DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,143,447

Hồi Ký Nguyên Đăng Mạnh (tiếp theo)

Saturday, January 15, 201112:00 AM(View: 10306)
Hồi Ký Nguyên Đăng Mạnh (tiếp theo)


Hồi Ký Nguyên Đăng Mạnh


Chương VII: Hồ Chí Minh


Tôi được tận mắt thấy Hồ Chí Minh hai lần.

Lần thứ nhất ngay sau Cách mạng tháng Tám. Sau cuộc khởi nghĩa

tháng tám 1945, bố tôi đưa cả gia đình từ Thái Bình về Thị xã Bắc Ninh. Tôi

tiếp tục học cấp II ở trường Hàn Thuyên.

Một hôm được tin Hồ về Bắc Ninh. Tôi và mấy bạn học được

nhà trường cử đi đón. Mỗi đứa được phát một lá cờ nhỏ bằng giấy, hễ Hồ

đến thì vẫy cờ và hô khẩu hiệu chào mừng.

Chúng tôi đứng xếp hàng trước cửa phòng thông tin thị xã, nơi

Hồ Chí Minh tới.

Đợi một lúc thì có một chiếc xe ôtô con đỗ ngay mép đường, trước cửa

phòng thông tin. Tôi thấy có hai anh cảnh vệ vọt ra trước, cầm lăm lăm tiểu

liên, nhẩy lên đứng trên hai cái trụ của bức tường hoa thấp trước phòng thông

tin. Hai anh lia mũi súng sang trái, sang phải, vẻ mặt căng thẳng.

Hồ Chí Minh bước ra sau. Quần áo kaki. Giầy vải. Cầm batoong. Người

gầy, đen. Râu tóc cũng đen. Ông đứng lại ngay sát chúng tôi, nhưng không để ý

gì đến bọn trẻ con này cả, tuy chúng tôi ra sức phất cờ và hô “Hồ chủ tịch muôn

năm!”

Đứng lại một lát, liếc nhìn chung quanh một chút, mặt đầy cảnh giác,

rồi ông đi rất nhanh vào phòng thông tin. Lưng rất thẳng, gầy nhưng cứng cáp,

cử chỉ lanh lẹn – ấn tượng của tôi về Hồ Chí Minh là như thế.

Hồi đó, ở Bắc Ninh, Việt Nam Quốc dân đảng hoạt động khá mạnh. Đã

có những cuộc đụng độ vũ trang giữa lính quốc dân đảng và Vệ quốc đoàn ở

Thị Cầu. Chắc vì thế nên Ông Hồ và các vệ sĩ của ông rất cảnh giác.

Lần thứ hai tôi được thấy Hồ là vào khoảng 1961, 1962 gì đó,

hồi tôi công tác ở trường Đại học Sư phạm Vinh.

Ông Hồ vào Vinh. Người ta tổ chức cho Ông gặp đồng bào ở một cái

sân vận động của thị xã.

Họ dựng một cái kỳ đài bằng tre – có vẻ thô sơ thôi. Ông Hồ đứng trên

đó với một số cán bộ Tỉnh. Lúc hô khẩu hiệu, ông cùng vung tay hô như mọi

người:

- Đảng lao động Việt Nam Muôn năm!

- Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà muôn năm!

Ông Hồ vung tay rất cao.

Nhưng đến khẩu hiệu thứ ba:

- Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

Ông Hồ cũng vung tay lên, nhưng chợt nhận ra họ hoan hô mình, vội

rụt tay xuống.

Tôi theo dõi không bỏ sót một cử chỉ nào của ông cụ hôm ấy.

Ông Hồ bắt đầu nói chuyện với đồng bào.

Hồ Chí Minh không hề tỏ ra là người hùng biện. Nói chậm, ngắn,

không lưu loát. Có chỗ lỡ miệng nói hớ, vội lảng sang ý khác. Tôi nhớ ông đang

nói dở một câu tục ngữ: “Thanh cậy thế, Nghệ cậy...” thì vội ngừng lại và lảng

sang ý khác. Có lẽ ông không muốn làm mất lòng người Nghệ Tĩnh chăng, vả

lại “cậy thần” là thần nào, thần Hồ Chí Minh à? Tôi chắc ông nghĩ thế nên

không nói tiếp câu ấy nữa.

Năm 1969, tôi chuyển ra công tác tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Hoàng Dung thay nhau làm tổ trưởng tổ Văn

học Việt Nam hiện đại. Các anh đều rất quan tâm đến việc nghiên cứu thơ văn

Hồ Chí Minh nên thường tổ chức cho chúng tôi gặp những người hiểu biết về

Hồ Chí Minh như Hoàng Văn Hoan, Lê Quảng Ba, hoạ sĩ Diệp Minh Châu, Vũ

Kỳ. Nhờ gặp các vị này, tôi được biết nhiều chuyện cụ thể về Ông Hồ, trước hết

là chung quanh sự kiện Ông Hồ bị bắt ở Quảng Tây, Trung Quốc và viết Nhật kí

trong tù.

Ông Hồ về PắcBó đầu năm 1941 ngày 28 – 01, tháng 8 – 1942 ông trở

lại Trung Quốc để vận động các cơ sở cách mạng bên ấy ủng hộ Việt Minh và

mua vũ khí về cho Việt Minh.

Ông Lê Quảng Ba cùng đi với Ông Hồ. Đến một địa điểm nào đó thuộc

Quảng Tây thì gặp núi lở, một tảng đá văng vào chân Lê Quảng Ba. Ba bị đau,

cố đi một cách khó khăn. Để động viên người đồng hành với mình, Ông Hồ vừa

đi vừa kể Chính phụ ngâm. Vừa kể vừa giảng. Té ra xa nước ba muơi năm, Hồ

Chí Minh vẫn thuộc lòng Chinh phụ ngâm.

Nhưng Lê Quảng Ba càng đi càng đau. Đến Tĩnh Tây thì phải nghỉ lại

tại một cơ sở . Hôm sau, Ông Hồ tiếp tục lên đường. Cùng đi với ông

có một thