhớ, lúc ấy có một anh bạn xui tôi thế này: cậu dại lắm, muốn viết

báo, viết sách thì phải nghiên cứu những cây bút cách mạng như Hồ Chí Minh,

Tố Hữu, Sóng Hồng, Lê Đức Thọ, Xuân Thuỷ..vv... hay các nhà văn hiện thực

tiến bộ như Ngô Tất Tố, Nam Cao chứ. Như ông Đệ, ông Đức đấy thôi, cứ in

sách tơi tới.

Tôi nghe ông bạn, quay sang nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh. Lập tức đăng

bài liên tiếp: Mong manh áo vải hồn muôn trượng, Những bài thơ quên mình

của Bác, Cuộc đời cách mạng thật là sang ! Vài suy nghĩ nhỏ về một phong cách

lớn, Đọc văn chính luận của Hồ Chí Minh, Trần mà như thế kém gì tiên, Pác Bó

hùng vĩ..vv... Và cuốn chuyên luận đầu tiên của tôi được xuất bản là cuốn Mấy

vấn đề về quan điểm và phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ Chủ Tịch. (Đại

học Sư phạm in nội bộ năm 1978, Nxb Giáo dục in năm 1981)

Nhưng trong đời nghiên cứu văn học của tôi, tôi có kinh nghiệm này: khi

anh nghiên cứu nghiêm túc một đối tượng nào thực sự có giá trị, thì trước sau

thế nào cũng được dùng đến, ít ra thì bản thân anh cũng nhờ đó mà trưởng thành

lên. Đối tượng càng khó khăn, phức tạp thì thành công càng vang dội, ảnh

hưởng càng xa rộng.

Năm 1968, chị Thiếu Mai, hồi ấy làm ở Tạp chí văn học, đặt tôi viết về ký

chống Mỹ của Nguyễn Tuân. Tôi đã vận dụng những gì từng nghiên cứu về sự

nghiệp của nhà văn này vào việc tìm hiểu những bài ký chống Mỹ của ông. Một

bài phê bình mà nền tảng là sự đào sâu vào qui luật vận động tư tưởng và phong

cách của nhà văn từ ngọn nguồn thời “tiền chiến” của ông. Bài này được Hoài

Thanh đánh giá rất cao. Ông đưa cho anh Cao Huy Đỉnh bài viết vừa duyệt xong

và nói: “ Phê bình văn học hiện đại phải viết như thế này này.” Bài phê bình đầu

tiên này của tôi tuy bị lãnh đạo hồi ấy cho là có vấn đề quan điểm, nhưng đến

năm 1980, thời thế đổi thay, chính nhờ bài ấy mà tôi được giao làm Tuyển tập

Nguyễn Tuân và đến năm 2000 thì làm Nguyễn Tuân toàn tập ( Nxb Văn học ).

Công trình của tôi về Nguyễn Tuân không chỉ được đọc trong nước. Nó còn

được in lại ở Pháp và Canada. Và riêng đối với Nguyễn Tuân tôi được ông đặc

biệt tin cậy.

Về Vũ Trọng Phụng, bài tiểu luận công phu và đắc ý nhất của tôi là bài

Mâu thuẫn cơ bản trong thế giới quan và trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng,

cũng viết năm 1968, nhưng đến 1971 mới được đăng trên Tạp chí văn học. Đây

cũng là một bài tiểu luận được viết trên cơ sở nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp của

nhà văn được nghiền ngẫm từ mười năm trước. Hoài Thanh cũng thích bài này,

tuy Vũ Đức Phúc không tán thành về quan điểm. Chế Lan Viên cũng đánh giá

cao. Hôm ấy gặp anh ở trụ sở Hội nhà văn ( 65 Nguyễn Du ), anh chạy ra bắt tay

tôi và khen bài viết rất hay. Bài này cũng lập tức bị phê phán về quan điểm,

nhưng đến năm 1987, đất nước đổi mới, tôi lại được giao làm Tuyển tập Vũ

Trọng Phụng ( Nxb Văn học ) và đến năm 1999 thì làm Vũ Trọng phụng toàn

tập ( Nxb Hội nhà văn ).

Vậy là cuối cùng, hai ông nhà văn phức tạp và “có vấn đề” nhất kia lại

chính là những người đã giúp tôi khẳng định được vị trí chắc chắn của mình

trong giới nghiên cứu, phê bình văn học.

Từ cuối những năm 60 sang những năm 70, 80 của thế kỷ trước, tôi viết

liên tục, đầy hào hứng, từ viết báo đến viết sách. Viết ngày, viết đêm. Đúng là

có những đêm tôi không hề chợp mắt. Hồi ấy đời sống hết sức khó khăn. Cán bộ

khoa văn Sư phạm Hà Nội chủ yếu sống tập trung ở hai dẫy nhà lá, nền đất, vách

đất gọi là K2, K3. Cả gia đình tôi sống chen chúc trong một gian nhà vẻn vẹn có

mười mấy mét vuông. Nước khan hiếm. Sáng sớm mọi người lục tục đem xô,

đem chậu ra xếp hàng hứng nước ở một cái vòi công cộng. Tôi mượn được một

gian bên cạnh của một anh bạn có nhà ở Hà Nội, để trống, ngồi viết từ chập tối

cho đến khi nghe tiếng xô, chậu loảng xoảng ở vòi nước thì mới buông bút, xách

xô chạy vội ra xếp hàng. Năm ấy ( 1973 ) vì làm việc quá sức lại không có gì bồi

dưỡng, tôi đã bị lao phổi phải nằm ở bệnh viện A gần năm tháng. Năm 1980,

được giao làm Tuyển Tập Nguyễn Tuân, tôi cũng rất ham hố. Phải viết sao cho

xứng đáng với Nguyễn Tuân, nghĩ thế, tôi miệt mài viết đêm viết ngày. Bài Tựa

Tuyển Tập chỉ có 70 trang mà tôi viết tới 6 tháng – tất nhiên cũng có viết xen

vào vài bài báo nhỏ nữa. Sáu tháng ngồi cặm cụi hầu như không rời ghế, tôi bị

xuống máu chân. Hôm ấy, chợt nhìn xuống chân, thấy phù hẳn lên, tôi hoảng

quá.

Thời gian từ khoảng 1970 đến 1985, tôi còn hai lần bị chảy máu dạ dày.

Một lần ở Sài Gòn, một lần ở Hà Nội. Nhưng ra viện, tôi lại viết, viết liên tục

không ngừng không nghỉ. Ngay trong những ngày nằm viện tôi cũng tranh thủ

viết. Không viết thì cũng đọc sách vở, tài liệu và suy nghĩ trăn trở để chuẩn bị

viết.

Vì sao có sự miệt mài, hăm hở như thế?

Tôi cho rằng có hai nguồn động viên chính: một là được học sinh, sinh

viên yêu quý, hai là được nhiều nhà văn khuyến khích.

Như trên đã nói, hai công việc dạy học và nghiên cứu phê bình có quan hệ

với nhau. Nhưng nói cho chặt chẽ hơn thì hai công việc ấy chỉ quan hệ với nhau

về nội dung khoa học chứ không hẳn đồng nhất về phương pháp và hình thức

diễn đạt. Không ít người nghiên cứu thì tốt, viết cũng hay, nhưng dạy thì không

hấp dẫn. Ngược lại có nhiều người dạy thì hấp dẫn nhưng viết lại rất nhạt - vì

văn viết và văn nói rất khác nhau, vả lại đối tượng thuyết phục cũng không hoàn

toàn là một.

Tất nhiên trước hết phải có nội dung tốt đã. Nội dung tốt có nghĩa là phải

có ý mới, ý riêng, chính xác và sâu sắc. Đối với sinh viên đại học, ý mới, ý riêng

phải vượt lên trên tầm tư duy của họ – ý mới mà chỉ ngang tầm tư duy của học

trò thì tuy họ cũng có thể thích nhưng chưa thể thoả mãn về nhận thức. Tôi đã

thấy có nhiều cán bộ giảng dạy thích phô bầy những tài liệu mới lạ, vì biết rằng

sinh viên không có điều kiện đọc được. Như thế đâu phải là vượt tầm sinh viên,

chẳng qua chỉ vì họ không có điều kiện đọc được những tư liệu ấy mà thôi. ở đại

học, bài giảng hay nhất là làm sao, trên cùng một tư liệu, một văn bản, thày và

trò đều được đọc, được biết, mà phát hiện ra những điều mà trò dù có nghĩ cũng

không nghĩ ra được. Vì tầm hiểu biết và nhất là tầm tư duy khoa học của họ thấp

hơn. Dạy đại học gần nửa thế kỷ, tôi nghiệm thấy, sinh viên rất chờ đợi ở người

thầy những phát hiện tầm cỡ như thế. Tất nhiên tôi không nói những loại sinh

viên lười biếng, chả chịu học hành gì. Trên đời, con người ta có nhiều thứ khoái

cảm, trong đó có một thứ khoái cảm rất trí tuệ khi đầu óc được soi sáng bởi một

ý tưởng nào đó có ý nghĩa năng tầm nhận thức của mình lên một bước mới. Đó

thường là những ý khái quát chính xác, sâu sắc, kết quả của một phương pháp tư

duy mới mẻ, khoa học.

Tôi cho rằng đến lớp chỉ nên trình bày những ý tưởng như thế mà thôi.

Những nội dung khác của bài giảng tuy cũng quan trọng, nhưng vì sinh viên tự

mình hiểu được, nên chỉ cần hướng dẫn họ tự tìm tài liệu mà đọc.

Tất nhiên, những ý tưởng sâu sắc, mới mẻ nói trên, phải diễn đạt sao cho

sinh viên hiểu được, nếu không thì làm sao họ có thể hưởng được các khoái cảm

nói trên.

Có người cho rằng, có những chân lý cao siêu, không thể diễn đạt giản dị,

dễ hiểu được đối với học trò. Trong phạm vi hiểu biết của tôi, tôi không tin như

thế. Nếu anh thực sự hiểu được thì thế nào cũng có cách làm cho người khác

hiểu được – người khác ở đây là sinh viên đại học chứ đâu phải loại người vô

học.

Cuối năm học 2003 – 2004, cán bộ khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội

đưa nhau lên tận Tam Đảo để tổng kết năm học. Hôm ấy, tôi phát biểu thế này:

Cán bộ giảng dạy đại học có thể chia làm ba loại: một là giảng rất rõ ràng, rành

mạch những chân lý giản đơn, muôn thủa, ai cũng biết cả rồi. Nghĩa là bài giảng

không làm cho sinh viên khôn thêm lên một tý nào. Hai là diễn đạt quá tối tăm

rắc rối, không ai hiểu gì cả, kể cả người giảng cũng không hiểu mình nói gì. Đây

là loại không thích nói những điều thông thường ai cũng biết, nhưng những điều

mới lạ, độc đáo lại không nghĩ ra, bèn dùng lối khoe chữ nghĩa rắc rối, khoe đọc

sách này sách khác, tiếng Tây tiếng Tầu đủ cả, tung ra một mớ hoả mù khái

niệm có vẻ uyên bác, cao siêu, thực chất đầu óc rỗng không. Loại một tuy tầm

thường, nhưng đứng đắn. Loại hai phải gọi đích danh là lừa bịp, là bất lương

trong giới đại học. Còn loại ba là những thầy giáo thực sự giỏi và trung thực. Họ

truyền đạt cho học trò một cách dễ hiểu những điều mới lạ, sâu sắc. Họ thực sự

là những nhà khoa học, đồng thời là những nhà sư phạm lương thiện. Họ nghĩ ra

nhiều điều mới mẻ sâu sắc và hiểu rõ những điều mới mẻ sâu sắc ấy, nên có

cách diễn đạt cho học trò hiểu được.

Có lẽ từ tuổi thanh niên, công tác ở Ban tài chính tỉnh đảng bộ Thái

Nguyên (1949), tôi đã được giao nói chuyện về văn học với nhiều đối tượng,

nên nói năng cũng quen. Sau này, làm nghề dạy học, ( dạy cấp II từ 1951, dạy

đại học từ 1960 ), tôi cũng rút được một số kinh ngiệm.

Kinh ngiệm của tôi là phải có một vốn từ phong phú mới có thể diễn đạt

được đích đáng những điều mình phát hiện.Trong lời giảng, những từ đích đáng

sẽ gây ấn tượng rất sâu trong tâm trí sinh viên. Hai là, dù bài giảng có hay ho thế

nào, khi mở đầu cũng không nên tạo cho sinh viên tâm thế chờ đợi một điều gì

to tát, ghê gớm cả. Đừng có khoa trương hùng biện, cứ làm cho họ có tâm lý

bình thường để chuẩn bị tiếp thu một bài giảng bình thường. Như thế khi nghe

thày nói những điều không bình thường, nghĩa là sâu sắc, mới mẻ, khoái cảm

của họ sẽ tăng lên gấp bội. Ba là không chỉ trình bầy các chân lí đã phát hiện

được, mà cần chỉ ra con đường đã dẫn dắt tư duy của mình tới những chân lý đó.

Bốn là trong một lớp học thế nào cũng có một vài sinh viên xuất sắc nhất được

bạn bè nể trọng. Nội dung khoa học của bài giảng phải nhằm vào đối tượng ấy,

nhưng cách diễn đạt thì phải làm sao cho cả lớp hiểu được.

Với những kinh nghiệm trên đây, tôi đã có nhiều giờ dạy thành công và

nói chung, được sinh viên hâm mộ.

Vào lớp, tôi rất ít khi kiểm tra sự có mặt của sinh viên xem có đầy đủ hay

không. Một phần vì tính tôi dễ dãi. Phần khác, tôi nghĩ, điều quan trọng là bài

giảng của anh có hấp dẫn hay không. Nếu hấp dẫn thì tự khắc họ sẽ đến đông

đủ, việc gì phải kiểm tra. Vả lại có mặt mà không thích nghe thì có mặt làm gì -

có mặt thế có khác gì để chịu một hình phạt. Những chuyên đề của tôi dạy cho

các lớp đại học, cao học, khi kết thúc, sinh viên thường nài tăng thêm giờ, thêm

buổi, nghĩa là họ chưa thấy chán. Đấy là một nguồn động viên lớn khiến tôi dạy

học say mê, hào hứng.

Nguồn động viên lớn thứ hai của tôi là sự khuyến khích của giới sáng tác.

Trong hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học, đối tượng viết, nhất là

cách diễn đạt có khác với giảng dạy văn học. ở đây, mỗi bài viết là một cuộc đối

thoại với những tài năng văn học, trong đó có những cây bút bậc thầy. Nếu trong

giảng dạy, nội dung khoa học của bài giảng phải nhằm đáp ứng trước hết loại

sinh viên xuất sắc, thì trong nghiên cứu phê bình, khi lập ngôn, lập ý, phải nghĩ

đến những đối tượng cao nhất trong giới cầm bút như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu,

Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Tô Hoài, hay Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,

Nguyên Ngọc… Mỗi bài viết phải là một nỗ lực quyết liệt nhất nhằm đạt tới bậc

thang giá trị cao nhất, tất nhiên tuỳ theo tài sức của mình. Phải viết thế nào để

sau này có muốn viết lại như thế cũng không thể được. ở đây, đúng ra còn có

chuyện cảm hứng. Không có cảm hứng thì cũng khó viết được cái gì là văn thực

sự. Nhưng cảm hứng là gì? Theo tôi, đó là sự gặp gỡ, sự đồng cảm giữa đối

tượng viết, giữa nội dung các tác phẩm được đề cập đến với chính tư tưởng của

mình, nghĩa là với những ước mơ, những kinh nghiệm sống, những yêu, ghét, cả

những căm thù của mình chứa chất, nung nấu không biết từ bao giờ. Chẳng hạn

khi tôi viết về “niềm căm uất không nguôi” của Vũ Trọng Phụng đối với cái xã

hội ông gọi là “vô nghĩa lý” ngày trước, thì tôi quả cũng có chen vào đấy niềm

căm uất của chính bản thân mình đối với những kẻ xỏ xiên, đểu giả, phản trắc

vẫn còn không ít trong xã hội ta hôm nay. Khi tôi ca ngợi câu thơ Xuân Diệu “

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, thì thật tình tôi cũng có gửi vào lời

bình luận của mình niềm khao khát hướng tới cái đẹp vừa trần thế, trần tục, đầy

tính sắc dục, vừa trinh trắng, tinh khiết của hình tượng thơ, đồng thời không che

dấu thái độ khinh bỉ đối với những cây bút phê bình đạo đức giả nào đó từng phê

phán là “thiếu lành mạnh” một trong những câu thơ tuyệt vời nhất, lành mạnh

nhất của nền thi ca Việt Nam hiện đại.

Đặng Đức Siêu có lần nói với tôi, anh đã chảy nước mắt khi đọc bài

“Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng của tôi, ( đăng trên báo Nhân dân, khi nhà

văn vừa qua đời.) Vâng – tôi cũng nói với anh rằng, bản thân tôi cũng chảy nước

mắt khi viết những dòng thương tiếc ấy: “ Nguyên Hồng đã sống hơn sáu mươi

năm, đã viết hơn bốn mươi năm, ai biết được ông đã đổ ra bao nhiêu nước mắt

cho đời và cho nghệ thuật? Bây giờ nằm dưới ba thước đất, nguồn nước mắt ấy,

liệu có bao giờ khô cạn được chăng?” Tôi từng viết rất nhiều về Nguyễn Tuân,

nhưng lần nào cũng rưng rưng xúc động khi nói đến tấm lòng tha thiết của ông

đối với tiếng nói dân tộc, đến thái độ nâng niu trân trọng của ông đối với những

giá trị văn hoá nghệ thuật cổ truyền trên đất nước này và những gì tạo nên cảnh

sắc và hương vị độc đáo của quê hương mình, từ cành đào ngày Tết, dò hoa thuỷ

tiên nở đúng đêm giao thừa, đến cây bàng, cây sấu hết sức bình dị quen thuộc

trên hè phố Hà Nội; từ tấm bánh chưng ngày Tết, hạt cốm làng Vòng bọc lá Sen,

đến bát phở có hương và vị riêng của Hà Nội…

Thơ Hoàng Cầm không phải bài nào tôi cũng thích. Có khá nhiều bài tôi

cho là giả, là gượng. Nhưng tôi thật sự cảm động khi đọc được của ông những

vần thơ như gợi lên được linh hồn ngàn năm của đồng quê Kinh Bắc. Chẳng hạn

như bài Lá Diêu Bông. Tôi đã không cầm nổi nước mắt khi viết những dòng

này: “Lá Diêu Bông là gì? Có cái gì trên đời này gọi là lá Diêu Bông? Vậy thì

tìm đâu cho thấy lá Diêu Bông? Nhưng chính cái ý nghĩa mơ hồ của nó và cái

âm hưởng của nó sao cứ văng vẳng như là tiếng gọi, tiếng kêu, tiếng khẩn cầu

của ai đó trên cánh đồng trống vắng của một buổi chiều đông bị gió đồng thổi

bạt đi thành ra càng trở nên xa vắng hơn và nghe mơ hồ như là tiếng gió: “gió

quê vi vút gọi”.

Có phải là linh hồn của đồng quê ta cất lên thành tiếng đó không? Có

phải là linh hồn của các thôn nữ ngày xưa, của những cô Tấm, những Ngọc

Hoa, Cúc Hoa, những Xuý Vân đến chết vẫn còn vương vấn trên mảnh đất này

với niềm khao khát yêu thương đó chăng? Hay là chính linh hồn ta đó, hoà cùng

linh hồn đất nước, cất lên thành tiếng gọi thiết tha trên đồng chiều bạt gió:

Diêu Bông hời!… ới Diêu Bông!…”

Những dòng này, tôi viết cho Hoàng Cầm, viết về thơ Hoàng Cầm, hay

viết cho mình, viết về lòng mình, thật khó phân biệt.

Nói về cách diễn đạt thì văn nghiên cứu phê bình khác hẳn với lời thầy

giảng trên lớp. Một đằng để nghe, một đằng để đọc. Lời nói gió bay, vì thế,

nhiều câu nhiều chữ trong bài giảng cứ phải nhắc đi nhắc lại để khắc sâu vào

đầu óc học trò. Sinh viên rất khó chịu khi chưa kịp hiểu câu trước đã phải đuổi

theo câu sau của thày. Ngược lại, người đọc rất chán khi bài viết cứ lặp đi lặp lại

một ý “ biết rồi khổ lắm nói mãi”. Văn viết phải rất súc tích. Nếu viết nửa câu

mà người đọc hiểu được rồi thì chỉ viết nửa câu. Kỵ nhất là lời văn cứ tãi ra một

cách thừa thãi. Và cái gì cũng giảng giải làm như người đọc là những học trò

của mình vậy.

Viết phải có văn, có nghệ thuật, giống như đàn bà phải có trang sức.

Nhưng đừng có làm văn một cách lộ liễu để trở thành một lối uốn éo, một thứ

trang trí hoa lá cành. Nhiều khi cũng phải dùng hình ảnh. Nhưng hình ảnh của

văn nghiên cứu phê bình khác với hình ảnh trong văn sáng tác. Hình ảnh của văn

nghiên cứu, phê bình phải đạt được cùng một lúc hai chức năng: một là chuyển

tải tình cảm cảm xúc thẩm mỹ, hai là diễn đạt được những khái niệm, những

phạm trù, những quy luật phản ánh bản chất của đối tượng nghiên cứu, phê bình.

Vì nghiên cứu phê bình còn là chuyện khoa học, chuyện tư duy trừu tượng.

Ngoài ra, cũng như văn sáng tác, văn nghiên cứu phê bình cũng phải có

giọng điệu, cũng phải tạo được không khí. Tuỳ theo nhu cầu này mà chọn từ, đặt

câu cho thích hợp. Nói chung văn phê bình gần với văn sáng tác hơn, hành văn

phóng túng hơn. Có khi phải dùng từ thật chính xác, có khi lại phải dùng những

khái niệm mơ hồ. Có khi phải đặt câu ngắn, có khi phải viết câu dài. Để tạo

giọng điệu, có khi phải viết những câu thiếu thành phần ngữ pháp, giống như

khẩu ngữ vậy – “khẩu ngữ là máu của câu văn xuôi”, có một nhà nghiên cứu phê

bình văn học đã nói như vậy. Biết dùng khẩu ngữ, đúng lúc, đúng chỗ, câu văn

sống động hẳn lên.

Viết văn ai chả muốn viết cho hay. Nhưng tự đánh giá văn mình có dễ

đâu. Dễ chủ quan lắm, “Văn mình vợ người” mà. Ngay những nhà văn lớn cũng

không dám chủ quan về chuyện này. Chủ quan nhất thường lại là những cây bút

trẻ. Có lần giảng bài ở trường viết văn Nguyễn Du, Xuân Diệu đã mở đầu thế

này: “Trên đời, có ba loại người kiêu ngạo nhất, một là đứa trẻ lên ba, cái gì nó

cũng đòi, nó đòi cả ông trăng trên trời, hai là những cô gái đẹp, ba là những nhà

văn trẻ”. Hiện nay đang xuất hiện nhiều cây bút trẻ có thể gọi là đại kiêu ngạo.

Nhưng các nhà văn đàn anh lại thường khiêm tốn. Cứ phải đợi xem phản ứng

của độc giả mới biết văn mình có xem được hay không. Trong tiểu thuyết Anna

Karinine của l..Tolstoi', tôi nhớ có chi tiết này: một danh họa nọ triển lãm tranh.

Ông rất hồi hộp chờ đợi ý kiến đánh giá của bọn quý tộc đến xem, tuy biết bọn

này chẳng hiểu gì lắm về nghệ thuật.

Thế đấy, muốn hiểu văn mình thế nào cũng phải soi vào dư luận độc giả.

Ai chả muốn được khen. Độc giả tầm thường khen cũng thích. Tất nhiên được

loại độc giả cao cấp khen thì khoái hơn nhiều và mới biết được cái giá thật của

văn mình.

Ông Hoài Thanh có lần nói với Hoàng Ngọc Hiến: “Nguyễn Đăng Mạnh

viết thì thông đấy, nhưng phiêu lưu”.

Ông nhận xét tôi phiêu lưu là phải, vì từ sau cách mạng, ông viết quá thận

trọng, thậm chí muốn phủ nhận cả tập Thi nhân Việt Nam nổi tiếng của mình.

Còn tôi thì luôn luôn bị uốn nắn, phê phán. Nhưng được ông khen “viết thông”

không dễ đâu. Tôi biết ông rất chú ý đến văn khi duyệt bài.

Năm 1972, tôi viết bài Sức sống của ngòi bút Nguyễn Thi, Nguyễn Khải

rất thích. Bài này được giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ quân đội. Hồi ấy có lẽ

cách ăn mặc và bộ dạng của tôi rất nhếch nhác. Không biết Nguyễn Khải nghĩ

thế nào mà lại nói với Vương Trí Nhàn: “ấy cứ nhếch nhác thế mới viết được”.

Tô Hoài, Nguyên Ngọc thì cho tôi là người viết phê bình có phong cách,

nắm được cái “tạng” riêng của mỗi cây bút. Hồ Dzếnh thì cho tôi có khả năng

nhận ra được cái thần của mỗi nhà văn. Hồi Nguyễn Minh Châu còn sống, tôi

cũng hay đến anh. Anh nói với tôi: “Anh cứ tiếp tục viết như thế đi, chúng tôi

ủng hộ anh”.

Trong đời viết văn làm sách của tôi, tôi sướng nhất là được nhận những

lời khích lệ của Xuân Diệu và Nguyễn Tuân.

Tôi đến Xuân Diệu luôn vì biết anh rất quý tôi. Anh nói: “ Mình có bốn

người thân quý nhất: Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông và

Nguyễn Đăng Mạnh.”

Rất tiếc là khi còn sống, Xuân Diệu chỉ mới đọc có hai bài viết ngắn của

tôi, một bài viết về tập thơ “Tôi giàu con mắt” và một bài chân dung, nhan đề

“Xuân Diệu và niềm khát khao giao cảm với đời.” Anh Văn Hồng ở nhà xuất

bản Kim Đồng cho tôi biết, Xuân Diệu đọc bài này và đã khóc, vì cho tôi rất

hiểu mình.

Sau bài viết ấy ít lâu (năm 1985), tôi có đến Xuân Diệu để mời anh nói

chuyện với một lớp sinh viên đặc biệt gọi là lớp 5C, học năm năm ( các lớp khác

chỉ học bốn năm.)

Anh nói về bài tôi viết về anh, cho là tôi viết sâu sắc: “Mạnh ít đến mình

mà hiểu mình rất sâu. Đọc bài viết của cậu, người ta sợ gặp cậu đấy, vì cậu sẽ

đưa người ta vào bài viết. Nhiều điều mình nói đã lâu mà sao Mạnh còn nhớ

được, như mình nói về bài Bản đồ huyện ý Yên. Đúng là bài thơ trung bình cần

đến nhà phê bình, mình có nói thế. Nhưng đáng lẽ phải nói bài trung bình của

nhà thơ lớn. Chứ bài trung bình của nhà thơ thường thì phân tích làm gì.

Huy Cận đọc và khen bài này. Chắc Mạnh cũng thấy có nhiều người khen

bài này chứ!”

Lúc ấy có một người khách trẻ vẫn có mặt trước khi tôi đến – Xuân Diệu

bảo là cháu. Tôi đoán anh này chắc có hẹn gì đó với Xuân Diệu, nên nói: “Chắc

anh có việc bận?” Xuân Diệu nói: “Không, mình đang đợi Mạnh đến, đang

mong gặp Mạnh.” Rồi anh vào buồng tìm một cái gì đó. Khi trở ra, anh kéo tôi

ra nói chuyện riêng ở phòng ngoài.

Anh lại nói tôi viết rất sâu về anh, không có ai viết sâu hơn. Đúng là tri

âm tri kỷ. Rồi anh nói vòng vo rào đón để chuẩn bị tặng tôi một cái gì đó để tôi

nhận mà không phải chối từ lôi thôi: “ Mình quý Mạnh, không phải vì Mạnh viết

về mình đâu, chắc Mạnh hiểu không phải như vậy – Anh đẩy về tôi cái đồng hồ

đeo tay đựng trong một cái hộp nhỏ vuông có nắp bằng mica – mình giữ những

cái này mà đến lúc chết đi thì người ta bảo là thằng ngu, nên cần phải gửi ở

người thân làm vật kỷ niệm. Xưa Tản Đà vào Nam kỳ, Diệp Văn kỳ có biếu ông

một nghìn bạc Đông Dương. Một nghìn bạc Đông Dương to lắm! Hồi ấy chỉ

một xu một quả trứng gà thôi mà. Anh con Tản Đà nói, cha tôi nhận ngay mà

không cám ơn gì cả, ngông thế, nhận một cách tự nhiên như là mình có quyền

nhận, chẳng cần cám ơn ai hết, và người cho cũng không muốn nghe lời cám ơn

khách sáo làm gì. Tản Đà sướng thật! Mình thì không xứng với Diệp Văn Kỳ,

nhưng Mạnh thì đúng là Tản Đà.”

Ôi! Anh ví von gì mà kỳ thế! Chắc ý anh muốn nói, tôi nhận mà không

cần cám ơn anh, còn món quà của anh thì bằng sao được một nghìn bạc Đông

Dương của Diệp Văn Kỳ.

Lúc ấy Tuyển Tập Xuân Diệu mới in tập I. Tập này tuyển thơ, Hoàng

Trung Thông đề tựa. Anh đề nghị tôi giới thiệu cho anh một người khác đề tựa

tập II, tuyển văn xuôi. Tôi giới thiệu một người bạn cùng dạy khoa Văn Đại học

Sư phạm với tôi mà Xuân Diệu cũng có quen biết. Nhưng anh ngồi nghĩ một lúc

rồi bảo: “Anh ấy chưa connu.” Và anh nói thẳng: “ Thôi Mạnh viết cho mình.”

Rất tiếc khi Tuyển Tập Xuân Diệu, tập II xuất bản ( 1987 ) thì anh đã qua đời (

cuối năm 1985 )

Về Nguyễn Tuân thì hồi dạy ở Đại học Sư phạm Vinh, tôi có được gặp

một lần. Năm 1967, khoa Văn trường Vinh có giao cho tôi đi mời Nguyễn Tuân

vào nói chuyện với cán bộ và sinh viên về ký chống Mỹ. Nhưng sau đó khá lâu

tôi không tiếp xúc với ông nữa. Không có lý do gì, đến ông rất ngại. Mãi đến

năm 1980, được giao làm Tuyển Tập Nguyễn Tuân, tôi mới có cớ đến ông. Hoá

ra ông có đọc bài Con đường Nguyễn Tuân đi đến bút ký chống Mỹ của tôi đăng

báo từ năm 1968, và khi ông Lý Hải Châu, Giám đốc nhà xuất bản Văn học, đề

nghị hai người làm tuyển tập Nguyễn Tuân là Vũ Ngọc Phan và tôi thì ông đã

chọn tôi.

Khi tôi viết xong bài Tựa Tuyển Tập, anh biên tập viên Lê Khánh thấy dài

quá, đề nghị tôi rút ngắn lại, tôi không chịu, anh bèn đưa cho Nguyễn Tuân, định

lấy cái uy của Nguyễn Tuân bắt tôi cắt bớt bài viết.

Khi tôi đến Nguyễn Tuân để nghe ông góp ý, ông mời tôi uống rượu.

Suốt buổi, ông không nói gì về bài Tựa của tôi. Tôi đoán ông chưa đọc nên xin

phép đi về. Lúc ấy ông mới lấy bản thảo bài Tựa ra và nói vắn tắt: “Tôi không

có ý gì khác. Nhà xuất bản bảo tôi đề nghị anh rút ngắn lại, nhưng anh yên tâm,

tôi đã nói với họ rồi, có nhà văn đơn giản người ta viết ngắn cũng được, nhưng

có nhà văn phức tạp, người ta phải viết dài.” Rồi ông tự tay cho cái bản thảo vào

cái túi xách khá nhếch nhác của tôi ( loại túi của đàn bà đi chợ mua miếng thịt,

mớ rau ) – một cử chỉ thân mật ít có của Nguyễn Tuân. ông còn nói với tôi muốn

đến ông lúc nào cũng được, không cần báo trước, miễn là đến từ mười giờ trở đi.

Trước đó ông thường đi dạo mấy vòng ngoài phố, 10 giờ thì về ăn cơm.

Từ đó tôi đến ông luôn, tất nhiên mỗi lần đến vẫn phải tìm một cái cớ nào

đấy, vì tôi vẫn nghĩ, mình có là bạn bè gì của ông mà đến chơi.

Có một lần ông nói với tôi thế này: “Một buổi sáng nọ, tôi bước ra cửa thì

thấy có hai cháu nữ sinh đứng ở hành lang. Hỏi có việc gì thì nói là sinh viên đại

học ở Thanh Xuân ( ông không nói là ở trường Đại học Tổng hợp ) được thầy

Phan Cự Đệ hướng dẫn làm luận văn tốt nghiệp về Nguyễn Tuân, vì thế xin đến

gặp để tìm hiểu. Tôi nói với các cháu, hãy đến nhà xuất bản Văn học, hỏi địa chỉ

anh Nguyễn Đăng Mạnh, anh ấy sẽ nói cho biết.”

Vậy là tôi được giao làm “đại diện toàn quyền” cho ông rồi còn gì!

ít ngày sau, quả nhiên có hai cô sinh viên tổng hợp tìm đến tôi ở Đồng Xa.

Hoá ra một cô là con ông Phạm Hựu, Giám đốc nhà xuất bản Khoa học xã hội,

còn một cô là con chị Đặng Thanh Lê, cán bộ giảng dạy khoa Văn Đại học Sư

phạm Hà Nội.

Từ xưa đến nay, ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, những

người sáng tác thường không ưa giới phê bình. Riêng tôi thuộc vào số người viết

phê bình ít bị các nhà sáng tác ghét hơn cả. Tất nhiên cũng có người ghét.

Nhưng ít thôi. Thí dụ như Hồ Phương. Trong một bài báo gọi là “ Dòng sông và

rều rác” ( Công an thành phố Hồ Chí Minh. 10 - 1- 1996), anh cho cuốn sách

của tôi: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn ( bị Trần Mạnh Hảo

đánh .) có “ tác hại (…) còn lớn và tệ hơn tác hại của ba cuốn Sex về ái tình éo

le và bạo lực đang còn la liệt trên các vỉa hè, quán sách khắp nước.” Đây là

cuốn tới hôm nay đã được tái bản đến lần thứ tư và đã được nhận giải thưởng

khoa học Nhà nước. Không biết Hồ Phương có đọc không và nghĩ thế nào mà lại

viết như thế, chắc là nhắm mắt theo Trần Mạnh Hảo. Đúng là một đầu óc đen

tối, thô bỉ và rất vô trách nhiệm.

Tôi nhớ hồi 1987, có dịp cùng đi với Hồ Phương sang Cămpuchia. Hồi ấy

quân ta còn đóng bên ấy. Anh Nguyễn Chí Trung có mời một số người sang bồi

dưỡng nhà văn quân đội Cămpuchia: Trần Quốc Vượng, Hoàng Ngọc Hiến, Thu

Bồn, tôi và Hồ Phương. Chỉ có một lớp học thôi nên chúng tôi được đưa sang

lần lượt từng người một, từ Sài Gòn ( doanh trại quân đội số 8 Nguyễn Bỉnh

Khiêm ) sang PNông Pênh, khi về lại ở 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm. ở đây, chúng tôi

ăn ở bếp ăn quân đội. Không hiểu sao hồi ấy cái gì cũng rập theo Tầu. Phòng ăn

có ba dãy bàn phân theo cấp bậc, cắm biển Đại táo, Trung táo, Tiểu táo. Tôi và

Hồ Phương được ăn ở bàn tiểu táo, nghĩa là tiêu chuẩn cao nhất. Tuy vậy thức

ăn chẳng có gì. Hồi ấy đời sống cán bộ cũng như quân đội còn thiếu thốn, khó

khăn lắm. Tôi không phải là lính nhưng cũng rất thông cảm với lính – họ còn

phải ăn theo tiêu chuẩn thấp hơn ( Đại táo ). Hồ Phương là sĩ quan quân đội,

hình như đại tá, trung tá gì đó – bây giờ được phong thiếu tướng rồi – mà ăn nói

rất thiếu văn hóa. Anh nói với tôi: “Chúng nó cho chúng mình ăn như cho chó

ăn vậy.” Đúng là tâm địa rất xấu và độc ác nữa. Vậy mà cứ mở mồm ra là nói

nhân văn, nhân đạo.

Vũ Quần Phương chắc cũng không ưa tôi. Trong cuộc hội thảo về lý luận

phê bình văn học ở Tam Đảo, anh ta ủng hộ Trần Mạnh Hảo, phê phán tôi là tiểu

khí và hãnh tiến. Đúng là ăn nói vu vơ chẳng có căn cứ gì. Bây giờ Hảo đã trở

cờ, không biết có còn dám bênh Hảo nữa không? Vũ Hạnh chắc cũng không ưa

tôi. Khi anh đề tựa cuốn Hầu chuyện các giáo sư của Trần Mạnh Hảo mà cho

rằng, Hảo không qua đại học là một điều may mắn của anh ta, thì chắc anh cho

tôi là đại học rởm, giáo sư rởm. Còn Trần Mạnh Hảo thì tôi cho anh ta chẳng

ghét gì tôi, tuy viết hàng loạt bài xuyên tạc quy chụp tôi tới tấp. Bởi con người

này viết có vì chân lý, có vì yêu hay ghét gì ai đâu, mà chỉ xuất phát từ nhu cầu

cá nhân. Lúc cần đến Đảng thì nịnh Đảng, lúc cần theo Tây thì nịnh Tây, quay

180 độ như không.

Một người cũng hay phê phán tôi, phê phán rất quyết liệt nữa, là anh Trần

Thanh Đạm. Anh cho tôi là đổi mới cực đoan, quá khích, còn tôi thì cho anh là

đầu óc bảo thủ thâm căn cố đế rất khó hiểu ở một con người có văn hoá như anh.

Anh viết một bài phê phán tôi khinh bạc cả cách mạng, khinh bạc hơn cả

Nguyễn Tuân: “Đối với hơn 30 năm hy sinh chiến đấu của dân tộc và của văn

nghệ dân tộc, cụ Nguyễn Tuân chưa bao giờ và không thể có cái giọng khinh

bạc như của anh Mạnh.(1)

Lập luận của anh Đạm có một mâu thuẫn : Câu trên anh viết: “Thế hệ trẻ

rất thông minh, sáng suốt, biết phân biệt lẽ phải, điều hay với những gì trái lại”;

câu dưới anh lại thừa nhận tôi “có uy tín và tác dụng” hơn anh rất nhiều đối với

giáo viên, sinh viên: “ Tôi ( Trần Thanh Đạm ) đã gặp nhiều thày giáo, nhiều

sinh viên mang dáng dấp tư tưởng và phong cách của anh (Nguyễn Đăng

Mạnh), là “đồ đệ” của cả điều hay lẫn chỗ dở của anh.” Vậy thì họ rất ngu chứ

sao lại cho là “thông minh, sáng suốt” được.

Một điều cũng lạ là tuy phê tôi rất ác, nhưng tiếp xúc với tôi, anh vẫn tỏ

cảm tình nồng nhiệt. Rất khó hiểu. Hay vì anh là người Huế – “Sơn bất cao, thuỷ

bất thâm…”?

Nhớ hồi 1979, tôi có tặng anh tập tiểu luận, phê bình văn học đầu tiên của

tôi, cuốn Nhà văn, tư tưởng và phong cách. Sau đó ít lâu, tôi vào Sài Gòn, bị

chảy máu dạ dày phải vào cấp cứu ở bệnh viện, anh có đến thăm. Anh tặng tôi

mấy câu thơ, có thể xem là cảm đề cuốn sách của tôi:

Đọc anh nhớ lúc anh nằm viện,

Một lần ngoài đó, một lần đây;

Những dòng ta viết cho người khác,

Ai biết bên trong máu thấm đầy.

Gần 30 năm đã trôi qua kể từ ngày ấy, giờ tôi vẫn nhớ và vẫn biết ơn anh

về bốn câu thơ ấy.

Về các nguồn động viên đối với tôi trong nghiên cứu phê bình văn học,

tôi còn phải kể đến nguồn này nữa: Cảm tình của nhiều học sinh phổ thông trên

nhiều vùng đất nước. Họ không hề học tôi và gặp tôi bao giờ, nhưng vì đọc sách

của tôi (ngoài sách nghiên cứu phê bình tôi còn viết sách giáo khoa phổ thông

trung học và nhiều sách bồi dưỡng học sinh về môn văn), họ viết thư thăm hỏi

tôi, lời lẽ rất thắm thiết và đầy ngưỡng mộ(1). Thư nào cũng mong mỏi tôi trả lời.

Nhưng tôi cứ lần lữa rồi cuối cùng chẳng trả lời ai cả. Chắc các em cho tôi là coi

thường mình. Không, tôi không coi thưòng ai cả nhất là những người có cảm

tình với tôi – vì khi mới tập sự viết sách tôi đã từng bị có người khinh và rất

thấm thía điều đó. Chẳng qua là tôi có bệnh lười viết thư, kể cả viết thư cho

người thân trong gia đình. Nhưng biết bệnh mà không sao chữa được.

Tôi rất biết ơn những bức thư kia. Đó là những lời động viên hồn nhiên,

vô tư, chân thật nhất, giúp tôi phấn khởi trong hoạt động nghiên cứu phê bình

văn học.

(1) Trao đổi ý kiến với giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh về cuộc “nhận đường” của văn học hôm

qua và hôm nay. Sài Gòn giải phóng, 11 - 6 - 1995.

(1) Tính cho đến hôm nay, tôi đã nhận được 32 lá thư gửi từ các nơi như Thái Bình, Hải

Dương, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Giang, Hoà Bình, Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Qui Nhơn, Phú Yên, Vĩnh Long, Đà Lạt.

Chương V: Những bước thăng trầm của

công cuộc đổi mới và những vụ “đánh đấm”

“qui kết, chụp mũ” của cánh bảo thủ và cơ

hội chủ nghĩa.

Năm 1986, nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI chính thức phát động

công cuộc đổi mới đất nước. Đời sống văn nghệ chưa bao giờ vui đến thế. Lúc

nào cũng như sống trong hội hè. Đúng là không có gì sướng bằng dân chủ thật

sự, được tự do nghĩ và nói thực sự.

Trần Độ lên thay Hà Xuân Trường phụ trách Ban văn hóa Văn nghệ trung

ương. Hai ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987, tổng bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh

gặp gỡ các văn nghệ sĩ ( 4 Nguyễn Cảnh Chân ). Lần đầu tiên giới văn nghệ sĩ

được nghe những lời phát biểu đầy tính kích động tự do dân chủ ở một ông tổng

bí thư Đảng Cộng Sản. Nào là “cởi trói”, “hãy tự cứu lấy mình”, “không bẻ

cong ngòi bút”, “nhìn thẳng vào sự thật, nói thẳng sự thật”, “giờ không phải là

lúc bón phân cho lúa, phải nhổ cỏ cho lúa có sức mọc lên”, “hồi phụ trách bí

thư ở Sài Gòn, tôi đã làm chui nhiều việc đấy. Những anh em dưới quyền tôi sợ

quá mỗi khi có Trung ương về thăm. Tôi nói với họ: Các anh cứ làm, nếu phải đi

tù, tôi vào tù với các anh”, “hãy giải phóng cho con chim văn nghệ bay

cao”..vv…

Những lời lẽ và khẩu khí ấy khiến mọi người không còn nghi ngờ gì ở chủ

trương đổi mới thật sự của Đảng. Ông Nguyễn Văn Linh đích thị là Goócbachốp

của Việt Nam rồi – chúng tôi lúc đó đều đinh ninh như thế.

Buổi trưa, tổng bí thư ngồi cùng bàn ăn với anh em, mỗi người một bát

phở. Buổi tối lại cùng ngồi xem phim Tướng về hưu và Chuyện tử tế.

Hai ngày liền, ông Linh chỉ nói mấy câu mở đầu còn để cho anh chị em

tha hồ phát biểu tự do. Toàn phê phán lãnh đạo làm nhiều chuyện thậm vô lý.

Chẳng hạn ái Vân thuật chuyện anh chị em sân khấu khổ cực như thế nào. Cấp

phát thì cấp áo, không cấp quần, tất rách không có để thay, khi biểu diễn phải

đứng thế nào để che được phía chân đi tất rách. Trong khi người này biểu diễn

trên sân khấu thì người khác bán trà chén ở cửa rạp. Ca sĩ Xuân Thanh xưng hô

bác cháu với ông Linh, vừa nói vừa khóc: “Đi thi quốc tế, lãnh đạo không cho đi

sớm để chuẩn bị, không cho tiền để bồi dưỡng bà giáo Liên Xô tập luyện cho.

Nhưng khi được giải thì thu hết tiền.” Hoạ sĩ Nguyễn Thụ tố cáo: “Sang Liên Xô

triển lãm tranh, tranh bán được, tiền bị thu hết.” Trường hợp Nguyên Ngọc cũng

tương tự. Anh được nhận giải thưởng quốc tế á Phi (Đất nước đứng lên), tiền

thưởng cũng bị thu hết, không bớt cho lấy một xu để chiêu đãi những người đến

chúc mừng. Anh lại nói, hồi lãnh đạo Văn nghệ ở quân khu năm, cứ vài tháng

anh lại phải lên Cục chính trị lĩnh tư tưởng về cho anh em viết. Hết tư tưởng lại

đi lĩnh chuyến khác, y như lĩnh tiền hay lĩnh gạo vậy. Phạm Thị Thành thì nói về

chuyện duyệt kịch. Mỗi lần duyệt, chị không quan tâm gì đến hội đồng chuyên

môn, mà chỉ chăm chú theo dõi một ông to đầu nào đấy vui chân tạt vào xem.

Ông ta gật gù là yên trí lớn, ông ta lắc đầu là hỏng bét.Tào Mạt, sau Cách mạng

tháng Tám đã là huyện uỷ viên. Nhưng anh không đi tiếp con đường chính trị

mà chuyển sang làm văn nghệ. Anh nói, nếu cứ làm chính trị, anh là người tiến

bộ, nhưng chuyển sang làm Văn nghệ thì bị coi là phức tạp. Nguyễn Khắc Viện

thì nói về những cái án Văn nghệ gọi là “xét lại” “phản động” “gây rối”, “phạm

nhân” văn nghệ sĩ phải chịu hình phạt suốt đời. Hồ Ngọc thì lên án lãnh đạo biến

văn nghệ thành thứ văn tuyên truyền phục vụ chính trị… Vui nhất là cuộc xung

đột giữa Dương Thu Hương và Nguyễn Đình Thi. Hương bảo Thi là đồ hèn, trí

thức hèn hạ, đã tự nhận là hạt bụi. Thi thì cho Hương là lưu manh, nhà văn đã

đến lúc bị lưu manh hoá. Anh nói: “Đúng, tôi hay nói hạt bụi, giọt nắng, giọt

lửa. Nhưng có hiểu gì không – anh gào to – tôi nói nhà văn là hạt bụi có tư

tưởng.” Thực ra anh đã không nhắc lại đầy đủ lời anh phát biểu ở đại hội nhà

văn lần thứ ba: “hạt bụi lấp lánh tư tưởng của các anh” (vừa nói vừa chỉ tay lên

chủ tịch đoàn). ý kiến này chẳng qua cũng là học theo câu nói của một nhà văn

Pháp: “con người là cây sậy có tư tưởng.” Tôi cũng phát biểu rất thẳng thắn và

thoải mái, đại ý rằng, “tôi đã từng được gặp một ông to, không to bằng anh Linh

đâu (ý nói Tố Hữu), tôi thấy ông ấy cứ nói liên miên, chỉ lo ban phát chân lý chứ

không nghe quần chúng nói. Nay anh Linh nói ít, để anh em nói nhiều, nội điều

đó thôi cũng là rất mới rồi. Về lãnh đạo văn nghệ, tôi cho “lãnh đạo khinh bỉ sâu

sắc văn nghệ sĩ”, và dùng lối chăn vịt, “lãnh đạo văn nghệ theo lối chăn vịt đàn.”

“con người mà bị khinh bỉ mãi thì tự nhiên cũng thấy mình nhỏ bé lại, cũng hèn

kém. Biết tôn trọng con người thì con người tự thấy mình cao lớn hơn.” Tôi lại

ví văn nghệ như con chim. “Nhốt lại nó không hót hay hót không ra gì . Thả nó

ra nó hót hay hơn, nhưng lại sợ nó bay mất…”

Còn nhiều người phát biểu nữa như mấy anh đạo diễn điện ảnh, Nguyễn

Quang Sáng, Lưu Quang Vũ, Anh Đức…, nhưng tôi không còn nhớ. Hồi đó giá

có băng ghi âm ghi lại, giờ mở ra nghe thì thật thứ vị. Nguyễn Khải, Nguyễn

Minh Châu không thấy nói gì.

Về lý luận phê bình văn học, tôi là người duy nhất được dự cuộc gặp mặt

này.

Trần Độ gọi cuộc gặp gỡ này là “Hội nghị Diên Hồng của văn nghệ.”

Sau cuộc gặp Nguyễn Văn Linh, đời sống văn học nghệ thuật còn sôi nổi

và vui hơn nữa với những cuộc tranh luận rất dân chủ trên báo Văn nghệ của

Nguyên Ngọc và những cuộc hội thảo rất thẳng thắn chuẩn bị cho nghị quyết 05

của Bộ chính trị về văn nghệ tổ chức thường xuyên ở Ban văn hóa Văn nghệ của

anh Trần Độ. Tôi nhớ anh Nguyễn Minh Châu nói, nhà văn Việt Nam cả ba thế

hệ đều hèn. Trước Cách mạng là nhà văn nô lệ; từ 1945 đến 1975 là nhà văn –

lính, rất sợ cấp trên; sau 1975 là nhà văn đói nên cũng hèn. Anh lại nói Thánh

Gióng ngày xưa đánh xong giặc thì bay lên trời. Bây giờ các ông đánh xong giặc

lẽ ra cũng phải biến đi để người khác quản lý đất nước. Như anh Độ, anh cũng

nên thôi đi thì phải. Đấy, hồi ấy cứ ăn nói thoải mái như thế nên rất vui. Cánh

đổi mới thường tụ họp với nhau, vừa nhậu vừa trao đổi những suy nghĩ của

mình. Ngoài Bắc có Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Xuân Cang, Hoàng

Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Ngô Thảo, Văn Tâm, Dương Thu Hương,

Phạm Thị Hoài, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Trọng Oánh,

Nguyễn Quang Thân, Trần Quốc Vượng, Hồ Ngọc Đại..vv… Trong Nam thì có

Thu Bồn, Nguyễn Duy, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Quang Sáng, Trần Hữu Tá,

Lê Ngọc Trà, Phan Đắc Lập…vv… Hoàng Phủ Ngọc Tường mỗi lần vào Sài

Gòn cũng nhập vào nhóm này. Trần Mạnh Hảo một thời gian đóng vai đổi mới,

thỉnh thoảng cũng đưa vợ đến tụ tập ở chỗ Thu Bồn.

ở Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi cũng hăng hái đứng ra tổ chức

nhiều cuộc hội thảo rất vui về thời sự văn học, về đổi mới giảng dạy văn học, về

cải cách chương trình và sách giáo khoa, thu hút được khá nhiều cây bút cấp tiến

trong trường, ngoài trường như Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyên

Ngọc, Nguyễn Kiên, Nguyễn Trọng Oánh, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn,

Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dư Thị Hoàn…

Nguyễn Khải hồi này được ông Trần Độ triệu ra Hà Nội để chuẩn bị Đại

hội nhà văn lần thứ IV. Anh cùng Nguyên Ngọc hoạt động rất hăng hái, hô hào

văn nghệ sĩ nói thẳng nói thật.

Nhưng chẳng bao lâu, thế cờ bị lật ngược. Nguyên Ngọc mất chức Tổng

biên tập báo Văn nghệ. Nguyễn Khải thấy động, lặn biến vào Nam. Tố Hữu nắm

lại lá cờ Văn nghệ. Trần Độ mất chức (1989). Tố Hữu phê phán bản Đề cương

văn hoá văn nghệ của Nguyên Ngọc ở hội nghị nhà văn đảng viên. Nguyễn Đình

Thi trở lại cùng với cánh bảo thủ chuẩn bị Đại hội nhà văn lần thứ IV.

Cánh đổi mới bị đánh dồn dập: Lê Ngọc Trà, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên

Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy

Thiệp, Văn Tâm, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh bị tước giải thưởng. Hội

đồng chung khảo phải viết bài sám hối ( riêng Nguyên Ngọc và Lê Ngọc Trà

không chịu )

Bọn bảo thủ và cơ hội chủ nghĩa nổi lên, ngày càng làm mưa làm gió.

Trong Nam có Chế Lan Viên, Bảo Định Giang, Anh Đức, Vũ Hạnh, Diệp Minh

Tuyền, Mai Quốc Liên, Trần Thanh Đạm, Hoàng Nhân, Phạm Tường Hạnh,

Trần Trọng Đăng Đàn… Ngoài Bắc có Hà Xuân Trường, Nguyễn Đình Thi,

Huy Cận, Hoàng Trung Thông, Đông Hoài, Hồ Phương, Bùi Đình Thi, đám Văn

nghệ quân đội, Thành Duy, Lưu Trọng Lư, Nông Quốc Chấn, Hoàng Xuân Nhị,

Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Phương Lựu, Nguyễn Văn Lưu, Vũ Quần Phương,

Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hữu Thỉnh, Hồng Diệu… Cánh này rất có thế lực vì đằng

sau có Lê Đức Thọ, Nguyễn Đức Bình, Trần Trọng Tân… Nguyễn Văn Linh giờ

lại xoay ra chửi Dương Thu Hương và Nguyễn Khắc Viện.

Vào cuối những năm 80, hai lực lượng cấp tiến và bảo thủ, cơ hội, từ chỗ

tương đương về thế và lực, chuyển dần đến chỗ cánh bảo thủ hầu như làm chủ

trận địa. Lãnh đạo về sau dùng cả đến bọn lưu manh, đầu gấu trong văn nghệ

như Nguyễn Văn Lưu, Trần Mạnh Hảo…

Vì những lẽ đó, từ cuối những năm 80, đặc biệt là từ đầu những năm 90,

tình hình văn học xuống cấp ngày càng nghiêm trọng, nhất là về lý luận, phê

bình.

Kết thúc thập kỷ 80, có một sự kiện văn học rất vui không thể không nói

đến: Đại hội nhà văn lần thứ IV. Tôi nhớ, trên giường bệnh, Nguyễn Minh Châu

có nói thế này, giá Đại hội làm luôn từ 1986, 1987, thì bọn bảo thủ chỉ có quỳ

lậy. Chuẩn bị đại hội kéo dài quá, giờ thì bọn bảo thủ lại nổi lên rồi… Tuy vậy

Đại hội nhà văn lần thứ IV tổ chức vào năm 1989 cũng vẫn rất vui, rất sôi nổi.

Đây là đại hội đầu tiên và duy nhất tính cho đến ngày hôm nay, được triệu

tập toàn thể hội viên. Đại hội thể hiện một sự phân hoá rất quyết liệt. Từ chuyện

to đến chuyện nhỏ, rất nhỏ, thậm chí lặt vặt nữa, đều nổ ra xung đột, không thể

hoà giải với nhau được. Chuyện to như vụ bãi chức Tổng biên tập báo Văn nghệ

của Nguyên Ngọc, chuyện đánh giá tình hình văn học những năm 1987,1988 là

khởi sắc hay tiêu cực do buông lỏng lãnh đạo, vụ Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu

mắc nạn ở Đà lạt, vụ Nguyễn Văn Hạnh đọc thư Trần Độ, việc bầu Tổng thư ký

Hội nhà văn trực tiếp hay gián tiếp…, chuyện nhỏ thì như việc bầu chủ tịch, thư

ký đoàn và ban kiểm phiếu, chuyện kiểm phiếu, đếm phiếu sao cho tránh được

gian lận…

Sự phân hoá diễn ra cả trong giờ nghỉ. Ngồi uống cà phê hay bia bọt với

nhau ở căng tin cũng phe nào ngồi riêng với phe ấy. Ai ngồi nhầm chỗ lập tức

bỏ đi ngay.

Hội nghị kéo dài tới 11 ngày, thỉnh thoảng lại dừng lại để họp riêng đảng

viên. Nhưng họp đảng viên cũng thế thôi. Những đại biểu thuộc phái cơ hội chủ

nghĩa lên diễn đàn thường bị la hét hay vỗ tay đuổi xuống như Mai Ngữ, Anh

Đức, Hoàng Xuân Nhị... Trần Bạch Đằng trong chủ tịch đoàn bị Dương Thu

Hương đuổi vì không phải phiên mình điều khiển cũng khệnh khạng ra giải thích

theo phái bảo thủ – theo Nguyễn Trọng Tín, đây là trường hợp không thể có đối

với ông “vua không ngai” này ở Miền Nam.

Cuộc xung đột có khi còn diễn ra ở hậu trường Đại hội bằng những lời đe

doạ dùng đến cả bạo lực. ( Có đại biểu đề nghị chủ tịch đoàn bảo vệ mình vì có

kẻ đe doạ hành hung ). Một số đại biểu thuộc cánh bảo thủ quá hoảng hốt, buổi

tối chạy đến kể lể khóc lóc, cầu cứu Lê Đức Thọ (Bác Sáu à, bác Sáu ơi, Nhà ta

nó phá tan rồi còn đâu.” Nguyễn Duy).

Sự phân hoá hai phe nói trên trong Đại hội đã được Nguyễn Duy mô tả rất

vui trong một bài vè gọi là Đại hội nhìn từ gần ( nhại lại tên bài thơ Tổ quốc

nhìn từ xa của anh). Dưới đây, trích vài đoạn:

Thủa trời đất nổi cơn Đại hội,

Khách làng văn nhiều nỗi truân chuyên;

Xanh kia thăm thẳm từng trên,

Vì ai xuyên tạc cho nên nỗi này.

Trống Hà Thành lung lay bóng nguyệt,

Sương Ba Đình mù mịt thức mây;

Mấy lần nghị quyết trao tay,

Đêm đêm bàn bạc định ngày khai trương...

(…) Ngôn luận chiến ào ào sấm nổ

Tưởng cơ đồ sụp đổ đến nơi

Bác Sáu à, bác Sáu ơi

Nhà ta nó phá tan rồi còn đâu

Trang giấy trắng một màu quan ải,

Oan khiên này biết giãi cùng ai;

Giận hờn mấy kẻ đơn sai

Văn đàn bỗng hoá võ đài phải chăng?

(…) Nguyễn Khải lặn mất tăm đâu đó

Chính Hữu chờ sóng gió qua mau

Bùi Bình Thi rút ván cầu

Phạm Tiến Duật ẩn mình đâu mất rồi

Chàng Hữu Thỉnh dở cười dở khóc

Ngọc Tú nàng rứt tóc vò tai

Đỗ Chu tế ngựa vòng ngoài

Gặp ai cũng hỏi rằng ai nhớ mình

(…) Nguyễn Văn Hạnh một mình một ngựa

Phá vòng vây ở giữa sa trường

Không lùi bước chẳng tạt ngang

Đã vì đồng đội gian nan xá gì

Biết cứu nạn lắm khi mắc nạn

Tâm huyết nhiều mất mạng như chơi

(...) Đại hội bỗng chia làm hai phái,

Phái vui tươi và phái hầm hầm;

Chúng ta cùng bạn làng văn,

Cớ sao mặt cứ gằm gằm khó coi...

(...) Mai ngữ sử dao găm súng lục,

Mắt Liên Nam đục đục điên điên,

Thu Bồn nộ khí xung thiên,

Bỗng đâu một trận Mai Liên ào ào.

Thu Hương nổ pháo tầm cao,

Tường Hạnh hụt một đường đao bất ngờ,

Trần Độ vắng mặt bao giờ,

Phất phơ để lại một tờ tâm thư.

Nguyễn Văn Hạnh dịch ngôn từ,

Đoàn chủ tịch cũng ậm ừ cho qua...

(...) Anh Đức mặt vênh vênh véo véo

Mắt đăm đăm liếc xéo hội trường...

(...) Thuỳ Mai nước mắt lưng tròng

Cõng Bùi Minh Quốc khỏi vòng hiểm nguy...

(...) Buổi bế mạc chấp hành ra mắt,

Chín người đà đứng sắp hàng ra,

Tổng thư ký của hội ta:

Tướng công họ Vũ tên là văn Ngan...


Đại hội nhà văn lần thứ IV có thể coi là ngày hội lớn, cuộc vui lớn cuối

cùng của phe cấp tiến. Đại hội càng về cuối chầu, càng nhạt. Với sự sắp đặt,

điều khiển hội nghị một cách khôn khéo mềm dẻo, vừa đánh vào chỗ yếu của

phe cấp tiến ( không có tổ chức chặt chẽ, thiếu cương lĩnh đàng hoàng, không có

mưu mẹo gì cả, mải vui chơi, chủ quan mất cảnh giác...), vừa dựa vào quyền thế

của lãnh đạo chóp bu, kết thúc Đại hội, phe bảo thủ về cơ bản đã giành được

thắng lợi.

Nguyễn Khải cho là do sự chèo chống rất khôn khéo của Nguyễn Đình

Thi. Anh nói với tôi khi kết thúc Đại hội: “ở nước này chỉ có hai người biết làm

chính trị là Lê Đức Thọ và Nguyễn Đình Thi.

*

Hãy trở lại với những trận đánh đấm, qui chụp ngày càng bừa bãi và trắng

trợn của phe cơ hội bảo thủ đối với phái cấp tiến, từ cuối những năm 80 của thế

kỷ trước. ở đây – vì là hồi ký của tôi – nên tôi chủ yếu chỉ nói về những trường

hợp liên quan đến tôi mà thôi.

Tôi là một trong số những người bị đánh đấm qui chụp nhiều nhất. Mà

không phải chỉ bị đánh từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) với tội danh “đổi

mới cực đoan”, “phủ nhận văn học cách mạng, phủ nhận quá khứ”, “đối lập tư

tưởng chính trị với tư tưởng nghệ thuật”, “khinh bạc hơn cả Nguyễn Tuân”,

“hạ thấp thơ Hồ Chí Minh và loại Tuyên ngôn độc lập ra khỏi sách giáo

khoa”...

Bài viết đầu tiên của tôi bị phê phán là bài Con đường Nguyễn Tuân đi

đến bút ký chống Mỹ ( Tạp chí Văn học số 8 – 1968 )

Như đã nói, bài này ông Hoài Thanh rất thích. Nhưng ông đã bị Trường

Chinh triệu lên để phê bình vì bài viết quá đề cao Nguyễn Tuân. Là một nhà

lãnh đạo rất cẩn trọng, Trường Chinh dặn Hoài Thanh không nói lại với tôi vì sợ

“anh ấy hoang mang”.

Nhưng Hoài Thanh vẫn nói lại với tôi. Hôm ấy gặp ông ở một cuộc họp ở

Viện khoa học giáo dục, sau khi thuật lại ý kiến Trường Chinh, ông nói: “Theo

tôi một bài phê bình không nhất thiết phải nói toàn diện. Nhưng anh đã gặp rủi:

bài của anh ra đời cùng một lúc với bài Tình rừng của Nguyễn Tuân đăng trên

Văn nghệ.

Bài Nguyễn Tuân của tôi liên quan đến bài Vũ Trọng Phụng ( “Mâu thuẫn

cơ bản trong thế giới quan và trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng”) viết cùng

năm ấy (1968).

Tôi đưa bài này cho ông Hoài Thanh, lúc đó ông sống với bà Bền ở Trần

Quốc Toản. Hoài Thanh đồng ý đăng. Nhưng liền sau đó ông bị điều sang phụ

trách báo Văn nghệ. Vũ Đức Phúc thay ông phụ trách thư ký toà soạn Tạp chí

văn học. Anh Phúc sai Phong Lê gọi tôi đến gặp anh ở Viện Văn học. Anh nói:

“Bài Nguyễn Tuân của anh có thể làm mất huân chương của tạp chí chúng tôi

đấy”. Anh từ chối không đăng tiếp bài Vũ Trọng Phụng nữa. Tôi đã tranh luận

với anh một chập. Tôi nhớ anh Phúc nói rất quyết liệt, xùi cả bọt mép. Và cứ

chuyện nọ sọ chuyện kia. Nghĩa là không thể tranh luận với anh được. Chẳng

hạn tôi nói, anh Như Phong cho biết Vũ Trọng Phụng rất thích thơ Tố Hữu (

đăng báo công khai thời Mặt trận dân chủ Đông Dương). Vũ Đức Phúc nói:

“Như Phong lúc đó chưa phải đảng viên”. Đúng là lý lẽ chẳng đâu vào đâu cả.

Trong khi tôi và anh Phúc tranh luận thì Phong Lê quanh quẩn rót nước

mời khách. Tôi hỏi: “Anh Phong Lê, ý kiến anh thế nào?” Phong Lê vội lảng:

“Chuyện này tôi không rõ, tuỳ các anh”.

Nhân đây, xin nói một chút về Vũ Đức Phúc.

Vũ Đức Phúc có lẽ là một sản phẩm đặc biệt của một thời - cái thời mà

quan điểm giai cấp được vận dụng một cách rất thô thiển. Tôi vẫn tin Vũ Đức

Phúc là người chân thật và thẳng thắn, nhưng chân thật, thẳng thắn một cách rất

máy móc, cứng nhắc và thô bạo. Chẳng thế mà Xuân Diệu gọi anh là cái “xe

tăng mù”. Có lần nhà thơ nói với tôi: “Vũ Đức Phúc cứ ném ra những ý kiến rất

thô như quăng ra những thanh củi vậy.”

Hôm ấy tranh luận với Vũ Đức Phúc tôi mới thấy nhận xét của Xuân Diệu

không ngoa ngoắt chút nào. Đại khái anh nói về Thiếu quê hương của Nguyễn

Tuân thế này: “Sao lại kêu “thiếu quê hương”! Lại còn đòi đi Mỹ theo đám múa

Xuân Phả và định cho em đi lính thợ sang Tây. Yêu nước gì Nguyễn Tuân!

Nguyễn Tuân là absence d‘humanisme. Ghét gia đình. Đối với những đàn bà

hiền dịu lại ghét. Không thương vợ con. Chơi bời như thế nhất định làm khổ vợ

con. Nói Nguyễn Tuân kênh kiệu chưa đủ. Phải nói là không nhân đạo, không

yêu nước gì cả. Còn vì sao ông ấy đi theo Cách mạng thì là vấn đề phải suy xét.

Vang bóng một thời tả Huế, mỹ hoá bọn bịp bợm trên Sông Hương. Bọn ấy là lũ

bóc lột, lừa đảo, truỵ lạc, không đẹp, không tao nhã như Nguyễn Tuân viết đâu.”

Còn đây là ý kiến của anh về Vũ Trọng Phụng: “Hà Nội báo là tờ báo

chống Hải Triều. Vậy mà Vũ Trọng Phụng đã viết ở đó. Vũ Trọng Phụng là loại

dân nghèo lưu manh hoá vùng ngoại ô (làng Mọc). Vũ Trọng Phụng ca tụng

Quỳnh, Vĩnh như là trí thức hạng nhất.”

Anh cho tôi đánh giá quá cao Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê.

Anh cũng không tán thành ý kiến của tôi nêu ra mâu thuẫn cơ bản trong

thế giới quan Vũ Trọng Phụng gồm hai nhân tố: tư tưởng bi quan định mệnh chủ

nghĩa và tâm trạng phẫn uất đối với xã hội. Anh nói: “Hai mặt mâu thuẫn đều

tiêu cực cả thì không biện chứng. Nhưng triết lý không quan trọng bằng tư tưởng

chính trị. Vũ Trọng Phụng là chống cộng, là phản động. Còn Chủ nghĩa duy vật

của Vũ là duy vật hưởng lạc, là Freud”.

Đấy Vũ Đức Phúc là như thế đấy!

Tất nhiên anh từ chối không đăng bài Vũ Trọng Phụng của tôi, tuy ông

Hoài Thanh đã duyệt và cho in.

Nhưng đến năm 1971, nhân gặp nhau ở trụ sở báo Văn nghệ, nghe

Nguyễn Đình Thi nói về Vỡ bờ, không hiểu sao anh lại bảo tôi đưa bài Vũ Trọng

Phụng cho anh.

83

Nhưng anh nói: “Tôi đăng bài này với điều kiện, sau đó có bài uốn nắn

lại, anh có đồng ý không?” Tôi đồng ý. Năm 1971, bài tôi đăng số trước thì số

sau có bài uốn nắn lại của Nguyễn Đức Đàn.

Năm 1980, tôi được giao làm Tuyền tập Nguyễn Tuân. Hồi ấy có quan

niệm làm tuyển tập là một cái gì ghê gớm lắm: Chỉ được phép làm tuyển tập Hồ

Chí Minh hay các lãnh tụ cao cấp của Đảng, chí ít phải là Tố Hữu. Còn các nhà

văn dù lớn đến đâu cũng chỉ được làm sau khi chết. Mà phải là nhà văn không

có “vấn đề” gì, như Ngô Tất Tố, Nam Cao... Nhưng ông Lý Hải Châu giám đốc

nhà xuất bản Văn học quyết định làm tuyển tập các nhà văn còn sống, thuộc tầm

cỡ lớn, trước hết là Nguyễn Tuân. Lý Hải Châu từng là một nhà tình báo cách

mạng hoạt động ở Sài Gòn, đã từng bị bắt và kết án tử hình, nhưng may trốn

thoát được ra Bắc nhờ hiệp định Genève. Ông là một trí thức, rất đạo đức và có

bản lĩnh. Ông cứ quyết định làm Tuyển tập Nguyễn Tuân đầu tiên, mặc cho Hoài

Thanh và Hoàng Trung Thông can ngăn.

Tôi thì mừng quá, vì nghiên cứu Nguyễn Tuân mãi, giờ mới được dùng

đến. Ngoài việc tuyển lựa tác phẩm Nguyễn Tuân, tôi lo viết bài giới thiệu sao

cho thật tốt. Nguyễn Tuân chọn tôi chứ không chọn Vũ ngọc Phan, vậy tôi phải

viết sao cho xứng đáng với sự tín nhiệm của ông. Mà người đọc bài Tựa trước

hết là chính Nguyễn Tuân. Viết cho Nguyễn Tuân đọc đâu có dễ. Tôi dự kiến

viết bài gồm ba phần:

I. Quan điểm sáng tác

II Quá trình sáng tác

III Phong cách nghệ thuật

Viết phần đầu cứ tắc lại mãi. Tôi đến Xuân Diệu than phiền với anh. Xuân

Diệu nói: “Viết tắc giống như bị táo bón. Nhưng táo bón còn hơn tháo dạ. Viết

văn cũng vậy”. Và anh truyền kinh nghiệm cho tôi: “ Chỗ nào tắc, cứ bỏ đấy viết

sang phần khác rồi quay lại sau, sẽ viết được. Vẽ cũng thế. Vẽ người đâu cứ phải

vẽ từ đầu xuống. Vẽ từ đít lên cũng được chứ. Đánh đồn cũng vậy, có thể đánh

tung thâm thẳng vào hầm Đờ Cát chứ không cứ phải đánh lần lượt từ ngoài

vào”.

Tôi nghe Xuân Diệu, viết nhảy cóc sang phần hai, phần ba, sau đó mới

quay lại phần một và thấy quả là trôi chảy thông thuận.

Tuyển tập làm xong, nhiều người khen. Lý Hải Châu, Nguyễn Tuân, Lê

Khánh ( biên tập viên ) đều vừa lòng. Anh Nguyễn Văn Bổng hồi đó làm tổng

biên tập báo Văn nghệ, tổ chức một cuộc hội thảo về Tuyển tập Nguyễn Tuân ở

trụ sở báo ( 17 Trần Quốc Toản ). Hôm ấy có mặt Nguyễn Tuân, Lý Hải Châu,

Xuân Diệu, Tế Hanh, Phạm Hổ, Từ Sơn, Ngọc Trai, Lê Khánh và tôi.

Tuyển tập in ra được Trương Chính, Quang Huy viết bài khen, nhưng bị

Phan Cự Đệ phê phán, cho là quá đề cao Nguyễn Tuân trước Cách mạng mà

chưa chú ý đúng mức đến tác phẩm của nhà văn sau Cách mạng.

Anh Lý Hải Châu rất tín nhiệm tôi. Tập tiểu luận phê bình văn học đầu

tiên của tôi do nhà xuất bản Tác phẩm mới in năm 1979 ( Nhà văn, tư tưởng và

phong cách ), anh cho tái bản ngay năm 1983, bổ sung vào đấy bài giới thiệu

Tuyển tập Nguyễn Tuân.

Tập sách này được nhận giải thưởng về lý luận phê bình của hội nhà văn

năm 1985 ( giải thưởng văn học 4 năm: 1941 – 1944 ). Hôm họp hội đồng lý

luận phê bình để xét giải thưởng, tôi vẫn bị anh Phan Cự Đệ phê phán và bác bỏ.

Chị Ngọc Trai, thư ký hội đồng thuật lại với tôi như thế. Hội đồng có 6 người:

Hà Xuân Trường, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đức Nam, Lê Đình Kỵ,

Hoàng Trung Thông. Lê Đình Kỵ ở trong Nam không ra. Hoàng Trung Thông

thì ốm đang nằm bệnh viện. Phan Cự Đệ tự đi phát và thu phiếu điều tra dư luận.

Kết quả Đệ, Đức nhiều phiếu tán thành hơn cả, thứ hai là Hà Xuân Trường.

Ngọc Trai cũng phát phiếu điều tra về mấy cuốn sách của Đức, Đệ, Hà Xuân

Trường, nhưng chị cho biết, họ cho rằng chỉ hỏi về mấy cuốn sách ấy thì họ

không trả lời.

Ngọc Trai đề nghị đưa vào giải thưởng mấy cuốn của Nguyễn Đăng

Mạnh, Nhị Ca và Thành Duy. Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức bác đi. Đệ rất quyết

liệt, cho sách của tôi là sách tái bản không hợp lệ. Hà Xuân Trương chủ tịch hội

đồng tán thành đề nghị của Ngọc Trai thêm hai cuốn của Nguyễn Đăng Mạnh và

Nhị Ca, còn cuốn của mình thì xin rút. Mọi người nhất trí, bỏ phiếu 100%. Phan

Cự Đệ lại hội ý với Hà Minh Đức đề nghị sách của Nguyễn Đăng Mạnh xếp

xuống loại B vì lý do, nếu anh Hoàng Trung Thông có mặt, chắc không tán

thành, vì anh từng nói với Đệ bài Nguyễn Tuân có vấn đề. Chính Hữu phó tổng

thư ký Hội nhà văn có mặt hôm ấy gạt đi. Ngọc Trai mang phiếu đến bệnh viện

lấy ý kiến của Hoàng Trung Thông. Thông cũng tán thành và nói không hề có ý

kiến gì về bài Nguyễn Tuân trong Tuyển tập cả. Chỉ nói bài viết từ xưa của anh

Mạnh từng bị Vũ Đức Phúc phê phán... Nhưng chuyện qua lâu rồi...

Thế mà sau hội nghị, Phan Cự Đệ lại là người viết thư riêng cho tôi báo

tin mừng tôi đã được giải thưởng.

Vào năm 1983, tôi còn bị đánh một trận nữa. người ta đánh một bài viết

của tôi chưa hề được công bố.

Hồi ấy cuộc xung đột ta với Tầu ở biên giới còn nóng hổi. Anh Nguyên

Ngọc vừa ở chiến trường ra, được đề bạt làm bí thư đảng đoàn Hội nhà văn, chủ

trương làm một cuộc cách mạng trong đời sống văn học, đặc biệt là chống

Maoít. Hôm ấy nhân có một cuộc họp của giới lý luận phê bình văn học ở trụ sở

báo Văn nghệ, Nguyên Ngọc và Nguyễn Khải đến hô hào chúng tôi dũng cảm

nói sự thật, đảm bảo không sợ bị “tai nạn lao động”.

Một số người phát biểu hưởng ứng, trong đó có Hoàng Ngọc Hiến và tôi.

Thấy ý kiến nghe được, anh Từ Sơn ở báo Văn nghệ đề nghị viết thành bài để

đăng báo.

Bài của Hiến chính là bài “hiện thực phải đạo” nổi tiếng, được coi như mở

đầu cuộc đổi mới văn học. Bài đăng được ít lâu thì bị phê phán quyết liệt cùng

với bản Đề cương của Nguyên Ngọc. Vì thế bài của tôi đã lên khuôn vội rút về.

Nhưng nhiều người cứ đồn bài này còn táo tợn hơn cả bài của Hiến, và lời đồn

đại này cứ lan rộng mãi. Hoàng Trung Thông lúc bấy giờ là Viện trưởng viện

văn học phát biểu trong một cuộc hội nghị ở Viện, nói tôi đã đối lập tư tưởng

85

chính trị với tư tưởng Văn nghệ.

Chuyện này tôi chẳng quan tâm làm gì nếu không liên quan đến kỳ phong

học hàm phó giáo sư của tôi lúc bấy giờ. Hồi ấy, người đăng ký phong học hàm,

trước khi được đưa ra bầu bán về chuyên môn, phải thông qua đảng uỷ của cơ

quan công tác về tư tưởng. Trường hợp của tôi trở thành gay go vì tiếng đồn về

bài viết của tôi đã vang đến đảng uỷ trường đại học Sư phạm và đảng bộ khoa

văn. Hoàng Dung, tổ trưởng chuyên môn và bí thư liên chi đảng, tỏ ra có trách

nhiệm, cho người đi dò hỏi một số nhân vật công tác ở các cơ quan văn hoá của

Đảng như ban văn hoá văn nghệ Trung ương, Viện văn học, báo Văn nghệ...

Anh còn cho người đến trụ sở Văn nghệ đề nghị cho đọc biên bản cuộc họp về lý

luận phê bình để xem tôi đã phát biểu như thế nào...

Thấy tình hình có vẻ nguy, tôi bèn lấy bản thảo bài viết của mình đưa cho

anh Phạm Quý Tư đọc (lúc này anh Phạm Quý Tư là hàng xóm của tôi, cùng ở

tầng năm, nhà B2, khu tập thể cán bộ giảng dạy Đại học Sư phạm Hà Nội). Anh

Tư là hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chủ tịch Hội đồng khoa học

trường, đồng thời là đảng uỷ viên. Anh Tư cẩn thận, đưa cho chị Trần Thị Thục

Nga, bí thư đảng uỷ trường đọc nữa. Rất may là các vị kết luận: không có vấn đề

quan điểm gì cả. Anh Tư còn khen bài viết hay. Anh hỏi tôi có yêu cầu gì không.

Tôi nói, nếu chuyện đồn đại diễn ra ở đâu đó thì cứ mặc kệ không quan tâm làm

gì. Nhưng nếu vấn đề được đưa ra bàn ở đảng uỷ, thì anh là người đã đọc, anh

cứ phát biểu như anh vừa nói với tôi.

Chuyện phong của tôi vì thế trở thành xuôn xẻ.

Sau này biết chuyện, nhiều người đề nghị cho đọc bài ấy, nhưng tôi từ

chối. Việc đọc văn, hiểu văn lắm chuyện lắm. Nếu có động cơ xấu thì càng rách

việc.

Năm 1984, tôi được phong phó giáo sư.


*

Sau Đại hội Đảng lần thứ Sáu (1986), đất nước bắt đầu đổi mới, người

đánh tôi đầu tiên vẫn là Phan Cự Đệ. Nguyên là tôi có viết một bài nhan đề là

“Phê bình văn học trong tình hình mới” đăng trên Văn nghệ năm 1987. Phan Cự

Đệ liền viết trên Văn nghệ quân đội một bài phê phán tôi “phủ nhận văn học

Cách mạng”, “phủ nhận quá khứ”. Giọng điệu có vẻ ôn tồn nhưng qui kết rất

nặng.Tôi bực lắm, vì từ lâu vốn đã không ưa Phan Cự Đệ từ con người đến cách

viết.

Hồi ấy, như đã nói, Nguyễn Khải được anh Trần Độ gọi ra để chuẩn bị đại

hội nhà văn lần thứ IV. Sau bài anh Đệ phê phán tôi ít lâu, Nguyễn Khải có tổ

chức một cuộc họp lý luận phê bình văn học ở 65 Nguyễn Du. Tôi nhớ hôm ấy

có mặt rất đông: Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đức Nam, Hoàng Trung

Thông, Nguyễn Văn Hạnh, Thiếu Mai, Phong Lê, Ngọc Trai, Lê Thị Đức

Hạnh..vv... Nguyễn Khải điều khiển cuộc họp. Tôi ngồi gần Đệ. Tôi nói với

Nguyễn Khải: “Anh Khải này, anh là người lắm chữ, tôi thì ít chữ, tôi không biết

gọi anh Đệ thế nào. xin anh tìm cho tôi một chữ nào đấy, còn tôi thì chỉ biết gọi

anh Đệ là thằng đểu”.

Không khí cuộc họp trở nên căng thẳng. Hoàng Trung Thông và Nguyễn

Văn Hạnh ngồi cùng một cái ghế tựa dài với tôi. Nguyễn Văn Hạnh ngồi giữa.

Hoàng Trung Thông chồm người qua Nguyễn Văn Hạnh nói với tôi: “Anh Mạnh

này, tôi không bao giờ đọc anh Đệ đâu nhé.” Tôi nghĩ bụng, chính anh đã đề tựa

cho cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại của Đệ, sao lại nói là không đọc?

Đệ ngồi im không nói gì. chờ cho vài người phát biểu xong, anh mới nói,

đại ý khoe có một bài viết gì đó đã được dịch đăng trên một tạp chí của Liên Xô

( lúc này Liên Xô chưa sụp đổ )

Tôi lại bồi thêm một đòn nữa: “Không biết Liên Xô đánh giá anh thế nào,

chứ tôi đánh giá anh rất kém, viết chẳng hay ho gì đâu”.

Lúc ấy chắc bộ dạng tôi dữ dội lắm. Cuộc họp kết thúc, Hà Minh Đức nói

với tôi: “Ông Đệ ông ấy thần kinh vững lắm. Chứ tôi bị anh nói thế, tôi không

chịu được. Tôi đau tim mà!”

Tôi để ý, khi diễn ra cuộc xung đột giữa tôi với Phan Cự Đệ, không có ai

bênh Đệ cả, tuy lúc ấy có đủ mặt giới lý luận phê bình và một số anh sáng tác,

cấp tiến có, bảo thủ có. Hiện tượng này chứng tỏ hồi ấy (1987), cánh đổi mới

đang ở thế áp đảo.

Tôi thấy Hà Minh Đức nói rất đúng, Đệ quả là một tay thần kinh vững.

Hôm ấy, cuộc họp tan, anh vẫn bắt tay tôi, coi như không có chuyện gì xảy ra.

Nhưng đừng tưởng anh đã chịu thua tôi đâu. Đầu năm 1989, anh lại đăng

trên Nhân dân một bài tiếp tục phê phán ý kiến của tôi trong bài viết năm 1987,

đồng thời còn móc lại những ý kiến của tôi phát biểu trước Tổng bí thư Nguyễn

Văn Linh để lên án. Và đến năm 2000 thì nổ ra vụ luận án tiến sĩ của Trần Hạnh

Mai. Anh đã tấn công tôi quyết liệt. Số là luận án của Mai, cán bộ giảng dạy

khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội, do tôi hướng dẫn, sau khi bảo vệ ở Hội đồng

cơ sở (1998) được Bộ đưa cho anh Đệ phản biện kín. Luận án viết về “Sự

nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh”. Tôi và Mai chủ trương phản bác ý

kiến cho rằng, trước Cách mạng Tháng Tám, Hoài Thanh hoàn toàn viết theo

quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật. Đệ cho như thế là sai lầm căn bản. Anh viết

hẳn trong bản nhận xét phản biện “Trần Hạnh Mai đã theo quan điểm đổi mới

cực đoan của Nguyên Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh.” Và anh gọi Mai đến đề nghị

chữa luận án theo ý anh, lại nói để yên lòng cô nghiên cứu sinh: người hướng

dẫn không có trong hội đồng bảo vệ nên không sợ.

Trần Hạnh Mai không nghe. Cô nghĩ bụng, không bảo vệ thì thôi chứ

không thể phản lại thầy và chân lý. Thế là Đệ báo cáo lên ban tư tưởng văn hóa

trung ương, coi như một vấn đề thuộc quan điểm chính trị cần có ý kiến của cơ

quan Đảng. Rất may là về sau, Ban Tư tưởng văn hóa lại gửi luận án của Mai

cho Viện Văn học hỏi ý kiến. Viện ủng hộ Mai và cuộc bảo vệ cấp Nhà nước

được tiến hành suôn sẻ (năm 2000). Luận án được đánh giá xuất sắc.

Buổi bảo vệ kết thúc, tôi phát biểu với tư cách người hướng dẫn. Tôi nói:

“Thông thường khi bảo vệ thành công luận án, nghiên cứu sinh cám ơn người

hướng dẫn. Nhưng hôm nay tôi làm ngược lại, tôi xin cám ơn Hạnh Mai đã giữ

vững lập trường của mình. Tôi cũng xin cám ơn giáo sư Phan Cự Đệ. Nhờ có

anh mà tôi mới biết được, một cô gái có vẻ yếu đuối như Trần Hạnh Mai mà té

ra lại có bản lĩnh vững vàng như thế.”

Cuộc bảo vệ tuy thế, do Phan Cự Đệ, đã bị trì hoãn lại đến hơn tám tháng.

Sau cuộc bảo vệ này, một lần nữa tôi lại thấy Đệ đúng là thần kinh rất

vững. Anh gặp tôi luôn, thường do cùng ở chung trong một hội đồng bảo vệ luận

án tiến sĩ nào đấy. Anh vẫn bắt tay tôi và trò chuyện rất thân mật.

Năm 1995 tôi còn bị một đòn phê phán nữa khá quyết liệt. Đòn của Trần

Thanh Đạm. Điều này tôi đã kể ở trên rồi, ở đây chỉ nói thêm về nội dung của

vấn đề mà thôi.

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn của Tạp chí Văn học do Phạm Xuân

Nguyên thực hiện, tôi cho rằng từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, văn học

Việt Nam có ba cuộc nhận đường. Lần thứ nhất ngay sau Cách mạng và trong

những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Lần thứ hai, sau Điện Biên

Phủ, hoà bình được lập lại trên miền Bắc. Lần thứ ba, sau 1975. hai lần trước, tôi

cho là không khó khăn lắm, vì chỉ là nhận thức nhiệm vụ chính trị của Văn nghệ

sĩ, mà chính trị lúc bấy giờ thực chất chỉ là yêu nước, chống xâm lược rất dễ

thông suốt. Văn nghệ sĩ vốn rất yêu nước, nên dễ dàng giác ngộ về điều này, họ

sẵn sàng hy sinh tất cả, từ tài sản, tính mạng đến cả bản thân nghệ thuật cho

cuộc kháng chiến.

Nhưng cuộc nhận đường thứ ba này thì rất phức tạp vì đây mới là cuộc

nhận đường của bản thân văn học nghệ thuật với hàng loạt câu hỏi: Văn nghệ là

gì? Chức năng của văn nghệ? Tiêu chí giá trị tác phẩm văn nghệ? Văn nghệ và

chính trị? Văn nghệ và hiện thực?..vv... Những câu hỏi không dễ trả lời.

Viết bài trên Sài Gòn giải phóng, Trần Thanh Đạm cho tôi là không hiểu

gì cả, lại dám khinh bạc Cách mạng. Con đường cứu nước đầy gian khổ, bao

nhiêu văn nghệ sĩ đã hy sinh, một số đã phải bỏ cuộc, vậy mà lại nói là đơn giản,

dễ dàng.

Không biết vô tình hay cố ý, anh đã đánh tráo khái niệm. Tôi nói nhận

đường, tức nhận ra con đường cứu quốc không khó, chứ có nói con đường ấy là

dễ dàng đâu, là không phải hy sinh xương máu, không phải trường kỳ gian khổ

đâu. Giặc đến nhà, phải đánh đuổi nó đi, anh cho là điều khó hiểu lắm hay sao?

Nhưng thôi, bắt bẻ anh làm gì. Bài viết của anh đầy mâu thuẫn logích.

Nhưng điều khó hiểu hơn nhiều là bản chất con người anh là thế nào nhỉ?

Nguyễn Khải có lần hỏi tôi như thế, tôi cũng chịu.

Từ cuối những năm 80 cho đến nay, tôi còn bị nhiều người phê phán:

Phan Trọng Luận, Nguyễn Văn Lưu, Đỗ Minh Tuấn, Lê Tuấn Anh, Hồ Phương,

Trần Mạnh Hảo. Tôi không kể hết ra đây làm gì, chỉ xin nêu một số trường hợp

có ấn tượng khó quên hơn cả.

Trước hết là Phan Trọng Luận với vụ Tuyên ngôn độc lập.

Năm 1989, tôi được giao chủ biên biên soạn lại chương trình và Sách giáo

khoa PTTH môn văn ( gọi là chương trình và SGK cải cách giáo dục )

Phương châm cải cách của tôi là: Chương trình văn phải đích thực là

chương trình văn. Lúc ấy tôi quan niệm Văn theo nghĩa chặt chẽ và hiện đại:

Văn là văn hình tượng, văn nghệ thuật, văn mỹ thuật ( belles lettres ), tác động

đến người đọc trước hết về tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ thông qua hình tượng

nghệ thuật. Vì thế khi xây dựng chương trình về văn thơ Hồ Chí Minh, tôi chỉ

chọn vào phần giảng văn những tác phẩm văn thơ hình tượng hay văn thơ nghệ

thuật mà thôi. ( Vi hành, Mộ, Tảo giải, Vãn cảnh, Tân xuất ngục học đăng sơn,

Nguyên Tiêu, Báo Tiệp, Cảnh khuya...). Tuyên ngôn độc lập không thuộc loại

văn nghệ thuật, tôi chuyển sang chương trình tập làm văn, về thể nghị luận chính

trị ( chứ không hề bỏ ra ngoài chương trình ).

Vì chương trình cũ có giảng văn Tuyên ngôn độc lập, nên thấy sách giáo

khoa mới không có, nhiều người tưởng tôi loại ra khỏi chương trình và có phản

ứng khá ồn ào.

Thực ra chương trình cải cách giáo dục đã loại bỏ nhiều tác phẩm trong

chương trình cũ như Sống như Anh của Trần Đình Vân, Buổi Sáng của Nguyễn

Thị Ngọc Tú và đưa vào nhiều tác phẩm từng bị phê phán trước kia, như Tờ Hoa

của Nguyễn Tuân, Tây Tiến của Quang Dũng và nhiều bài Thơ mới lãng mạn.

Nhưng Tuyên ngôn độc lập là của Hồ Chí Minh. Đụng đến Hồ Chí Minh

là chạm đến chỗ nhạy cảm nhất của người Việt Nam, nên lập tức ầm ĩ như đổ

trời. Mai Thúc Lân đưa vào Quốc Hội. Hà Xuân Trường suy diễn: họ đưa ra

ngoài chương trình học Tuyên ngôn độc lập chắc sẽ tiến tới loại bỏ cả Hịch

tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn và Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Phạm

Tường Hạnh thì la lối ( Nhân dân 10 – 1995 ) “bỏ không học Tuyên ngôn độc

lập thì còn nói gì giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho

thế hệ trẻ”. Không khí “báo động” này lại được bọn cơ hội chủ nghĩa trong giới

làm báo kích động thêm lên làm cho càng trở nên căng thẳng.

Chuyện đến tai ông cố vấn Phạm Văn Đồng. Ông tuy đã già lăm rồi, mắt

gần như loà, vậy mà vẫn muốn có ý kiến về mọi việc quốc gia đại sự và vẫn

hăng hái biên soạn sách này sách khác. Ông cho gọi tôi lên để góp ý kiến với

ông về vấn đề văn hoá mà ông đang chuẩn bị viết, nhân tiện hỏi tôi về chuyện

Tuyên ngôn độc lập. Tôi nói như đã viết ở trên: không loại ra khỏi chương trình,

chỉ xếp vào đúng chỗ của nó thuộc thể văn chính luận. ở trường học phải thế

mới khoa học. Ông không có ý kiến gì, chỉ vung tay nói lớn: “Bài văn hay lắm!

hay lắm!”

Còn anh Việt Phương có mặt hôm ấy thì nói: “ở nhà trường phải khoa

học. Anh Mạnh anh ấy nói đúng đấy.”

Nhưng Phan Trọng Luận thì viết bài phê phán gay gắt, quy kết tư tưởng

nặng nề. Đánh hơi được khuynh hướng của lãnh đạo, Luận lập tức hưởng ứng

ngay.

Công chúng nhiều người không hiểu gì cả nên có phản ứng. Phan Trọng

Luận là thành viên của Hội đồng ngữ văn, không phát biểu trong hội đồng mà lại

viết báo phê phán. Mà anh thừa biết đâu phải loại ra khỏi chương trình. Đây chỉ

là sự chuyển chỗ của tác phẩm từ môn giảng văn nghệ thuật đến môn tập làm

văn về thể nghị luận, chính luận mà thôi. Tôi cho như vậy là thiếu trung thực.

Trong một cuộc họp của Hội đồng ngữ văn, tôi đã nói thẳng như thế với

Phan Trọng Luận. Luận nổi nóng cãi lại. Anh Hoàng Tuệ hồi đó là chủ tịch Hội

đồng can không được, đành tuyên bố giải tán cuộc họp.

Thực ra Phan Trọng Luận vốn từ lâu đã không ưa tôi.

Năm 1988 tôi có viết một bài trên báo Văn nghệ “Vài suy nghĩ về đổi mới

tư duy trong giảng dạy văn học”. Trong bài này tôi cho rằng, phương pháp giảng

dạy tức môn giáo học pháp, không phải không cần, nhưng trong tình hình hiện

nay, điều quan trọng hơn là phải hiểu được bài văn đã. Phải giải quyết nội dung

thì mới có cái mà truyền đạt chứ. Lâu nay nội dung ý nghĩa của bài văn thường

bị chính trị hoá, nhiều người coi tiêu chí cao nhất để đánh giá tác phẩm văn học

là tiêu chí chính trị. Phân tích tác phẩm họ thường suy diễn bừa bãi theo lối xã

hội học dung tục hay biến ngôn ngữ nghệ thuật thành ngôn ngữ chính trị trực

tiếp, giá trị văn chương không được coi trọng. Nghĩa là có rất nhiều vấn đề cần

giải quyết xung quanh việc phân tích, thẩm định tác phẩm như những giá trị văn

chương.

Phan Trọng Luận bèn xui một giáo viên phổ thông thân cận với anh (Vũ

Dương Quỹ) viết bài phê phán tôi không hiểu tầm quan trọng của giáo học pháp.

Thực tình thì tôi không coi thường bộ môn khoa học này nhưng quả có

coi thường những người dạy môn học này. Không có kinh nghiệm dạy văn cụ

thể nên toàn lý thuyết suông, phát biểu những nguyên lý chung chung vô bổ. Có

lần tôi đã nói toạc ra như thế khi trả lời học viên một lớp gọi là cốt cán cấp II (

lớp bồi dưỡng giáo viên cấp II giỏi lên trình độ đại học ). Cô Bích Ba, trưởng

lớp, trịnh trọng đứng lên hỏi tôi khi bài học kết thúc: “Thưa thầy, thầy dạy văn

đã lâu năm, vậy kinh nghiệm của thầy làm thế nào để dạy văn cho tốt.” Tôi trả

lời ngắn gọn: “Muốn dạy văn cho tốt, theo kinh nghiệm của tôi, không nên học

giáo học pháp.”

Cách ăn nói giật gân như thế tất được truyền bá nhanh chóng và rộng rãi,

và các vị giáo học pháp rất căm ghét, trong đó có Phan Trọng Luận là người tự

phong là giáo sư đầu ngành về môn học này.

Nhưng người tập trung đánh tôi nhiều nhất là Trần Mạnh Hảo.

Muốn hiểu hiện tượng Trần Mạnh Hảo, cần thấy y không phải là kẻ đơn

độc và xuất hiện ngẫu nhiên, mà tiêu biểu cho một xu hướng cơ hội chủ nghĩa

trong đời sống văn học của đất nước do một lực lượng cầm quyền tạo ra, đặc

biệt là từ khi có phong trào đổi mới.

Lực lượng này có nhu cầu dẹp phong trào đổi mới, đòi dân chủ thật sự mà

họ gọi là cực đoan, quá khích. Họ dẹp báo Văn nghệ của Nguyên Ngọc, họ cách

chức Trần Độ, họ xoá bỏ giải thưởng trao cho tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh

của Bảo Ninh, cấm phim Hà Nội trong mắt ai của Trần Văn Thuỷ, chèo Bài ca

giữ nước của Tào Mạt, vở Em đẹp dần trong mắt ai của đoàn kịch Hà Nội…, Họ

phê phán Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Dương Thu

Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…, tập truyện Bi kịch nhỏ của Lê

Minh Khuê, đánh Lê Ngọc Trà, Hoàng Ngọc Hiến, Văn Tâm, Nguyễn Đăng

Mạnh…, xoá bỏ trường viết văn Nguyễn Du do Khái Vinh, Phạm Vĩnh Cư,

Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc phụ trách..vv…

Họ cần có những “thợ đánh” giỏi. Họ tìm được Phan Cự Đệ, Trần Thanh

Đạm, Hoàng Nhân, Mai Quốc Liên, Hồng Diệu, Nguyễn Văn Lưu, Hồ Phương,

Vũ Quần Phương, Hữu Thỉnh, Trương Vĩnh Tuấn..vv… Tuy thế vẫn chưa có ai

đáp ứng được đầy đủ nhu cầu “đánh dẹp” của họ.

Phải nói nghề “đánh đấm” này xem ra khá hấp dẫn với loại người cơ hội

chủ nghĩa, vì nếu khôn ngoan ra có thể tiến thân rất nhanh chóng…

Nhưng hành nghề này cũng không đơn giản. Phải có một số điều kiện chủ

quan:

- Hoàn toàn vứt bỏ lương tâm, cắt hết mọi “dây thần kinh xấu hổ”

- Có biệt tài dối trá, xỏ xiên, bịa đặt, nguỵ biện.

- Có khả năng diễn đạt giáo hoạt, hấp dẫn ( tất nhiên đối với loại công

chúng văn hoá thấp .)

- Thất nghiệp, nhàn rỗi, được nuôi dưỡng đầy đủ để có thể ngày ngày tiêu

thì giờ bằng cách sản xuất ra thật nhiều những “văn bản đánh đấm” cung cấp

cho nhu cầu chống đổi mới, chống dân chủ.

Trần Mạnh Hảo xuất hiện đã đáp ứng tuyệt vời những điều kiện ấy.

Cho nên không phải ngẫu nhiên mà những Nguyễn Đức Bình, Nguyễn

Hữu Thọ, rồi Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh… đã vồ lấy anh ta như một của

quý. Họ thừa biết đây là một tên đầu gấu, nổi tiếng phản bội (phản chúa, phản

đảng, phản vợ, phản bạn, phản chủ, “phản thơ”, “phản phê bình”), từng bị khai

trừ đảng vì viết Ly Thân, nhưng trước mắt có thể dùng làm tay sai đắc lực.

Nguyễn Hữu Thọ đã nói thẳng như thế với anh em biên tập tạp chí Thế giới mới

ở Sài Gòn ( Nguyễn Khắc Hoan đã kể lại như thế với Nguyên Ngọc ). Nguyễn

Khoa Điềm cũng vậy. Điềm vào Đại học Sư phạm Hà Nội nói chuyện với cán

bộ, sinh viên khoa văn, ngang nhiên đánh giá Trần Mạnh Hảo là “trong sáng” và

“dũng cảm”.

Cho nên bài của Hảo toàn đăng trên báo lớn: Nhân dân, Quân đội nhân

dân, An ninh quốc gia, Văn nghệ… y được đám Văn nghệ quân đội ca tụng,

được nhận rất nhiều giải thưởng của Hội Nhà văn, được đưa vào chương trình

vô tuyến. Nhiều người viết bài tranh luận lại với Hảo bị báo chí từ chối. Nguyễn

Hữu Sơn tập hợp một số bài viết tranh luận với Hảo, in ở Nxb Hải Phòng. Nhà

xuất bản này đã bị phê bình, cảnh cáo.

Hảo viết bài đánh nhiều người, nhưng đánh tôi nhiều hơn cả.

Về chuyện tôi bị đánh dồn dập như thế, có người, như Hoàng Ngọc Hiến,

giải thích là do sự chỉ đạo của Nguyễn Khoa Điềm. Anh nói: “Vì Nguyễn Khoa

Điềm đã đích thân đến tận nhà mời cậu vào Hội đồng lý luận phê bình của Hội

nhà văn mà cậu nhất quyết từ chối, nên hắn chỉ đạo Hảo đánh cậu chứ sao!

Điềm lên làm tổng thư ký Hội nhà văn, lại là trung ương uỷ viên, đã hạ cố đến

nhà riêng của hội viên mà lại bị từ chối, như thế là cậu coi thường anh ta, xúc

phạm anh ta rồi còn gì!”

Sau Đại hội nhà văn lần thứ 5 (1995), đúng là Nguyễn Khoa Điềm và Ma

Văn Kháng có đến tôi ( ở ngõ 68, Quan Hoa). Điềm nói đại ý, tôi được giới lý

luận phê bình và sáng tác tín nhiệm, vậy muốn mời tôi làm chủ tịch Hội đồng lý

luận phê bình. Lúc ấy tôi dứt khoát từ chối vì, một là thấy danh sách uỷ viên Hội

đồng do Điềm dự kiến có những tay bảo thủ cơ hội chủ nghĩa tôi rất ghét, hai là

có nhiều người thuộc phái cấp tiến khuyên tôi không tham gia, như Nguyên

Ngọc, Nguyễn Quang Thân, Lê Ngọc Trà. Vả lại đã từng phụ trách Hội đồng lý

luận phê bình sau Đại hội nhà văn lần thứ 4, tôi thấy Hội đồng này thực chất

không có vai trò gì, bị vô hiệu hoá ngay cả đến việc kết nạp hội viên và tặng giải

thưởng (về lý luận phê bình).

Nhưng có phải vì thế mà Điềm căm ghét và trả thù tôi hay không thì lúc

ấy tôi không tin. Tôi vẫn nghĩ, Điềm làm gì đến nỗi tiểu nhân như thế.

Nhưng thôi, hãy trở lại chuyện Trần Mạnh Hảo.

Lần đầu tiên tôi biết Hảo là do Hữu Thỉnh. Hữu Thỉnh buộc phải tổ chức

một cuộc trao đổi về tiểu thuyết Ly Thân. Thỉnh nói riêng với tôi nương nhẹ khi

phát biểu để đỡ tội cho Hảo.Té ra giữa Hữu Thỉnh và Hảo đã có quan hệ thân

tình rất lâu rồi.

ở Đại hội nhà văn lần thứ IV và lần thứ V, Hảo ngồi cạnh tôi, nói chuyện

rất thân mật. Y còn tặng sách tôi và chép thơ vào sổ tay tôi.

Tôi thường được mời vào Sài Gòn công tác. Hảo có lần tìm đến thăm tôi

ở một căn hộ trong chung cư 21 Lý Tự Trọng, nơi ở của con trai tôi, có thời gian

công tác ở Thế giới mới (Hiện tôi còn giữ hai tấm ảnh chụp với Hảo ở căn hộ

này.) Mỗi lần vào Sài Gòn, tôi thường được gọi đến nhậu ở “dinh cơ” Thu Bồn.

Nhiều lần tôi thấy Hảo cũng có mặt ở đấy cùng với vợ. Lúc ấy Hảo đóng vai cấp

tiến.

Vậy mà vào đầu nhưng năm 90, hảo trở cờ, đánh vào phái cấp tiến từng

nhậu với y ở chỗ Thu Bồn.

Lúc đầu những bài trở cờ của Hảo đăng ở báo Công an Thanh phố Hồ Chí

Minh. Con trai tôi hỏi Hảo: “Sao anh lại viết như thế?”, Hảo trả lời: “Chú mày

phải cho anh kiếm bát cháo chứ!”. Nghe nói, vợ hắn quốc tịch Pháp, thường

buôn thuốc tây từ Paris về Sài Gòn. Hắn cần trở cờ để giúp vợ dễ dàng giao

thiệp với Công an, với Hải quan. Anh Đức đã bầy cho hắn mẹo ấy và chỉ đạo

hắn đánh vào cánh đổi mới. Đúng là hắn đã chừa ra không đụng đến bọn cơ hội

bảo thủ như Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Anh Đức, Bảo Định Giang, Trần Thanh

Đạm, Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Phương Lựu..vv…

Hảo đánh vào hầu hết những bài viết của tôi, từ sách chuyên luận (Con

đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn ) đến sách giáo khoa, từ bài viết

về Hồ Chí Minh, về Văn học giai đoạn 1945 – 1975, bài Tổng quan văn học Việt

Nam qua các thời kỳ lịch sử đến bài viết về Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyên

Hồng, Hoài Thanh..vv…

Tất nhiên tôi chẳng kể lại làm gì những bài viết mà những người có học

hành hẳn hoi và đứng đắn đều thấy là vừa ngu vừa đểu. Tôi chỉ ghi lại một

trường hợp, do sử dụng Hảo mà nhiều nhân vật trong bộ máy quản lý văn hoá,

giáo dục của ta trở thành trò cười.

Năm 1977, báo Nhân dân đăng một bài của Hảo phê phán bài viết của tôi

trong sách giáo khoa Cải cách giáo dục lớp 12. ấy là các bài Nguyễn ái Quốc –

Hồ Chí Minh và Khái quát về Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975. Đại khái y

cho tôi phủ nhận giá trị văn chương của văn thơ Hồ Chí Minh khi cho rằng, đối

với Hồ Chí Minh, sáng tác văn thơ trước hết là hành vi chính trị và đưa ra luận

điểm phân biệt thơ của Người làm hai loại: một là thơ tuyên truyền chính trị trực

tiếp giống như những bài ca, bài vè nhằm vào đại chúng văn hoá thấp, hai là thơ

nghệ thuật làm để giải trí cho mình hay một số cán bộ cao cấp gần gũi với mình,

thường viết bằng chữ Hán. Còn về bài Khái quát văn học 1945 – 1975 thì cho là

tôi phủ nhận văn học Cách mạng.

Nguyễn Đức Bình tán thành bài viết này. Ông triệu tập một hội nghị gồm

nhiều vị quản lý văn hoá văn nghệ như Trần Hồng Quân, Phạm Minh Hạc,

Nguyễn Hữu Thọ, Hà Xuân Trường, Đặng Hữu, Nông Quốc Chấn, Hữu

Thỉnh…

Tất cả đều nhất trí vất bỏ hai bài viết của tôi và tìm người viết thay. Điều

đáng chú ý là tất cả các vị có mặt trong cuộc họp này không có ai làm công tác

nghiên cứu văn học, không có ai nghiên cứu về văn thơ Hồ Chí Minh cả.

Các ý kiến đều được viết ra, nghĩa là có văn bản. Anh Hà Bình Trị, thư ký

của hội nghị, có gửi cho tôi một số bản chụp.

Đọc các ý kiến này mới biết những ông lãnh đạo văn hoá như Nguyễn

Đức Bình, Hữu Thọ, Hà Xuân Trường, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Khoa Điềm,

Hữu Thỉnh, cứ tưởng trình độ nhận thức cũng khá, hoá ra không phải. Cũng y

như lý lẽ của Trần Mạnh Hảo vậy thôi. Mà đều rất chủ quan, toàn nói giọng

khẳng định không chút dè dặt những điều rất nông cạn, hời hợt ( Chỉ có Nguyễn

Đình Thi có tỏ ra dè dặt – anh không dự hội nghị nhưng có gửi thư đến. Anh đề

nghị việc xem xét, sửa chữa sách giáo khoa nên mời các nhà chuyên môn trao

đổi với các giáo sư soạn sách.)

Trình độ văn hoá, trình độ nhận thức thấp tất đẻ ra lối lãnh đạo văn hoá

một cách thô bạo. Chẳng hiểu gì cả mà dám can thiệp sâu vào chuyên môn, lại

dựa theo ý kiến một tên vô lại. Và họ khinh bỉ trí thức đến thế là cùng: không

mời tôi và bất cứ một nhà nghiên cứu văn học nào đến để tham khảo ý kiến. Mà

không phải không có những thông tin khác. Giáo sư Hoàng Như Mai và giáo sư

Lê Trí Viễn có phản ứng trên báo. ngoài ra có một số bài nói lại khá cặn kẽ về

Trần Mạnh Hảo và về vấn đề Tuyên ngôn độc lập trong chương trình PTTH

ccgd của Đỗ Ngọc Thống, Đặng Lưu, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Gia Phong… Lại

có cả một bản tường trình cặn kẽ của Nhà xuất bản Giáo dục chung quanh vị trí

của bài Tuyên ngôn độc lập trong sách giáo khoa từ tiểu học, phổ thông cơ sở

đến phổ thông trung học để thấy chưa có bài văn nào được học quá nhiều như

thế.

Nhưng mặc, họ vẫn tin ở Trần Mạnh Hảo hơn ( tuy Hữu Thọ là học trò

của giáo sư Hoàng Như Mai .)

ít lâu sau, tôi được ông Trần Hồng Quân, bộ trưởng Bộ giáo dục và đào

tạo mời đến gặp sau giờ làm việc. Tôi đến nơi thì đã thấy mặt Trần Hồng Quân,

Đỗ Bình Trị, Vũ Quốc Anh, Nguyễn Như ý, và một thư ký riêng của ông Quân.

Trần Hồng Quân phổ biến cho tôi về nhận định và cách sử lý hai bài viết

của tôi trong sách giáo khoa. Sau đó hỏi tôi có ý kiến gì không.

Tôi nói, nếu anh gọi tôi đến chỉ để phổ biến như thế thì tôi chả có ý kiến

gì, còn nếu anh hỏi tôi như một nhà nghiên cứu văn học thì tôi sẽ nói. Quân mời

tôi nói.

Buổi ấy tôi phát biểu rất thẳng thắn và quyết liệt, đại khái như sau: Các

anh khinh thường sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh quá, chả cần nghiên cứu

gì cũng hiểu được. Thực ra các anh chẳng hiểu gì. Nếu gọi tôi đến, tôi giảng cho

các anh nghe 15 phút các anh sẽ hiểu ra ngay.

Tôi lại nói, việc bỏ bài viết của tôi khỏi sách giáo khoa làm thiệt thòi cho

hai đối tượng: một là Hồ Chí Minh, hai là giáo viên, học sinh. Hồ Chí Minh thiệt

vì từ nay sẽ bị hiểu sai, đánh giá sai. Giáo viên học sinh thiệt vì từ nay không

được dạy và học một bài viết chính xác, khoa học. Còn tôi thì chẳng thiệt hại gì.

Vì tiêu chuẩn phong phó giáo sư, giáo sư người ta không tính điểm cho sách

giáo khoa phổ thông.

Tôi nói tiếp, càng sôi nổi hơn: hiện nay chúng ta đang ra sức chống nhiều

tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm… Theo tôi Trần Mạnh Hảo là một tệ nạn

nguy hại hơn nhiều vì hắn làm cho trí thức mất tin tưởng ở Đảng.

Hôm ấy, tiễn tôi ra xe, Vũ Quốc Anh bảo tôi: “Anh Quân nói, anh Mạnh

anh ấy phát biểu đúng đấy”.

Nhân đây xin kể một chuyện vui.

Đầu năm 1996, ở Pác Bó, Cao Bằng, người ta tổ chức lễ kỷ niệm rất to

ngày Bác Hồ về Pác Bó ( 2/ 1941 ). Tôi và nhiều cán bộ nghiên cứu khoa học

được mời lên dự. ở Pác Bó người ta xây dựng một ngôi đền thờ Bác Hồ. Mọi

người lên Pác Bó thường vào đền dâng hương. Tôi tới thắp hương và khấn ( cho

vui thôi ): “Cháu viết về Bác cũng nhiều, và viết cũng khá. Vậy mà Bác không

phù hộ cháu, để chúng nó đánh cháu như thế!”

Dịp ấy giáp Tết âm lịch. Tôi vừa về đến nhà thì có biên tập viên Tạp chí

Cộng Sản đến đặt viết bài về văn thơ Hồ Chí Minh để đăng vào dịp kỷ niệm sinh

nhật cụ Hồ. Bài viết của tôi nhan đề: “Một sự nghiệp văn học lớn, phong phú, đa

dạng” Nội dung lặp lại những luận điểm hệt như trong sách giáo khoa ( Tạp chí

Cộng Sản 19/5/1996 ) Bài này được dịch ra nước ngoài trong Sciences Sociales

cùng năm ấy.

Cụ Hồ thế mà thiêng thật!

Hai bài viết của tôi trong sách giáo khoa Cải cách giáo dục lớp 12, tuy đã

bị thay bằng bài của anh Hà Minh Đức, nhưng nhiều giáo viên nói với tôi vẫn

dạy theo bài cũ.

Bây giờ lại cải cách chương trình và sách giáo khoa một lần nữa. Hai bài

của tôi lại được lấy lại. Không biết các ông Nguyễn Đức Bình, Nguyễn Hữu

Thọ, Hà Xuân Trường, Hữu Thỉnh có còn phản đối nữa không?

Gần đây bộ mặt Trần Mạnh Hảo thế nào, ai nấy đều rõ cả, chả cần nói làm

gì. Chỉ thương cho những vị chót dùng Hảo, chót tin Hảo.

Nghe nói Hảo nay lại có nhu cầu khác, nhu cầu này đòi hỏi phải chửi

Đảng thật ác. Và Hảo thấy cần phải trở cờ lần nữa, trở cờ ngược lại. Đối với Hảo

thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì y vốn có máu phản bội. Nhưng thật tội cho

những người dùng Hảo. Đúng là Bá Kiến dùng Chí Phèo, cuối cùng trở thành

nạn nhân của hắn.

Nhớ hồi nào, khi Hảo bắt đầu đánh tôi, tôi gọi điện cho Nguyễn Khoa

Điềm ( lúc ấy anh chưa vào Bộ chính trị ) rằng sao Đảng lại dùng Trần Mạnh

Hảo. Đảng dùng một kẻ như thế thì tôi thương Đảng lắm. Lúc đó tôi nhớ Điềm

đã trả lời tôi: “Anh nói thế người ta khó tiếp thu lắm”

Bây giờ không biết Điềm có còn nhớ cú điện thoại đó không?

Hẳn là anh phải thừa nhận tôi đã nói đúng.

Đây là một bài học đau đớn đối với nhiều nhà lãnh đạo văn hoá giáo dục.

Họ đã bị Hảo lỡm cho một vố thật đau. Một bài học cần rút ra: dùng người phải

chú ý đến nhân cách, đến cái tâm, cái đức của anh ta. Đừng chỉ có tin vào lời

phát ngôn. Phát ngôn tiến bộ mà nhân cách kém thì đích thị là cơ hội chủ nghĩa.

Nhưng nói cho vui thế thôi, chứ mục đích không tốt thì dùng người tốt sao

được! Người tốt nào lại đi làm tay sai cho họ chứ?

Cuối cùng tôi phải nói đến bố con Lê Xuân Đức, Lê Tuấn Anh. Cuộc đời

tôi chưa bao giờ gặp phải loại người bỉ ổi đến thế.

Lê Tuấn Anh là sinh viên khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Bố là Lê

Xuân Đức dạy trường chuyên văn Lam Sơn Thanh Hoá. Đức nhờ chạy chọt

được cho con gái Hà Trọng Hoà, bí thư tỉnh uỷ Thanh Hoá, thi đỗ học sinh giỏi

và vào được đại học, Hoà trả công, đề bạt y làm phó chủ tịch Hội văn nghệ

Thanh Hoá, rồi đại biểu quốc hội. ở đây, hắn lại chạy được một chân ở vụ báo

chí hay giáo dục gì đó của quốc hội.

Khi Lê Tuấn Anh còn là sinh viên, Lê Xuân Đức còn ở trường Lam Sơn

Thanh Hoá, tôi có lần được mời vào dự trại bồi dưỡng giáo viên. Tối nào Lê

Xuân Đức cũng đem nem và rượu đến khách sạn nơi tôi ở, mời nhậu. Y còn mời

tôi tới nhà chiêu đãi.

Vậy mà khi là đại biểu quốc hội, con được giữ lại làm cán bộ giảng dạy,

lập tức hắn trở mặt. Tôi nhớ trong một kỳ hội trường Đại học Sư phạm Hà Nội,

Nguyễn Khoa Điềm vốn là sinh viên cũ, đang học ở Nguyễn ái Quốc, đến dự.

Tôi ngồi cùng Nguyễn Khoa Điềm nghe sinh viên đọc thơ, Lê Xuân Đức không

biết từ xó xỉnh nào chồm tới bắt tay Nguyễn Khoa Điềm. Tôi ngồi bên cạnh, hắn

lờ đi coi như không quen biết. Hắn cũng lặp lại một cử chỉ như thế khi tôi đang

ngồi với Nguyễn Văn Hạnh, lúc đó là thứ tưởng Bộ giáo dục. Hắn từ một hàng

ghế xa, chạy lại bắt tay Hạnh và lờ tôi đi.

Tất nhiên được Đức bắt tay thì có danh giá gì đâu. Tôi nêu chi tiết này

chẳng qua vì nó thể hiện rất rõ bản chất con người Lê Xuân Đức. Thảo nào khi

tôi vào Thanh Hoá, giáo viên trường Lam Sơn gọi hắn là Xuân tóc đỏ.

Lê Tuấn Anh khi còn là sinh viên, thường chạy đến tôi luôn, tỏ ý hâm mộ

và sẵn sàng phục vụ tôi khi tôi cần đến. Nhưng đến khi được giữ lại trường làm

cán bộ giảng dạy thì hắn đã viết bài phê phán tôi với giọng điệu rất hỗn.

Thì ra bố con Lê Xuân Đức, Lê Tuấn Anh đã đánh hơi được con đường

tiến thân kiểu Nguyễn Văn Lưu, Trần Mạnh Hảo.

Theo Chu Văn Sơn, bạn từ thời học sinh phổ thông của anh, thì từ khi Lê

Tuấn Anh còn nhỏ, bố là Lê Xuân Đức đã bồi dưỡng cho cậu con trai thứ tâm lý

“vĩ cuồng.” Do một tai nạn ngẫu nhiên ảnh hưởng tới não bộ, tâm lý vĩ cuồng

càng phát triển, trở thành bệnh hoạn thật sự. Tuấn Anh học giỏi, có tham vọng

lớn, nhưng quá nôn nóng được nổi danh, lại sẵn có cái gien Xuân tóc đỏ của bố,

nên đã cùng bố đi theo con đường cơ hội chủ nghĩa bất chấp đạo lý làm người.

Tuấn Anh đã viết liền hai bài rất dài đăng trên Quân đội nhân dân tháng 4

năm 1995 phê phán tôi đã hạ bệ thơ văn Hồ Chí Minh.( bài Đọc thơ Bác, thời

nay và Bàn về cách đánh giá thơ văn Hồ Chí Minh trong Sách giáo khoa 12 – ký

tên Nguyễn Ngọc Châu )

So với cách viết của Trần Mạnh Hảo, Lê Tuấn Anh xuyên tạc, qui chụp có

vẻ tinh vi hơn, nghĩa là xảo quyệt hơn, khoe kiến thức một cách kín đáo hơn.

Nhưng mục đích cũng thế thôi: đánh vào cánh đổi mới. Không phải ngẫu nhiên

mà dưới đầu đề Đọc thơ Bác, thời nay, hắn nói tôi, trước công cuộc đổi mới, viết

về thơ Bác rất tốt, nhưng từ khi đổi mới đã chạy theo phong trào, hạ bệ Hồ Chí

Minh.

Do một cơn vĩ cuồng nổi lên khi chưa đạt được “chí lớn”, Tuấn Anh đã

nhảy lầu tự tử trong thời gian làm nghiên cứu sinh ở Nga.

Nếu Tuấn Anh còn sống, có lẽ Trần Mạnh Hảo phải gọi bằng cụ.

Tôi thật buồn vì có một học trò như thế. Nhưng nghĩ lại thấy cũng còn

may, may hơn Đức Chúa Giê Su rất nhiều. Chúa Giê Su có mười ba học trò thì

có một kẻ phản bội. Tôi có hàng nghìn học trò, một kẻ phản bội thì có nghĩa lý

gì đâu – vì thế có người cho tôi là có cung học trò trong lá số tử vi. GiêSu bị

phản bội đến nỗi phải chết. Tôi bị Lê Tuấn Anh phản bội, chẳng những không

chết mà uy tín cũng chẳng sứt mẻ gì.

Lê Tuấn Anh chết rồi, bố Lê Xuân Đức vẫn cố vớt vát danh vọng cho đứa

con bất hạnh. Y đề nghị tặng giải thưởng lý luận phê bình của Hội nhà văn cho

một tập bài viết của Lê Tuấn Anh. ( vì thấy sách của Trần Mạnh Hảo đã được

nhận giải thưởng ) Và, không biết dùng cách nào y đã lôi kéo được khá nhiều

“tri thức” tới hội thảo về sự nghiệp của Lê Tuấn Anh ở Thư viện quốc gia Hà

Nội và viết bài ca ngợi. Đáng chú ý là bài của ông giáo sư Mai Quốc Liên đăng

trên Văn nghệ Trẻ, đánh giá LêTuấn Anh là một “nhà bác học trẻ” và nêu vấn đề

chúng ta phải làm gì để xứng đáng với người thanh niên tài năng xuất chúng

này.

Anh Nguyễn Xuân Đức, chuyên viên ở Ban văn hoá tư tưởng Trung ương

nói với tôi: “Những lời lẽ Mai Quốc Liên ca ngợi Lê Tuấn Anh chỉ thấy ở bài

Điếu văn của ông Lê Duẩn ca ngợi Bác Hồ.”

Nhưng nghĩ đi, nghĩ lại, thấy Lê Tuấn Anh thật đáng thương. Giá cậu ta

có một ông bố tử tế thì đâu đến nỗi. Có lần cậu ta đã theo ông bác là Hoàng Tiến

Tựu đến tôi và một lần khác, nhờ người chuyển thư xin lỗi tôi. Nghĩa là cũng có

những giây phút ăn năn hối hận. Nhưng chắc rồi lại bị ông bố cuốn vào con

đường danh lợi nên lương tâm lại tắt ngấm. Anh Nguyễn Hải Hà tổ trưởng tổ

văn học nước ngoài của khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội mà Lê Tuấn Anh là

tổ viên, đã khuyên nên cho cậu nghỉ ngơi để điều trị bệnh. Nhưng Lê Xuân Đức

không nghe, vẫn tiếp tục khuyến khích con lao vào giành giật danh và lợi để đến

nỗi học hành quá căng thẳng khiến bệnh tình tái phát (trước cuộc nhảy lầu ở

Nga, Tuấn Anh đã có một lần lao đầu vào xe lửa xuýt chết ).

* *

*

Có lẽ vì tôi luôn luôn bị qui chụp chính trị như thế, nên có những

chuyện đồn đại thất thiệt cả ở nước ngoài.

Đầu tháng 3 năm 1993, một ngày mưa gió ướt át. Tôi lúc ấy còn ở

Đồng Xa. Bỗng có một cô nhân viên phòng văn thư Hội Nhà văn lặn lội tới

đem giấy mời và thư riêng của anh Chính Hữu, phó tổng thư ký Hội nhà văn.

Giấy mời đến dự cuộc nói chuyện của đoàn nhà văn Thuỵ Điển, sau đó

nghe đọc thơ của các nhà thơ Việt Nam và Thuỵ Điển. Địa điểm 65 Nguyễn

Du, 9 giờ sáng thứ Năm 4 – 3 – 1993.

Còn thư riêng của anh Chính Hữu thì cho biết “Đoàn nhà văn này (nhà

văn Thuỵ Điển ) sang có mang theo một danh sách những nhà văn nói là bị

bắt, và họ muốn tìm hiểu thực hư - Đáng tiếc là trong danh sách ấy có tên

anh!!”

Hôm ấy đến gặp mấy ông Thuỵ Điển ở trụ sở Hội Nhà văn, tôi được

Ban chấp hành giới thiệu với đủ mọi danh hiệu cao quý: đảng viên, giáo sư,

nhà giáo ưu tú..vv…

Tôi hỏi tin tôi bị bắt ở đâu ra. Họ nói đọc trên một tờ báo ở Hồng

Kông.

Một điều lạ là tất cả những người có trong danh sách bị bắt đều không

có ai bị bắt cả: Trần Huy Quang, Phùng Quán, Nguyễn Duy, Nguyễn Minh

Châu ( đã chết ), Nguyễn Đăng Mạnh.

Chương VI: Một số thành tựu nghiên cứu, phê bình văn học

I. Tiếp cận thi pháp học và lý thuyết về thi pháp văn học trung đại.

Tôi đến với lý luận không phải từ lý luận mà từ kinh nghiệm thực tế. Từ

kinh nghiệm thực tế mà khái quát lên. Tất nhiên có đọc lý luận nhưng không

nhằm mục đích lý luận. Cho nên nếu ai bảo tôi trình bày một cách có hệ thống

học thuyết này, học thuyết nọ, lý luận này lý luận khác thì tôi chịu. Tôi chỉ đọc

lý luận để tìm xem có cách nào, có khái niệm hay qui luật nào diễn tả được một

cách khái quát và sâu sắc kinh nghiệm thực tế của tôi trong nghiên cứu, phê bình

văn học.

Năm 1969, dạy ở Đại học Sư phạm Vinh, người ta yêu cầu dạy một bài về

văn thơ Xô Viết nghệ Tĩnh. Ai cũng biết đây là những bài thơ văn chính trị rất ít

giá trị nghệ thuật. Vậy dạy làm sao cho ra giờ văn, nghĩa là chắt lọc ra được chất

nghệ thuật ngôn từ thật sự của nó?

Vậy nghệ thuật là gì? Một câu hỏi đặt ra với tôi về lý thuyết. Tôi cho nếu

quả là văn nghệ thuật thì phải có tác động trực tiếp tới độc giả về tình cảm, cảm

xúc thẩm mỹ. Người ta cứ nói tư duy hình tượng. Nhưng hình tượng đã chắc gì

là nghệ thuật, nếu nó không chuyển tải tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ. Nhưng khi

câu văn đã có tác động về tình cảm cảm xúc thì thế nào nó cũng gợi lên hình

tượng. Người dân quê ngày xưa không hề có ý thức sáng tạo nghệ thuật, nhưng

đã tạo ra những vần thơ trữ tình tuyệt vời (ca dao dân ca) nhờ thật sự có tình

cảm, cảm xúc thẩm mỹ, cái gốc của văn chương là ở đó.

Văn thơ Xô Viết Nghệ Tĩnh là loại sáng tác tự giác về chính trị nhưng tự

phát về văn nghệ của người dân thời Xô Viết Nghệ Tĩnh. Phải chắt lọc lấy chất

văn của nó bằng cách đi tìm những yếu tố thực sự có tác động về tình cảm cảm

xúc. Kết hợp với suy luận lôgíc tôi xác định phương hướng tìm tòi: đây là cuộc

đấu tranh giai cấp quyết liệt giữa những người nông dân cùng khổ trên mảnh đất

nghèo Nghệ Tĩnh với bọn đế quốc, phong kiến tàn bạo, dùng cả máy bay oanh

tạc để đàn áp. Lòng căm thù ngùn ngụt chắc chắn là một nguồn cảm xúc lớn của

văn thơ Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Nhưng phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là phong trào cách mạng đầu tiên ở

nước ta theo lý tưởng cộng sản. Vậy ngọn cờ hồng nhất định phải là hình tượng

gây cảm xúc mạnh đối với người chiến sĩ Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Tôi đọc lần lượt từng bài thơ, bài vè, bài văn tế của phong trào Xô Viết

Nghệ Tĩnh, lắng nghe cảm xúc của lòng mình và theo dõi những hình ảnh hiện

ra trong trí tưởng tượng của mình do những bài thơ, bài văn kia gợi ra. Và tôi

tìm thấy ba hình ảnh này nổi lên đậm nét hơn cả:

- Những hình ảnh và ngôn từ chứa chất đầy căm thù: “Sầu tựa biển”,

“giận bằng trời”, “sặc máu đào”…, và những lời chửi rủa: “chém cha”, “mả

mẹ”…

- Âm hưởng tiếng trống vang dội khí thế đấu tranh

- Hình ảnh lá cờ hồng thể hiện lý tưởng cách mạng.

Tất nhiên tôi phải khái quát những gì lặp đi lặp lại như là một sự ám ảnh

của người dân Xô Viết Nghệ Tĩnh để tìm ra những điều nói trên.

Rút cục hình ảnh khái quát nhất của người chiến sĩ Xô Viết Nghệ Tĩnh là:

Tay đánh trống, tay cầm cờ phất

Của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là:

Chói lọi bấy tấm gương ái quốc, bốn mặt phong trào xô đẩy, nông công

binh đều tay vỗ dậy, trống biểu tình đánh dội núi sông vang;

Mới mẻ thay mảnh đất Việt Nam, một vùng không khí mịt mù, Trung Nam

Bắc khắp mặt reo hò, cờ Cách mạng cắm đầu trời đất đỏ.

Khoảng 20 năm sau, anh Trần Đình Sử ở Liên Xô về với lý thuyết về thi

pháp học, lúc ấy đối với ta còn mới lạ. Tôi hỏi anh:

- Ông tóm tắt cho tôi trong vài câu: thi pháp là gì?

Sử trả lời:

- Là bài giảng văn thơ Xô Viết Nghệ Tĩnh của anh đấy.

Tôi nhớ, hồi ấy, nhiều cán bộ giảng dạy có dự lớp tôi dạy bài này, trong

đó có Trần Đình Sử.

*

Năm 1989, lúc này tôi đã ở khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội, và

được giao làm chủ biên biên soạn chương trình và sách giáo khoa Cải cách

giáo dục môn văn của PTTH. Sách giáo khoa ngữ văn lớp 10, trong một bài

khái quát, có nói đến khái niệm thi pháp văn học trung đại. Sách in ra ít lâu

thì có một số giáo viên ở Hải Phòng thay mặt cho các thầy cô giáo dạy văn

cấp III ở thành phố Cảng lên trường Đại học Sư phạm Hà Nội yêu cầu giải

thích thế nào là thi pháp văn học trung đại.

Tôi không phải là chuyên gia về văn học trung đại nhưng phải làm

chuyện này. Kể cũng bạo phổi. Tôi lao vào chuẩn bị gấp bài nói chuyện về

thi pháp văn học trung đại Việt Nam.

Dựa vào một số hiểu biết của mình về thơ văn trung đại, đặc biệt tham

khảo cuốn Những phạm trù văn hoá trung cổ của Gurơvích (Hoàng Ngọc

Hiến dịch), tôi xây dựng bài nói chuyện. Tôi cho cuốn sách của Gurơvích hết

sức quan trọng. Có những công trình khoa học có thể gọi là công trình mẹ vì

có những gợi ý để tạo nên nhiều công trình khoa học khác. Những phạm trù

văn hoá trung cổ là một cuốn sách như thế. Tôi rất thích tác giả phân tích

cách cảm thụ thế giới, cảm thụ không gian, thời gian của người thời cổ trung

đại, cách sử dụng biểu tượng tượng trưng, khuynh hướng sùng cổ, quan

niệm “thiên nhân nhất thể”… của con người thời ấy.

Và tôi đề xuất một hệ thống luận điểm về đặc trưng thi pháp của văn

học trung đại Việt Nam.

Tôi định nghĩa thi pháp văn học một thời đại là hệ thống những yếu tố

hình thức nghệ thuật của văn học, hình thành một cách có hệ thống và tương

đối bền vững, phản ánh tư tưởng mỹ học của thời đại ấy.

Tôi đưa ra khái niệm Cộng đồng văn học bao gồm những người viết

văn và đọc văn của một thời. Nói tư tưởng mỹ học của thời đại có nghĩa là

nói tư tưởng mỹ học của cộng đồng này. Mỗi thời đại có một cộng đồng văn

học riêng. Thời trung đại, cộng đồng văn học gồm những tri thức Hán học.

Thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đến 1945, cộng đồng văn học là những thị dân mà

nhân vật đại diện về tư tưởng, văn hoá là tầng lớp trí thức tiểu tư sản Tây

học.

Một đặc điểm quan trọng nhất của thi pháp văn học trung đại là các

thành viên của cộng đồng văn học thời ấy coi văn học phản ánh hiện thực và

biểu hiện nội tâm mình thông qua một hệ thống ước lệ dày đặc, phức tạp và

nghiêm ngặt, phản ánh tâm lý của đẳng cấp quý tộc thời ấy.

Hệ thống ước lệ này có ba tính chất (phân biệt với ước lệ của văn học

hiện đại).

1- Tính uyên bác và cách điệu hoá

2- Tính sùng cổ

3- Tính phi ngã

Tất nhiên có giải thích và dẫn chứng cụ thể.

Tôi trình bầy như thế với giáo viên Hải Phòng. Họ thấy có lý và có sức

thuyết phục.

Thế là tôi về bổ sung, hoàn thiện thêm rồi viết thành một tiểu luận gọi là

“Phác thảo về đặc trưng thi pháp của văn học trung đại Việt Nam”. Bài in ra,

không thấy có một chuyên gia văn học trung đại nào phản bác, như thế cũng có

thể xem là một đóng góp về khoa học.

II. Phương pháp luận nghiên cứu văn học.

1. Phương pháp luận nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh.

Năm 1969, tôi được chuyển ra Đại học Sư phạm Hà Nội.

Tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng, có lần đã trình bày về kết

quả nghiên cứu nhà văn này cho cán bộ khoa văn. Tôi thấy thái độ nhiều người

tỏ ra e ngại, thấy vấn đề này không có triển vọng gì. Vì ông Hoàng Văn Hoan,

uỷ viên Bộ chính trị, có gửi tới Viện văn học và các trường đại học bài phát biểu

rất dài về Vũ Trọng Phụng với những lời mạt sát nặng nề, ý ông ta muốn các nhà

khoa học đừng bận tâm đến nhà văn lưu manh, phản động này làm gì nữa.

Tôi bèn xoay ra nghiên cứu về thơ Hồ Chí Minh.

Tôi viết một loạt bài bình giảng thơ Hồ đăng trên Văn nghệ và Tác

phẩm mới.

Lúc ấy có hiện tượng người ta bình thơ Hồ thường suy diễn bừa bãi. Tôi

đặc biệt phản ứng đối với những bài viết của Hoàng Xuân Nhị. Ngoài ra như các

ông Nguyễn Trác, Hoàng Như Mai, Đặng Thai Mai, Hà Minh Đức và cả Chế

Lan Viên nữa cũng có những bài phân tích tôi cho là không đúng về thơ HCM.

Ông Hoài Thanh viết về thơ Tố Hữu thì hay, nhưng viết về thơ HCM

cũng xoàng thôi.

Tôi bèn nghĩ và thấy cần đặt ra và giải quyết vấn đề phương pháp tìm

hiểu, phân tích một bài thơ của Hồ Chí Minh sao cho chính xác, khoa học.

Tôi soạn giảng bài thơ tuyệt cú tiếng Việt: “Tức cảnh Pác Bó” mà tôi cho

là rất tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Chí Minh. Tôi vận dụng quan điểm phân

tích ba bước Tổng - Phân – Hợp. Tôi rất tin ở phương pháp này vì thấy các cây

bút sành sỏi đều phân tích như thế, từ Thánh Thán (Tựa Tây Sương Ký) đến Chế

Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Hoài Thanh.

Bài thơ bốn câu, tôi giảng trong hai tiết, chủ yếu thuyết minh về phương

pháp phân tích một bài thơ. Hôm ấy khoa Văn tổ chức dự lớp tôi. Thấy xem

chừng họ nghe được, tôi rất phấn khởi.

Tuy nhiên vấn đề không phải chỉ có thể giải quyết bằng phương pháp

phân tích một bài thơ. Thực ra khi phân tích bài Tức cảnh Pác Bó tôi còn phải

vận dụng hiểu biết về phong cách của thơ Hồ nữa. Ngoài ra nếu nhìn toàn bộ

thơ Hồ Chí Minh thì không phải chỉ có loại thơ như Tức cảnh Pác Bó nghĩa là

chỉ có loại thơ cảm hứng trữ tình thuộc phạm trù thơ nghệ thuật. Vì có nhiều bài

thơ khác giống như loại ca vè, nội dung sơ sài, hình thức dễ dãi, như những bài

Hòn đá, Ca dân cày, Ca binh lính, Ca sợi chỉ, Mười điều của Mặt trận Việt

Minh…vv… những bài ông làm hồi mới về nước ở hang Pác Bó. Nhiều

người đã phân tích những bài thơ này giống như phân tích những bài thơ nghệ

thuật vậy, như Hoàng Xuân Nhị chẳng hạn. Tôi không tán thành cách phân tích

như thế. Ngay Hoài Thanh cũng có lúc không phân biệt.

Ngoài ra, có hiện tượng rất phổ biến là phân tích theo lối suy diễn về ý

nghĩa chính trị của thơ HCM, từ cái gọi là ý nghĩa tượng trưng. Vậy thì

vấn đề thế nào là bút pháp tượng trưng của thơ cổ điển phải đặt ra.

Rồi vấn đề đặc điểm về mặt thể loại của thơ tuyệt cú cổ điển là thể thơ

chủ yếu của HCM.


Ngay như viết về các món ăn cũng thế, Nguyên Hồng chỉ tả được những

món ăn nghèo. Bùi Hiển nói: “Vợ tôi nó bảo Nguyên Hồng chỉ thạo có món đậu

rán thôi. Mỗi cây bút chỉ có một vùng quen thuộc và thành thạo, vươn ra vùng

khác thì không hay nữa, không thật nữa”.

Gắn với khái niệm tư tưởng nghệ thuật, tôi khẳng định vai trò của cảm

hứng. Không có cảm hứng thì không thể có tư tưởng nghệ thuật. Điều này cũng

chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế của nhiều nhà văn trong nước, ngoài nước

mà tôi được biết, được đọc – như trường hợp B. Polévoi' viết Một người chân

chính chẳng hạn, hoặc quan niệm của các nhà thơ cổ điển phương Đông về khái

niệm “thần” (Văn chương hữu thần, giao hữu đạo - Đỗ phủ)..vv…

- ý kiến của Plékhanov về tầm quan trọng của việc tìm hiểu tâm lý xã hội

trong nghiên cứu lịch sử văn học nghệ thuật. Theo Plékhanov, nếu không hiểu

tâm lý xã hội thì “không thể tiến lên một bước nào trong lịch sử văn học nghệ

thuật, triết học..vv…” (Tuyển tập các tác phẩm triết học. Dẫn theo Nguyên lý

triết học Mác xít Sự thật 1962)

Tôi cho đây là một ý kiến cực kỳ quan trọng trong việc giải thích sự hình

thành tư tưởng nghệ thuật của mỗi nhà văn.

Tâm lý xã hội bao giờ cũng hình thành một cách tự phát từ môi trường

sống cụ thể của con người.

Từ đó, giải thích tư tưởng của nhà văn, tôi phân biệt hai hoàn cảnh: hoàn

104

cảnh lớn và hoàn cảnh nhỏ. Hoàn cảnh lớn tác động tới cả xã hội trong một thời

kỳ lịch sử, hoàn cảnh nhỏ liên quan trực tiếp tới nhà văn như một cá nhân. Nếu

cần để hiểu một tác phẩm cụ thể, thì còn phải tính đến một hoàn cảnh thứ ba

nữa, tôi gọi là hoàn cảnh cấu tứ. Hoàn cảnh này tác động tới sự hình thành cái

tứ cụ thể của bài thơ hay bài văn.

Nhưng tư tuởng nghệ thuật của nhà văn không phải là một thực thể tĩnh.

Nó có quá trình hình thành, vận động, biến chuyển trong quá trình sáng tác của

nhà văn.

Vì thế từ khảo sát ở góc độ đồng đại (synchronique) phải chuyển sang

khảo sát ở góc độ lịch đại (diachronique).

Dựa trên thực tế nghiên cứu Vũ Trọng Phụng, tôi chủ trương phải khảo

sát quá trình vận động, biến chuyển của tư tưởng nghệ thuật nhà văn căn cứ vào

những biến đổi của thế giới nghệ thuật của ông ta từ tác phẩm đầu tay đến tác

phẩm cuối cùng. Tôi gọi đó là sự thâm nhập từ bên ngoài vào thế giới ý thức của

nhà văn qua các tác phẩm. Và tôi cho rằng cần phải phối hợp với sự tìm hiểu

diễn biến tư tưởng ấy từ bên trong, nghĩa là đặt mình vào chủ thể sáng tác để

theo dõi quá trình hình thành, vận động của tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. ở

đây, theo tôi, có qui luật riêng.

Tôi mượn cách diễn đạt qui luật này của Chế Lan Viên trong bài Hai câu

hỏi:

Ta là ai? Như ngọn gió siêu hình

Câu hỏi hư vô. thổi nghìn nến tắt;

Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn Bấc,

Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh.

Nhưng tôi không tán thành Chế Lan Viên đã đối lập hai câu hỏi trên. Tôi

cho rằng qui luật vận động tư tưởng nghệ thuật của nhà văn là sự giải đáp bằng

thực tế sáng tác cả hai câu hỏi trên trong suốt cuộc đời viết văn, làm thơ của

mình. Đó là quá trình luôn luôn tìm hiểu khám phá cuộc sống, song song với

quá trình tự tìm hiểu, tự khám phá về bản thân mình, từ tư tưởng đến tài năng –

đây đồng thời cũng là quá trình hình thành phong cách riêng của mỗi cây bút.

Năm 1987 tôi bắt đầu viết chuyên luận về phương pháp nghiên cứu của

một nhà văn trên cơ sở kinh nghiệm nghiên cứu Vũ Trọng Phụng.

Vẫn dùng lối khái quát những yếu tố nghệ thuật, những ngôn từ lặp đi lặp

lại như nỗi ám ảnh của nhà văn để tìm đến tư tưởng của ông ta.Tôi nhận thấy ở

tác phẩm Vũ Trọng Phụng có những hiện tượng luôn lặp đi lặp lại, như hay dùng

ba chữ “Vô nghĩa lý”; hay tạo ra những nhân vật thầy tướng, thầy số đoán rất

đúng số phận của nhân vật chính và thường tổ chức cốt truyện theo nguyên tắc

ngẫu nhiên, may rủi; hay phóng đại cái ác, cái đểu, cái dâm; thường có nhân vật

“trả thù đời”, và đặc biệt có lối so sánh ví von không có ý nghĩa tu từ gì cả mà

chỉ cốt để chửi bới thật nhiều đối tượng không liên quan gì đến tác phẩm – một

thứ ví von nhiều vế theo lối đâm ngang, đá móc rất ác.

Trong mớ mâu thuẫn tư tưởng của Vũ Trọng Phụng, tôi tìm cách xác lập

mối mâu thuẫn cơ bản trong thế giới quan và trong sáng tác của nhà văn chi phối

toàn bộ thế giới nghệ thuật của ông. ấy là mối quan hệ vừa mâu thuẫn vừa thống

nhất giữa tư tưởng bi quan định mệnh chủ nghĩa và tâm trạng phẫn uất mãnh liệt

đối với xã hội mà Vũ Trọng Phụng gọi là “chó đểu”, “vô nghĩa lý”.

Chuyển sang giải thích tư tưởng Vũ Trọng Phụng, tôi tìm hiểu hoàn cảnh

lớn và hoàn cảnh nhỏ của nhà văn, đặc biệt là hoàn cảnh nhỏ. (Hoàn cảnh lớn thì

ai cũng nói cả, nhưng hoàn cảnh nhỏ thì hầu như không được chú ý) Chủ nghĩa

Mác thường nhấn mạnh con người giai cấp nên rất coi nhẹ hoàn cảnh nhỏ, tức

hoàn cảnh cá nhân của nhà văn. Tôi tìm đến nơi ở của Vũ Trọng Phụng ngày

xưa ở phố Hàng Bạc, té ra bà Bé Tý là hàng xóm của ông. Tôi tìm đọc tư liệu về

bà me Tây cao cấp này, đến hỏi cụ Hoàng Ngọc Phách về dinh cơ của bà mà cụ

đã từng đến. Đọc các tin tức trên báo chí, cả những bài quảng cáo. Tìm hiểu vị

trí phố Hàng Bạc (gần chợ Đồng Xuân, Hàng Buồm, Mã Mây, Tạ Hiền, rất

nhiều tiệm ăn, tiệm hút, nhà hát, nơi tập trung hạng công tử ăn chơi và bọn lưu

manh, gái điếm…) và cả nghề thợ bạc. (hay bớt xén, ăn cắp, hay làm đồ giả.) Và

tôi đã giải thích cái nhìn bi quan của Vũ Trọng Phụng về loài người qua cái lỗ

khoá Phố Hàng Bạc như thế nào. Nghiên cứu nhà văn đến khâu hoàn cảnh nhỏ

này, rất cần đến trí tưởng tượng để dựng lên được cụ thể không khí của môi

trường sống của nhà văn. ở đây văn của nhà viết sử văn học gần gũi với văn của

người sáng tác.

Năm 1968, tôi viết bài “Mâu thuẫn cơ bản trong thế giới quan và trong

sáng tác của Vũ Trọng Phụng”, nhưng như đã nói, đến 1971 mới được đăng.

Hoàng Ngọc Hiến đã nghe tôi trình bầy những luận điểm trên về Vũ Trọng

Phụng trong một buổi bồi dưỡng giáo viên Phổ thông ở Thanh Hoá. Anh đánh

giá “brillant marxiste”

Từ 1967 cho đến mãi 1990 tôi mới hoàn thành chuyên luận về phương

pháp luận nghiên cứu tác gia văn học. Lúc đầu đăng trên Tập San khoa học của

trường. Đến 1994 mới in thành sách (Nxb Giáo dục) với nhan đề Con đường đi

vào thế giới nghệ thuật của nhà văn.

Dĩ nhiên chuyên luận này không chỉ dựa trên cơ sở nghiên cứu Vũ Trọng

Phụng, mà là sự tổng hợp kinh nghiệm nghiên cứu hàng loạt nhà văn hiện đại từ

Hồ Chí Minh, Tố Hữu, đến Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Nguyễn

Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn

Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Thiệp..vv…

III. Nghiên cứu phong cách nghệ thuật nhà văn

Từ ngày tôi xuất bản tập tiểu luận phê bình nhan đề Nhà văn, tư tưởng và

phong cách (1979), tôi được xem là một trong những chuyên gia về phong cách

nghệ thuật nhà văn.

Tôi đã đọc một vài chuyên luận về phong cách, thí dụ như cuốn Lý thuyết

phong cách của Xôcôlốp (Hoàng Ngọc Hiến dịch).Lý thuyết khá phức tạp không

dễ lĩnh hội thấu đáo. Nhưng vận dụng lý thuyết vào việc nghiên cứu phong cách

cụ thể của nhà văn mới thật là khó. Tôi đã hỏi nhiều chuyên gia về phong cách

nhà văn này nhà văn khác mà họ có nghiên cứu, thấy các vị rất lúng túng không

trả lời được, hoặc trả lời rất đại khái.

Tôi đi hỏi các nhà văn. Xuân Diệu nói, để mình tra từ điển xem nhé.

Nghĩa là ông cũng chả nghĩ gì về khái niệm này. Còn Nguyễn Tuân thì cho

phong cách khác nhau là do cảm quan về thế giới (vision du monde) khác nhau,

tuy cùng một thế giới quan.

Qua kinh nghiệm nghiên cứu các nhà văn, tôi cho, phong cách đúng là do

cảm quan về thế giới khác nhau của mỗi nhà văn tạo nên, nhưng cơ sở tư tưởng

của nó cũng khác nhau, đó là tư tưởng nghệ thuật riêng của mỗi cây bút.

Cuối cùng, từ kinh nghiệm nghiên cứu, tôi xác định khái niệm phong cách

gồm bốn điểm sau đây:

1.Phong cách là một phạm trù thẩm mỹ. Nhà văn có phong cách là người

đã tạo ra được những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Phong cách không phải

là những đặc điểm nào đấy trong sáng tác của nhà văn. Đặc điểm thì ai chẳng có.

Nhưng phong cách là đặc điểm thể hiện cá tính sáng tạo, là chỗ mạnh của tài

năng mỗi nhà văn, nói nôm na, là chỗ hay riêng của mỗi cây bút. Không nên nói

phong cách ở những nhà văn hạng ba, nhà văn bất tài.

2.Phong cách là một chỉnh thể thống nhất. Phong cách bao giờ cũng

phong phú, đa dạng, nhưng dù đa dạng đến thế nào vẫn có tính thống nhất chi

phối bởi một qui luật nghệ thuật nội tại nào đấy. Tìm ra những đặc điểm này

khác của phong cách một nhà văn tuy không dễ nhưng không khó lắm. Nhưng

tìm ra chỗ thống nhất của phong cách thì cực khó. Nhưng nếu chưa tìm ra chỗ

thống nhất ấy thì chưa thể coi là đã hiểu đích xác phong cách của nhà văn. Điểm

thống nhất này liên kết các yếu tố phong cách, tạo nên tính chỉnh thể của nó.

3. Phong cách là một hiện tượng cụ thể, là diện mạo của mỗi nhà văn.

Phong cách là một cái gì quan sát được, miêu tả được. Cơ sở của phong cách là

nội dung, là tư tưởng, nhưng tư tưởng ấy phải được hình thức hoá khiến có thể

cảm nhận được cụ thể.

4. Phong cách luôn luôn chuyển biến theo quá trình sáng tác của nhà văn.

Vì văn học là một hoạt động sáng tạo. Nhưng dù chuyển biến thế nào cũng trên

một căn bản thống nhất, khiến cho từ tác phẩm này đến tác phẩm kia, tuy nhà

văn viết rất khác nhau, nhưng người ta vẫn nhận ra đó là văn của ông ta chứ

không phải của ai khác. Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt

cua, Thiếu quê hương, Đường vui, Tình chiến dịch,Sông Đà, Ký chống Mỹ… là

những tác phẩm rất khác nhau của Nguyễn Tuân từ nội dung đến hình thức,

nhưng người ta vẫn nhận ra tất cả đều là văn của Nguyễn Tuân.

Trước kia, lý thuyết chính thống coi thế giới quan nhà văn quyết định tất

cả. Mà quan niệm thế giới quan hồi ấy chủ yếu là tư tưởng chính trị. Thế giới

quan thay đổi thì mọi thứ đều thay đổi, từ phương pháp sáng tác đến phong cách

nghệ thuật. Anh Lê Đình Kỵ có một thời đã bị phê phán gay gắt vì tỏ ra “mơ hồ”

về nhận thức này, tức mơ hồ về tính giai cấp của văn học. Nhân một chuyến

cùng đi với tôi lên Đà Lạt, anh Kỵ cho biết, hồi ấy ngoài việc bị phê phán trên

báo chí, người ta còn tổ chức họp các nhà lý luận để phê phán anh trực tiếp nữa.

Trong cuộc họp ấy, Nam Mộc nói: “Anh nên nhớ, đi ỉa cũng có tính giai cấp

nhé! Người ta ỉa lên mộ Hoàng Cao Khải đấy thôi”.

Tất nhiên bây giờ quan niệm ấu trĩ nói trên không còn tồn tại được nữa,

nhưng luận điểm của tôi vẫn cần được giải thích. Vì sao phong cách tuy luôn

luôn chuyển biến, nhưng vẫn trên một căn bản thống nhất, dù thời thế đã đổi

thay cùng tư tưởng của nhà văn?

Tôi chủ yếu dựa trên ý kiến tự bạch của các văn nghệ sĩ như Hoài Thanh,

Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Ngọc,

Lưu Hữu Phước và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân mình để đi đến kết

luận:Có rất nhiều nhân tố tạo nên phong cách của nhà văn và sự vận động của

nó, trong đó có thế giới quan của ông ta. Nhưng nhân tố quan trọng nhất, quyết

định nhất lại là môi trường sống của nhà văn thời niên thiếu, bao gồm: môi

trường gia đình, môi trường xã hội, môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa.

Các môi trường đó có tác dụng hết sức quan trọng đến sự hình thành cảm quan

riêng về thế giới và giọng văn riêng của nhà văn sau này. Nghiên cứu phong

cách Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, ngay

cả Hồ Chí Minh nữa tôi đều thấy như thế. Nghĩa là một qui luật phổ biến và hầu

như không có ngoại lệ.

Trình bày phong cách nghệ thuật của một nhà văn, tôi thường theo trình

tự từ tư tưởng nghệ thuật đến đầu mối thống nhất của phong cách, sau đó triển

khai để miêu tả cụ thể trên các mặt biểu hiện khác nhau của phong cách, nghĩa là

đi từ gốc đến ngọn, từ cành lớn đến cành nhỏ, rồi đến hoa và lá, cuối cùng hình

dung cả một vòm cây che rợp một vùng đất rộng hẹp nào đấy trong nền văn học

của đất nước.

Lấy thí dụ trường hợp văn thơ Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh đã tạo nên cho mình một sự nghiệp văn học hết sức phong

phú đa dạng. Đa dạng đến mức có người tưởng như là của những cây bút khác

nhau. Lê Hữu Mục không biết vô tình hay cố ý đã nhầm lẫn như thế.

Nhưng cái gốc tư tưởng tạo nên tính thống nhất của phong cách Hồ Chí

Minh là gì? ấy là quan điểm sáng tác, coi viết văn làm thơ trước hết là hành vi

chính trị, nhằm thuyết phục một đối tượng nào đấy(viết cho ai?) và vì một mục

đích nào đấy (viết để làm gì?), vì thế mà tạo nên tính đa dạng của phong cách

viết.

ở đây cần phân biệt: nếu đối tượng là người khác thì tác giả phải khuôn

theo tâm lý, trình độ văn hoá, chính trị và thị hiếu của người ấy. Tất nhiên vẫn

có dấu ấn chủ quan của người viết.

Nhưng nếu đối tượng (viết cho ai?) là chính bản thân mình (như trường

hợp Nhật ký trong tù chẳng hạn), thì nhà thơ chỉ cần thoả mãn sở thích, thị hiếu

của mình, vì thế tạo nên những vần thơ thể hiện đầy đủ và sâu sắc nhất tư tưởng

và phong cách của Hồ Chí Minh:

Phong cách ấy theo tôi gồm 4 điểm sau:

- Trong sáng, giản dị, hồn nhiên tự nhiên

- Đậm đà màu sắc cổ điển nhưng đồng thời vẫn thể hiện tinh thần thời đại

108

- Chất thép, tinh thần chiến sĩ thường không thể hiện trực tiếp là thép, là

chiến sĩ, mà thể hiện thành chất thơ, thành hình tượng thi sĩ.

- Giữa các dòng chữ và qua các hình ảnh, thấy luôn ẩn hiện một nụ cười

thoải mái, hồn nhiên, trẻ trung.

Một thí dụ khác: trường hợp Nguyễn Tuân.

Nguyễn Tuân có một lòng yêu nước và tinh thần dân tộc sâu sắc gắn bó

đặc biệt với truyền thống văn hoá cổ truyền của dân tộc. Bất lực trước hoàn cảnh

mất nước, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc ấy chỉ có thể bộc lộ bằng lối sống và

viết ngông ngạo kiêu bạc, khinh đời như một thái độ không chịu chấp nhận chế

độ thực dân và thân phận nô lệ.

Cái ngông Nguyễn Tuân vừa có màu sắc cổ điển, phát huy truyền thống

ngông của các nhà nho tài hoa bất đắc chí kiểu Nguyễn Công Trứ, Tú Xương,

Tản Đà, vừa có màu sắc hiện đại, chịu ảnh hưởng triết học siêu nhân của

Nietzsche và tinh thần nổi loạn của văn học phương Tây hiện đại.

Để miêu tả cụ thể hơn nữa phong cách Nguyễn Tuân, tôi đi từ cái ngông

mà phân tích ra. Ngông là gì? Ngông là đứng trên đỉnh cao của tài hoa và uyên

bác để trêu ghẹo thiên hạ và tỏ thái độ khinh đời. Cho nên ngông thường đi với

thái độ khinh bạc.

Nhưng tài hoa và sự uyên bác của Nguyễn Tuân thể hiện cụ thể như thế

nào?

ấy là cách tiếp cận thế giới, tiếp cận sự vật nghiêng về phương diện văn

hoá, nghệ thuật, phương diện thẩm mỹ, và tiếp cận con người nghiêng về phía

tài hoa nghệ sĩ.

ấy là sự cố tình đặc tả một đối tượng nào đấy cho đến sơn cùng thuỷ tận

bằng cách huy động con mắt quan sát và tri thức chuyên môn của nhiều ngành

văn hoá nghệ thuật khác nhau (văn học, hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc, vũ đạo,

điện ảnh, sử học, địa lý học, địa chất học, côn trùng học..vv…)

Nguyễn Đình Thi gọi Nguyễn Tuân là người đi tìm cái đẹp. Điều ấy rất

đúng. Nhưng cần thấy Nguyễn Tuân có quan niệm riêng về cái đẹp: ấy là những

hiện tượng đập mạnh vào giác quan nghệ sĩ, gây ấn tượng khác thường. Nếu là

thiên nhiên thì phải là đèo cao, dốc thẳm, là những con thác dữ, là gió Lào, gió

Than Uyên ( ruồi vàng, bọ chó, gió Than Uyên), là bão biển trên đảo Cô Tô; nếu

là hoa thì phải là những mâm hoa đỗ quyên vĩ đại trên đỉnh Hoàng Liên Sơn, là

hoa lan vương giả hay hoa thuỷ tiên nở đúng đêm giao thừa; nếu là người thì

phải là những tính cách phi thường; nếu là người đẹp thì phải như Thuý Kiều,

khiến trời đất phải ghen tuông nên cuộc đời phải bất hạnh. Cái đẹp làm cho đổ

quán xiêu đình, nghiêng thành nghiêng nước…

Đối với phong cách Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Nam Cao..vv… tôi cũng

đều trình bầy theo lối triển khai từ gốc đến ngọn như vậy.

IV.Từ nghiên cứu lịch sử văn học đến phê bình

Tôi rất coi trọng lý luận nhưng không phải nhà lý luận.

109

Trước sau tôi cũng chỉ nhận là người nghiên cứu lịch sử văn học và viết

phê bình.

A. Nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam.

Tôi khởi đầu sự nghiệp bằng những bài nghiên cứu lịch sử văn học với hai

đề tài: một là nghiên cứu khái quát về các thời kỳ, các giai đoạn văn học, hai là

tìm hiểu về sự nghiệp sáng tác của các nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt

Nam hiện đại.

1. Về đề tài thứ nhất, tôi tự đánh giá có mấy công trình sau đây có thể

xem là có giá trị hơn cả, vì đã được thử thách qua dư luận

a. Bài Tổng quan về lịch sử văn học Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Nội

dung thứ nhất là xác định đối tượng của lịch sử văn học và tiêu chí phân kỳ lịch

sử văn học (Trước đây thường có sự nhầm lẫn đối tượng của lịch sử văn học với

đối tượng của lịch sử chính trị.) Nội dung thứ hai là nhận xét khái quát về ba

thời kỳ: thời kỳ trung đại từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX; thời kỳ từ đầu thế kỷ XX

đến thế 1945; thời kỳ từ 1945 đến nay. Nội dung thứ ba là những đặc sắc truyền

thống của lịch sử văn học Việt Nam.

Tiêu chí phân kỳ các thời kỳ văn học là hệ thống thi pháp tương ứng.

Tôi định nghĩa thi pháp mỗi thời kỳ là những yếu tố của hình thức nghệ

thuật của văn học hình thành một cách tương đối có hệ thống và bền vững phản

ánh tư tưởng mỹ học và quan niệm văn chương của thời kỳ ấy.

Về đặc sắc truyền thống của lịch sử văn học Việt Nam, tôi đặc biệt nhấn

mạnh hai điểm: một là sức sống mãnh liệt trước những thử thách ghê gớm của

chiến tranh xâm lược không mấy khi dứt trong trường kỳ lịch sử; hai là về tình

cảm thẩm mỹ: không thích cái đồ sộ hoành tráng mà nghiêng về cái đẹp xinh

xắn, nhỏ nhắn, thanh nhã, từ qui mô, đường nét, đến màu sắc, âm điệu. Nhận xét

về nét đặc sắc này, chưa phải đã được hoàn toàn nhất trí trong dư luận. Đây là

chỗ tôi gặp gỡ với giáo sư Trần Đình Hượu.

b. Bài khái quát về đặc điểm và thành tựu của thời kỳ văn học từ đầu thế

kỷ XX đến 1945.

Tôi khẳng định ba đặc điểm: Nền văn học được hiện đại hoá ( chung

quanh đặc điểm này, tôi đưa ra luận điểm của mình về thi pháp văn học trung

đại và thi pháp văn học hiện đại và không chấp nhận có thời kỳ văn học gọi là

cận đại.); văn học phát triển với tốc độ đặc biệt mau lẹ (Tôi đưa ra một nguyên

nhân quan trọng là tâm lý xã hội của tầng lớp tiểu tư sản trí thức Tây học.); nền

văn học phân hoá phức tạp thành nhiều bộ phận, nhiều trào lưu, xu hướng,

trường phái khác nhau. Hai bộ phận là bộ phận công khai hợp pháp và bộ phận

bí mật, bất hợp pháp; hai trào lưu chủ yếu là chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa

lãng mạn với nhiều xu hướng, trường phái khác nhau.

Mỗi bộ phận, mỗi trào lưu, xu hướng, trường phái đều có qui luật hình

thành, vận động, phát triển riêng.

Những ý kiến trên (viết năm 1987), nay đã trở thành quen thuộc.

110

Nhưng nếu đặt trong tình hình nghiên cứu lịch sử văn học vài chục năm trước,

thì phải xem là một đóng góp đáng kể, (Hồi ấy người ta tách riêng văn học 30

năm đầu thế kỷ và coi là thuộc thời kỳ văn học cận đại, còn giai đoạn văn học

1930 – 1945 thì phân chia làm ba dòng: Hiện thực, lãng mạn và cách mạng.

Tôi không chấp nhận có thời kỳ gọi là văn học cận đại vì đó chỉ là khái

niệm chỉ thời gian, hoàn toàn không có nội dung gì riêng về mỹ học, về thi

pháp).

c. Bài Khải luận mở đầu bộ Tổng tập 30A, 30B, khái quát về văn xuôi

hiện thực từ 1940 đến 1945. ở bài này, tôi giải thích và chứng minh, trong thời

gian này, chủ nghĩa hiện thực của văn học Việt Nam không hề “suy tàn” hay

“tán lụi” (như nhận định của nhiều sách vở những năm 60, 70 của thế kỷ trước)

mà vẫn tồn tại và phát triển với những đặc điểm riêng. Những luận điểm của tôi

trong công trình này (viết năm 1980) có thể xem là đã được dư luận hoàn toàn

nhất trí.

d. Bài khái quát về văn học giai đoạn 1945 – 1975.

Tôi phát biểu ý kiến này rải rác trên báo chí từ sau đại hội Đảng lần thứ

VI (1986), đến 1990 thì viết thành một bài trong sách giáo khoa Cải cách giáo

dục PTTH và tiếp đó viết thành chương mở đầu bộ giáo trình của Đại học Sư

phạm Hà Nội về thời kỳ văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945.

Lập luận cơ bản của tôi là: Đây là thời kỳ văn học ra đời và phát triển

trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt diễn ra trong 30 năm.

Tôi cho rằng, Chiến tranh là một hoàn cảnh không bình thường đối với một đất

nước, nên cũng đẻ ra những đặc điểm không bình thường của văn học. Và tôi

xác định văn học Việt Nam trong 30 năm chiến tranh này có ba đặc điểm cơ

bản:

- Phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu.

- Hướng hẳn về đại chúng công nông binh

- Chủ yếu được viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Đã có nhiều cuộc tranh cãi gay gắt với những đòn chụp mũ chính trị nguy

hiểm xung quanh những luận điểm và nhận định trên. Nhưng xu hướng cơ bản

của dư luận trong giới khoa học và giáo dục là tán thành.

2. Về đề tài thứ hai: nghiên cứu chuyên sâu về một số nhà văn tiêu

biểu của văn học Việt Nam hiện đại.

Thành tựu chính của tôi trong nghiên cứu lịch sử văn học là về đề tài này.

Các công trình của tôi chủ yếu tập trung vào các tác gia sau:

- Hồ Chí Minh. Mấy vấn đề về quan điểm và phương pháp tìm hiểu, phân

tích thơ Hồ Chí Minh. Nxb Giáo dục 1981; Bác sống như trời đất của ta - Nhà

văn tư tưởng và phong cách. Nxb Tác phẩm mới 1979; Văn thơ Nguyễn ái Quốc

– Hồ Chí Minh. Nxb Giáo dục 1994; Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh - Những

bài giảng về tác gia văn học Việt Nam hiện đại. Nxb Đại học Sư phạm. 2005;

Quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh. Nxb Khoa học xã

hội. 2006

- Nguyễn Tuân: Con đường Nguyễn Tuân đi đến bút ký chống Mỹ. Nhà

văn tư tưởng và phong cách. (Sđd); Tuyển tập Nguyễn Tuân. Nxb Văn học 1981,

1982; Nguyễn Tuân toàn tập – Nxb Văn học 2000; Nguyễn Tuân–Những bài

giảng về tác gia văn học Việt Nam hiện đại. (Sđd)

- Xuân Diệu: Tuyển tập văn xuôi Xuân Diệu. Nxb Văn học 1987; Xuân

Diệu và niềm khát khao giao cảm với đời - Con đường đi vào thế giới nghệ thuật

của nhà văn Nxb Giáo dục. 1994; Xuân Diệu – thơ, Xuân Diệu văn xuôi - Nhà

văn Việt Nam hiện đại. Chân dung và phong cách. Nxb Trẻ -2000; Xuân Diệu -

Những bài giảng về tác gia văn học Việt Nam hiện đại. (Sđd)

- Vũ Trọng Phụng: Mâu thuẫn cơ bản trong thế giới quan và trong sáng

tác của Vũ Trọng Phụng. Nhà văn, tư tưởng và phong cách (Sđd); Tuyển Tập Vũ

Trọng Phụng – Nxb Văn học 1982; Vũ Trọng Phụng toàn tập – Nxb Hội nhà

văn. 1999; Vũ Trọng Phụng - Những bài giảng về tác gia văn học Việt Nam hiện

đại. (Sđd)

- Nguyên Hồng: Đọc Cửa biển, nghĩ về Nguyên Hồng và tiểu thuyết –

Nhà văn, tư tưởng và phong cách (Sđd); Nguyên Hồng, con người và sự nghiệp.

Nxb Hải Phòng. 1988; Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng, Mấy lần được gặp

Nguyên Hồng – Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn (Sđd);

Nguyên Hồng - Những bài giảng về tác gia văn học Việt Nam hiện đại. (Sđd)

- Nam Cao: Nhớ Nam Cao, nghĩ về mấy bài học sáng tác của anh. Nhà

văn, tư tưởng và phong cách.(Sđd); Cái đói và miếng ăn trong truyện Nam Cao

- Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn (Sđd). Chủ nghĩa hiện thực

Nam Cao - Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách (Sđd); Nam

Cao - Những bài giảng về tác gia văn học Việt Nam hiện đại (Sđd).

B.Phê bình văn học

Bài phê bình đầu tiên của tôi, như đã nói, là bài Con đường Nguyễn Tuân

đi đến bút ký chống Mỹ (1968). Bài này lập tức bị coi là có vấn đề. Thế mới biết,

phê bình là một địa hạt nóng bỏng luôn gắn liền với thời sự, với chính trị.

Trong quá trình viết phê bình, tôi có một số suy nghĩ sau đây:

1. Sáng tác khó hay phê bình khó?

Xét lịch sử phê bình văn học ở nước ta, cũng như ở một số nước khác như

Pháp, Nga, thấy có hiện tượng này: Số nhà sáng tác lớn bao giờ cũng nhiều gấp

bội những nhà phê bình lớn. Văn học Pháp, văn học Nga thế kỷ XIX là như vậy.

ở Việt Nam, phong trào Thơ mới lãng mạn (1932 – 1945) đẻ ra khoảng sáu, bảy

nhà thơ xuất sắc: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Nguyễn Bính,

Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương… Nhưng nhà phê bình Thơ mới đạt được

tầm cỡ ấy chỉ có một Hoài Thanh.

Vì sao vây?

Người ta thường nói sáng tác thì khó, phê bình thì dễ. Tôi không nghĩ thế.

Viết dở thì sáng tác hay phê bình đều dễ cả. Nhưng viết cho hay thì phê bình

không dễ lắm đâu. Sáng tác chỉ cần có năng khiếu, có trải nghiệm và cảm hứng.

Cho nên một đứa trẻ 7, 8 tuổi có thể làm thơ rất hay. Nhưng chưa từng có một

nhà phê bình nào ở tuổi thiếu niên cả. Không thể có thần đồng trong phê bình

văn học.

Bởi vì một nhà phê bình phải có cùng một lúc hai năng lực. Một là phải

có khả năng phản ứng nhạy bén với cái đẹp về tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ. Đây

là chuyện năng khiếu. Hai là phải có trình độ văn hoá cao, tư duy lôgích tốt. Cho

nên một nhà nghiên cứu lịch sử phê bình Pháp nói rất đúng: phê bình ra đời và

phát triển cùng với sự phát triển của báo chí và ngành đại học.

Vì phê bình phải làm hai nhiệm vụ: một là phát hiện và diễn tả những khái

niệm, những phạm trù, những quy luật – một yêu cầu của khoa học; hai là phải

cảm nhận được và chuyển tải được tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ chứa đựng trong

văn thơ.

Ngoài ra nhà phê bình phải đọc nhiều văn chương Đông Tây Kim cổ để so

sánh đối chiếu, và để thực sự hiểu được văn thơ. Xuân Diệu nói, thơ là gì rất khó

định nghĩa được thấu đáo. cứ phải đọc nhiều thơ hay thì mới hiểu được.

Cho nên Kim Lân, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Anh Thơ,

Trần Đăng Khoa có thể sáng tác tốt tuy chỉ học hết cấp một. Nhưng phê bình thì

phải là Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên - đây là chỉ

nói các nhà sáng tác viết phê bình.

2. Về cơ chế cảm thụ văn chương

Như vậy là một yêu cầu đối với nhà phê bình là phải có khả năng thẩm

văn tinh nhạy. Làm thế nào để có được khả này? Không có một lý thuyết nào

học xong, có thể có được khả năng ấy. Chuyện thần bí không hiểu được sao?

Tôi không nghĩ như vậy, và cố gắng làm sáng tỏ cái gọi là “cơ chế cảm thụ văn

chương”.

Dựa vào kinh nghiệm của Hoài Thanh, một số bài bình thơ của Xuân

Diệu, của bản thân mình và ý kiến của một số cây bút nước ngoài, tôi đề xuất

khái niệm trường liên tưởng thẩm mỹ (champ esthétique)

Mỗi một người thẩm văn đều có sẵn trong tâm hồn mình cái gọi là trường

liên tưởng thẩm mỹ được tạo nên một cách tự phát bằng những ấn tượng thẩm

mỹ do rất nhiều nguồn cung cấp: kinh nghiệm sống, cảnh thiên nhiên, lời ru của

mẹ, tình huống xã hội từng gặp, tiếng hát từng nghe, sách vở tranh ảnh từng

xem..vv… tích luỹ từ lúc còn nằm trong nôi, thậm chí từ trong bụng mẹ.

Khi đứng trước một đối tượng thẩm mỹ, sự rung cảm của người ta diễn ra

do hình thành một loạt liên tưởng giữa những yếu tố nào đấy của tác phẩm nghệ

thuật với những ấn tượng phù hợp với chúng trong trường thẩm mỹ của người

thưởng thức nghệ thuật. Người có năng lực thẩm văn tốt là người có trường liên

tưởng thẩm mỹ phong phú. Người thẩm văn tồi là người trường liên tưởng thẩm

mỹ nghèo nàn.(1)

(1) Những suy nghĩ này của tôi càng được củng cố khi tôi đọc được những ý kiến sau đây:

“Bất cứ tư tưởng nào cũng chỉ có thể được con người lĩnh hội và thông hiểu khi tư tưởng đó

đã đi vào cái vốn kinh nghiệm bản thân của anh ta” Sêtrênốp (nhà sinh lý học thần kinh Nga).

“Chính nhờ sự hoà hợp nhất trí giữa kinh nghiệm bạn đọc với kinh nghiệm nghệ sĩ, mà có

được chân lý nghệ thuật, có được sức thuyết phục đặc biệt của nghệ thuật” M.Gorki.

Nhưng không phải là cứ đi nhiều, đọc nhiều, sống lâu là khắc có trường

thẩm mỹ phong phú. Điều quyết định là phải sống sâu sắc những điều mình

quan sát, trải nghiệm, những điều mình đọc, mình nghe. Sống hời hợt thì dù đi

khắp thế giới, đọc đủ thứ trên đời, sống tới trăm tuổi cũng không có được trường

liên tưởng thẩm mỹ tử tế.

Người ta thường nói, đối với một tác phẩm nghệ thuật, có thể có nhiều

cách cảm nhận rất khác nhau. Nhưng vì sao như thế. Tôi cho đó là vì mỗi người

có một trường liên tưởng thẩm mỹ riêng không ai giống ai cả. Từ đó tôi suy ra

phong cách phê bình khác nhau của các cây bút phê bình. Lối phê bình của Chế

Lan Viên rất uyên bác, vì trường liên tưởng thẩm mỹ của ông thiên về sách vở.

Lối phê bình của Hoài Thanh rất giản dị dễ hiểu vì trường liên tưởng thẩm mỹ

của ông chủ yếu là kinh nghiệm sống - đây là con người sống rất sâu sắc cuộc

sống của mình. Nguyễn Tuân dễ xúc động trước những gì gây ấn tượng mãnh

liệt như thơ Tú Xương, Hồ Xuân Hương, văn Dostoievsky..vv… Xuân Diệu thì

đọc thơ dù là thơ của Nguyễn Trãi hay cụ Đồ Chiểu cũng phát hiện ngay nội

dung tình tứ, nội dung có tính sắc dục của tác phẩm(1)...vv… Tất cả đều do

trường liên tưởng thẩm mỹ khác nhau tạo nên mà thôi.

Đấy, đại khái như thế gọi là “cơ chế cảm thụ tác phẩm văn chương”. Như

vậy năng lực này không dạy được bằng vài bài học lý thuyết, nhưng có thể bồi

dưỡng được, tất nhiên là rất lâu dài.

3. Về khái niệm “Sang” trong đánh giá văn học.

Trong phê bình, người ta thường đánh giá tác phẩm theo tiêu chí đúng sai,

hay dở. Tôi thấy cần thêm tiêu chí sang và hèn nữa. Tôi nảy ra ý kiến này khi

đọc trong cuốn Đường cách mệnh của Nguyễn ái Quốc một câu ngạn ngữ Trung

Hoa: “Sư tử bắt thỏ cũng dùng hết sức”. Thỏ thì cần gì đến sức sư tử? Cầy cáo

cũng bắt được. Nhưng sư tử bắt thỏ nó cũng dùng hết sức, bắt rất đẹp, rất oai

phong lẫm liệt, rất sang.

Liên hệ sang chuyện viết văn, tôi cho có loại văn rất sang, loại văn sư tử,

và loại văn rất hèn, sặc mùi cầy cáo. Sự khác nhau ở đây là do tư thế tư tưởng, tư

thế văn hoá khác nhau. Điều này thực ra chỉ cảm thấy chứ nói ra cho rành mạch

thì rất khó. Từ ý nghĩ nói trên, tôi viết bài “Về khái niệm sang trong đánh giá

văn học” (Văn học và tuổi trẻ. 1996)

4. Về các kiểu bài phê bình.

Về kiểu bài phê bình, tôi phân biệt ba loại. Cũng chả có căn cứ gì rõ ràng.

Hình như những cây bút phê bình lớn khi phê bình không chỉ khuôn vào có độc

một tác phẩm là đối tượng phê bình, mà thường nói rộng ra về văn chương nghệ

thuật, về đạo lý sống ở đời. Như Thánh Thán phê bình Tây Sương Ký, ông bàn,

“Người đọc tiểu thuyết là một người đọc yên lặng, hay nghĩ ngợi, suy xét, và tìm trong tâm lý

các nhân vật của truyện những tư tưởng và ý nghĩ của chính mình” Thạch Lam.

(1) Trong một cuộc hội thảo về Nguyễn Trãi, Xuân Diệu nói: “ Nguyễn Trãi còn vĩ đại ở chỗ

mê gái” ông tán về cách đọc văn, về tư thế người đọc văn, về khung cảnh và không khí

nơi đọc văn, rồi lại nói rộng ra về rất nhiều sự khoái trên đời chẳng liên quan gì

đến văn chương cả. Nghĩ như vậy, tôi đưa ra ba loại bài phê bình:

Một là chỉ giới hạn trong việc nhận xét chỗ hay chỗ dở của tác phẩm, đối

tượng của bài phê bình.

Hai là từ một đối tượng cụ thể ấy, bàn rộng ra về văn chương nghệ thuật

nói chung.

Ba là từ phê bình tác phẩm văn học, xoay hẳn ra nói chuyện với đời về

đạo lý làm người.

Tôi đã thử viết một bài theo kiểu thứ ba này: bài Lại đọc chữ người tử tù

của Nguyễn Tuân ( Văn nghệ 1995)

5. Chân dung văn học

Tôi vốn rất thích những bài chân dung văn học của Gorki, Pautovski,

S.Zweig và của Nguyễn Tuân (viết về Tản Đà, Vũ Trọng Phụng). Cái thú của

đọc chân dung là như được tiếp xúc với người thật việc thật. Mà người thật ở

đây là những tài năng. Tôi gọi người tài là nhân tài, người đẹp là thiên tài (tài

của trời đất, của tạo hoá). Người tài, người đẹp bao giờ cũng hấp dẫn.

Tôi có cái may là được tiếp xúc với rất nhiều người tài như Nguyễn Tuân,

Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Nguyễn Minh

Châu, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc. Tôi thấy phải dựng chân dung họ cho mọi

người đều được thấy.

Có nhiều người đặt tên cho bài viết của mình là chân dung văn học nhưng

không phải vậy. Có bài chỉ là một nghiên cứu về sự nghiệp của một nhà văn; có

trường hợp chỉ là chép lại những cuộc phỏng vấn đơn giản, có bài chỉ nói về

con người ngoài đời của nhà văn mà không cho thấy cái văn của ông ta ở đâu cả.

Chân dung văn học là một thứ bút ký người thật việc thật. Đúng thế! Nhưng

người thật ở đây phải là nhà văn. Đọc xong ta phải hiểu được cái văn của ông ta

hay dở ra sao chứ. Vì chân dung văn học cũng là một dạng của phê bình văn học

kia mà. Mà đấy mới là điều quan trọng nhất, có ý nghĩa nhất và khó nhất.

Tôi cho rằng viết chân dung văn học trước hết phải nắm được hồn cốt của

văn chương nhà văn. Nhưng lại phải dựng con người của ông ta từ những chi tiết

ngoài đời. Viết về con người thực ngoài đời mà khiến người ta hiểu được văn

chương của nhà văn mới gọi là chân dung văn học đích thực. Tóm lại phải phát

hiện ra được sự thống nhất giữa văn và người của nhà văn mới viết được chân

dung văn học. Tất nhiên là sự thống nhất ở chiều sâu chứ không phải ở bề ngoài,

bề nổi. Nhìn bề ngoài nhiều khi thấy văn và người chả ăn nhập gì với nhau cả.

Thí dụ Vũ Trọng Phụng sống rất thiếu thốn nhưng lại viết rất hay về thế giới của

những đại địa chủ, đại tư sản; tác phong sinh hoạt rất mực thước, rất đạo đức,

nhưng lại viết rất hay về bọn lưu manh, đểu giả, dâm đãng, bất nhân… Sự thống

nhất giữa văn và người ở đây phải tìm ở thái độ phẫn uất mãnh liệt của nhà văn

đối với cái xã hội vô nghĩa lý, chó đểu… Đây là chất dính, là chất nam châm

riêng trong tâm hồn Vũ Trọng Phụng, khiến ông bắt lấy rất nhạy bén cái phía

chó đểu, vô nghĩa lý của “loài người”.

Xuất phát từ quan niệm ấy, tôi đã viết một loạt chân dung các nhà văn như

Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Hoài Thanh,

Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu, Chính Hữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm,

Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Trần Đăng Khoa…

Có nhà văn tôi tiếp xúc rất nhiều nhưng không viết được chân dung vì

chưa nghiên cứu văn của ông ta, chưa hiểu được thấu đáo văn của ông ta.

Trong đời tôi, có một vụ gặt hái rất may mắn về chân dung văn học. ấy là

năm 2000. Tôi viết đầy hào hứng và rất nhanh gọn một loạt chín bức chân dung,

bức nào cũng khá. Chính đối tượng tôi dựng chân dung, tức nhà văn, đều cho tôi

đã hiểu các ông, dù tôi nói cả phía nhược điểm, thậm chí phía nhếch nhác của

các vị.

Trong số những bài chân dung, có một bài tôi lấy làm đắc ý, ấy là bài:

“Những phiên toà của Dương Thu Hương”. Bài viết từ những năm 80 của thế kỷ

trước, nhưng mãi gần đây mới được công bố trên tờ báo điện tử của Phạm Thị

Hoài.

Văn Dương Thu Hương đúng là văn kết án và trừng phạt nhân vật của

mình. Đó là tư tưởng và linh hồn của những hình ảnh, những dòng chữ của nhà

văn nữ này.

V. Biên soạn chương trình và sách giáo khoa PTTH

Như đã nói, năm 1989, 1990 tôi được giao chủ biên biên soạn chương

trình và sách giáo khoa cải cách giáo dục (ccgd) môn văn ở PTTH.

Chương trình đã được thực hiện hơn 10 năm rồi nên trở thành quen thuộc.

Thực ra lúc bắt đầu được công bố nó là một cuộc cách mạng quan trọng

trong ngành giáo dục và cả trong đời sống văn học đất nước, đặc biệt là chung

quanh việc tuyển lựa các tác phẩm văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến

1975.

Với tư tưởng chỉ đạo: chương trình văn, sách giáo khoa văn trước hết phải

là chương trình văn, sách giáo khoa văn đã. Nghĩa là phải dạy trước hết nghệ

thuật ngôn từ chứ không phải dạy chính trị, dạy tư tưởng.

Vì thế tôi đã đưa vào chương trình một loạt tác phẩm có giá trị nghệ thuật

của Tản Đà (Thề non nước), Trần Tuấn Khải (Gánh nước đêm), Hồ Chí Minh

(Vi hành, Mộ, Tảo giải, Vãn cảnh, Tân xuất ngục học đăng sơn, Nguyên Tiêu,

Báo tiệp), Tố Hữu (Tâm tư trong tù, Kính gửi cụ Nguyễn Du), Xuân Diệu (Đây

mùa thu tới, Thơ duyên, Vội vàng, Nguyệt cầm), Huy Cận (Tràng giang), Hàn

Mạc Tử (Đây thôn Vĩ Dạ), Thâm Tâm (Tống biệt hành), Nguyễn Tuân (Chữ

người tử tù), Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Thạch Lam (Hai đứa trẻ), Hoàng Cầm

(Bên kia sông Đuống), Quang Dũng (Tây tiến), Nguyễn Đình Thi (Đất nước),

Nam Cao (Chí Phèo, Đời thừa, Đôi mắt), Kim Lân (Vợ nhặt), Nguyễn Thi

(Những đứa con trong gia đình), Nguyễn Minh Châu (Mảnh trăng cuối rừng),

Nguyên Ngọc (Rừng Xà nu), Nguyễn Khải (Mùa lạc)..vv…

Về phương diện đảm bảo chất văn chương thì tuy chưa thật mỹ mãn,

nhưng có thể nói không gì đáp ứng tốt hơn hệ thống các tác phẩm trên – tất

nhiên còn phải phối hợp với tiêu chí giáo dục tư tưởng phù hợp với lứa tuổi học

sinh.

Bây giờ thì ai cũng thấy hợp lý không có gì phải tranh cãi. Nhưng khi mới

được công bố, nó đã bị không ít người chỉ trích gay gắt. Nào là đưa nhiều thơ

lãng mạn quá, nào là loại Tuyên ngôn độc lập ra khỏi chương trình giảng văn

nghệ thuật, nào là sao lại chọn Hai đứa trẻ mà không chọn Nhà mẹ Lê của

Thạch Lam, sao lại tuyển Toả nhị kiều của Xuân Diệu..vv…

Từ năm 2000, chương trình môn văn PTTH được biên soạn lại lần thứ

hai, hầu hết những tác phẩm văn học Việt Nam trong chương trình ccgd vẫn

được đưa tiếp vào chương trình mới.

Tôi cũng được giao làm chủ biên biên soạn Sách giáo khoa môn Văn

ccgd, trong đó tôi là tác giả của nhiều bài quan trọng như các bài: Tổng quan về

văn học Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử; bài Khái quát văn học Việt Nam từ

đầu thế kỷ XX đến 1945; bài Khái quát văn học Việt Nam giai đoạn 1945 –

1975; các bài về những tác gia lớn như Hồ Chí Minh, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân,

Nam Cao.

Những bài này từng trải qua sóng gió của dư luận, có khi nổi lên rất dữ

dội, đến nỗi Ban văn hoá tư tưởng phải xông vào can thiệp và quốc hội phải lên

tiếng “báo động”

Tình trạng này, theo tôi, chỉ có thể xẩy ra một cách ồn ào như thế trong

hoàn cảnh một đất nước dân trí và trình độ của những người quản lý còn quá

thấp mà thôi.

Vì thế đối với giới khoa học cũng như đối với hầu hết các giáo viên

PTTH, tình trạng trên không gây ra phản ứng gì đáng kể. Nếu có thì chỉ là phản

ứng ngược lại .

*

Đầu năm 2004, tôi được mời sang Pháp. Thư viện quốc gia Paris tổ chức

một cuộc hội thảo khoa học với chủ đề: Sự dịch thuật văn học Pháp và ảnh

hưởng của nó đối với công cuộc hiện đại hoá của văn học các nước ở Viễn đông:

Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Việt Nam. Nội dung là thế, nhưng người Pháp

thích diễn đạt một cách bay bướm hoa mỹ: Colloque Chine, Japon, Corée, Việt

Nam: une aventure des lettres Francaises.

Việt Nam, họ chỉ mời một người. Nhưng may sao cùng chuyến máy bay

Hà Nội – Paris của tôi hôm ấy, có anh Đinh Quang Báo, hiệu trưởng Đại học Sư

phạm Hà Nội, tình cờ là bạn đồng hành.

Tới Paris, anh Đặng Tiến giới thiệu tôi đến ở nhà một cô học trò của anh

ở Paris tên là Marine. Nhưng ở đó được vài hôm thì chị Thuỵ Khuê đón tôi đến

ở nhà chị. Tôi cũng về chơi nhà anh Đặng Tiến vài hôm ở Orléans trước khi dự

cuộc hội thảo.

Để chuẩn bị viết tham luận gửi cuộc hội thảo, tôi ráo riết đọc sách báo văn

học xuất bản đầu thế kỷ XX. Tôi nhận ra rằng, tờ tạp chí Nam Phong và ông chủ

nhiệm, kiêm chủ bút Phạm Quỳnh có công lao rất lớn đối với việc xây dựng nền

văn học hiện đại ở nước ta. Phạm Quỳnh quả là một người yêu nước thực sự và

một nhà văn hoá lớn – rất tiếc đã bị thủ tiêu một cách oan uổng.

Công lao lớn của Nam Phong và Phạm Quỳnh là:

1. Định hướng sáng suốt và đúng đắn cho công cuộc hiện đại hoá văn học

nước nhà: Cách tân văn học theo mô hình phương Tây hiện đại trên cơ sở phát

huy truyền thống văn học của dân tộc gọi là bảo tồn “quốc hồn quốc tuý”,

“Đông Tây kết hợp”, “thổ nạp á Âu”. Đặc biệt chú trọng xây dựng nền văn xuôi

quốc ngữ, nhất là thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn hiện đại.

2. Đào tạo nhà văn Việt Nam hiện đại theo định hướng trên. Phải có đủ tài

năng, uy tín và tâm huyết như Phạm Quỳnh mới có thể làm được công việc này:

tập hợp được những nhà Tây học số một, đủ sức phiên dịch và giới thiệu các thể

loại văn học phương Tây hiện đại, đồng thời lôi cuốn được những nhà Hán học,

cổ học hàng đầu của nước ta để phiên dịch, phiên âm, biên soạn, chú giải các tác

phẩm văn học cổ Việt Nam, từ văn bác học đến văn dân gian.

Riêng Phạm Quỳnh thì làm cả hai việc nói trên, vì ông vừa thạo Pháp Văn

vừa thông Hán học.

Nền văn học nước ta hôm nay cũng đang đòi hỏi một cách bức xúc phải

đổi mới để theo kịp thời đại. Chúng ta đang rất cần một Phạm Quỳnh khác, tất

nhiên với yêu cầu cao hơn. Thiếu một người như vậy, công cuộc đổi mới chỉ có

tính chất tự phát, hướng đi chưa xác định.

Cuộc hội thảo chỉ diễn ra trong ba ngày, nhưng tôi ở lại Paris khoảng một

tháng. Đầu tháng tư, tôi sang Berlin vài hôm theo lời mời của Phạm Thị Hoài,

sau đó, quay lại Paris và về nước.

Trong thời gian ở Pháp, tôi có vài nhận xét nhỏ:

Một là, tuy lần đầu tiên biết Paris mà sao cứ thấy có vẻ đã quen thuộc. Có

lẽ vì cách qui hoạch đô thị và lối kiến trúc nhà cửa ở Hà Nội vốn rập khuôn theo

mô hình của Pháp - vì chính là do người Pháp xây dựng chứ ai! Mặt khác những

trang sử của nước Pháp mà tôi được học trên ghế nhà trường Pháp – Việt, những

tranh ảnh về cảnh và người trên đất Pháp mà tôi được xem trong từ điển

Larousse, rồi những cuốn tiểu thuyết Pháp mà tôi được đọc viết về những nhân

vật mà môi trường hoạt động là Paris, là vườn Luxembourg, rừng Boulogne,

dòng sông Seine, nhà thờ Đức Bà, đại lộ Champs Elysée, quartier

Latin…vv…khiến tôi, lần đầu sang Pháp, mà tưởng như đã thấy cả rồi… Vâng,

tôi đến Paris lần đầu tiên mà cứ thấy không mấy xa lạ.

Hai là những Việt Kiều ở Pháp ( ở Đức cũng thế), hoặc tôi chỉ quen sơ sơ,

hoặc hoàn toàn chưa gặp bao giờ, đều tỏ ra thân mật với tôi. Họ ân cần và chu

đáo giúp tôi đi thăm các thắng cảnh, các di tích văn hoá lịch sử, tháp Eiffel, bảo

tàng Louvres…, khi đến thì tiếp đón niềm nở, khi về thì tiễn đưa đến tận ga tàu,

sân bay, chờ cho tầu chuyển bánh, máy bay cất cánh mới ra về. Tôi hiểu đấy

không phải chỉ là tình cảm đối với cá nhân tôi, mà là đối với một người đồng

hương, là tình dân tộc, tình yêu nước, là lòng nhớ nước, thương nước của đồng

bào xa Tổ quốc luôn hướng về quê hương. Có một thời, chúng ta không biết trân

trọng và phát huy tình cảm tốt đẹp đó ở họ mà cứ muốn đẩy họ ra xa bằng sự

phân biệt thế giới quan, hệ tư tưởng, làm như chỉ có người cộng sản mới biết

yêu nước thương nòi thật sự.

*

Tổng kết lại, những thành tựu của tôi trong nghiên cứu và phê bình văn

học hơn 40 năm tập trung chủ yếu ở các tác phẩm:

1.Nhà văn, tư tưởng và phong cách (1979)

2.Mấy vấn đề về quan điểm và phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ

Chí Minh (1981)

3.Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn (1994)

4.Vũ Trọng Phụng toàn tập (1999)

5.Nguyễn Tuân toàn tập (2000)

6.Nhà văn Việt Nam hiện đại, Chân dung và phong cách (2000)

7.Những bài giảng về tác gia văn học Việt Nam hiện đại (2005)

8.Tuyển tập Nguyễn Đăng Mạnh (2006)

9.Tuyển tập phê bình văn học (2008)

10.Các cuốn giáo trình, giáo khoa môn văn và các sách phục vụ việc dạy

và học văn ở PTTH (Phần Văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX)


Phần ba - Tư liệu riêng về một số nhà văn Việt nam hiện đại

Nghiên cứu, phê bình văn học, tôi rất thích tiếp xúc với giới sáng tác.

Người tài, người đẹp bao giờ cũng có sức hấp dẫn đối với tôi.

Người tài, người đẹp, người tốt là những của quý hiếm trên đời, phải

biết nể trọng. Ai không biết nể trọng ba đối tượng ấy tôi cho là kẻ thô bỉ, thiếu

văn hoá.

Tôi tin ở người sáng tác – tất nhiên phải là những tài năng thật sự – hơn

là giới lý luận phê bình. Có lẽ vì khi tôi bắt đầu gia nhập vào giới nghiên cứu

phê bình văn học (1960) thì nhiều ông tiêu biểu, hay nói đúng hơn, được coi là

chính thống trong giới này, dường như đều không có tín nhiệm gì đối với những

người sáng tác: Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Hà Xuân

Trường, Thành Duy, Thế Toàn, Đông Hoài, Hoàng Xuân Nhị... Lê Đình Ky,

Nguyễn Văn Hạnh có khá hơn, thì đều bị đánh – nghĩa là phi chính thống. Ngay

Hoài Thanh cũng không được ưa. Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan

Viên, Nguyễn Đình Thi đều ghét Hoài Thanh. Đến như Xích Điểu (Trần Minh

Tước) mà cũng nói giọng giễu cợt: “Hoài Thanh thấy Tố Hữu làm bài thơ nào

cũng: Hay lắm! Hay lắm!”- Ông vừa nói vừa vung tay.

Nguyên nhân sự chia rẽ giữa phê bình và sáng tác có lẽ bắt nguồn từ ý

kiến của Trường Chinh, cho rằng Đảng lãnh đạo văn nghệ thông qua phê bình.

Vậy là biến phê bình thành cán bộ tuyên huấn rồi còn gì! Và phê bình đóng vai

lãnh đạo, tự đặt mình lên trên sáng tác, cao giọng dạy dỗ sáng tác.

Ngoài ra, hồi ấy, tôi thấy lí luận có nhiều điều chẳng ăn nhập gì với

thực tế của văn học. Nghĩa là hết sức giáo điều. Vì thế tôi chủ trương phải tiếp

xúc trực tiếp với giới sáng tác. Từ kinh nghiệm thực tế của họ mà khái quát lên.

Tất nhiên cũng phải đọc lý luận, nhưng phải từ thực tế mà tiếp nhận lý luận.

Lúc đầu tiếp xúc với nhà văn, tôi chưa có ý thức tích luỹ tư liệu, nên

không ghi chép lại cẩn thận. Ngày nay, chỗ nhớ, chỗ quên, rất tiếc. Về sau thấy

có ích cho việc viết lách của mình, nhất là viết chân dung, tôi bèn ghi lại kín đặc

gần 40 cuốn sổ tay. Những nhà văn tôi không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp thì

tôi tìm gặp những người từng có quan hệ với nhà văn ấy để khai thác. Như

trường hợp Hồ Chí Minh hay các nhà văn đã mất như Vũ Trọng Phụng, Nam

Cao...

Những tư liệu này tôi đã sử dụng một phần để viết những bài chân

dung. Khi viết, vì lý do tế nhị, nhiều trường hợp tôi phải dấu tên người này,

người khác. Ngoài ra có những tư liệu quá tục tĩu, không sạch sẽ, tôi không dám

dùng, hay nếu dùng thì cũng phải gột rửa đi.

Bây giờ tôi cứ bày tất cả ra. Tư liệu thì chỉ cần xác thực. Ai lại đi phân

biệt tư liệu thô và tư liệu tinh, tư liệu bẩn và tư liệu sạch!

Chắc có người thắc mắc, những tư liệu ấy thì có ý nghĩa gì? Tôi cho

rằng có ý nghĩa hay không là tuỳ ở người biết sử dụng.

Vâng, tôi cứ bầy ra đây những ghi chép ở dạng thô mộc nhất, không gọt

rũa, tắm rửa gì hết, chỉ sắp xếp lại đôi chút cho mạch lạc mà thôi.

Tôi cứ trình bầy lần lượt từng nhân vật một. Tôi sẽ không nói lại những

điều người khác đã viết ra, như Tô Hoài viết về Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng,

Xuân Diệu... trong Cát bụi chân ai?, như Vũ Bằng viết về Nguyễn Tuân, Nam

Cao... trong Bốn mươi năm nói láo, như Trần Dân Tiên viết về Cụ Hồ trong

Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, hay Vũ Thư Hiên viết

về Cụ Hồ trong Đêm giữa ban ngày...

Tôi chỉ viết những điều tôi trực tiếp nghe được, biết được- nghĩa là

muốn đây là những tư liệu riêng của tôi.

Đối với mỗi người, tôi viết nhiều hay ít, không phải do thái độ khinh

trọng khác nhau, mà đơn giản chỉ là tôi biết đến đâu thì viết đến đấy. Có người

tôi biết nhiều, có người tôi biết ít. Cũng có trường hợp, tôi biết không ít, nhưng

những điều tôi biết, tôi đã viết cả ra rồi trong một bài chân dung nào đấy, nên

không còn gì để viết thêm nữa. Đấy là lý do họ không có mặt trong hồi ký này,

như trường hợp Nguyễn Minh Châu, Chế Lan Viên, Quang Dũng, Nguyễn

Lương Ngọc.


(còn tiếp)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, April 10, 201112:00 AM(View: 21736)
Tình đầu của mẹ tôi là ông Dũ, một thầy giáo làng lưu lạc vô Nam từ Ngọc Hà, nói giọng miền Tây rặt địa phương, vừa dạy học vừa kiếm thêm thu nhập bằng nghề buôn đất ruộng. Mẹ tôi tên Lang. Dũ - Lang. Hai ông bà có đứa con gái đầu lòng da đen nhẻm, được đặt tên Lãng Du
Thursday, March 31, 201112:00 AM(View: 16531)
Chiều nay, trong cuộc họp, trước mặt quan khách, Phan Chấn phê bình tôi là đọc bản thảo không kĩ. Có phải là hai lần ông gặp Phan Chấn buổi sáng để ông mớm cho Phan Chấn lên giọng phê bình tôi trong cuộc họp buổi chiều, để làm giảm uy tín tôi trước mặt quan khách…
Monday, March 21, 201112:00 AM(View: 16209)
Còn khoảng một cây số nửa xe bắt đầu vào thị trấn. Con đường như thấp dần xuống với những thân cây vươn cao lên.
Saturday, March 12, 201112:00 AM(View: 11116)
Tiếng chân của Huyền không thay đổi từ bao nhiêu năm nay , nghe không lẫn được. Nặng. Tất tưởi. Lật đật. Gót chân chứ không phải gót ngọc. Cái tướng Huyền vất vả. Từ một chuyển dáng nhỏ nhặt. Mỗi bước đi của Huyền đều lay chuyển theo nó rất nhiều không khí. Và chỉ cần dõi theo những bước chân nó từ góc này tới góc nọ , di chuyển tới đâu , tôi cũng đã biết Huyền đang làm những gì.
Friday, March 4, 201112:00 AM(View: 16484)
Các đội công tác vùng đồng bằng hạ lưu sông Hồng kéo về tổng kết đợt ở huyện lỵ, đông có đến cả nghìn con người. Suốt tháng triền miên nghe kể thành tích và những anh những chị rễ, chuỗi ở xã lấy lên nay đã thành cán bộ đội vừa khóc vừa nói về cuộc đời bị đày đoạ xưa kia.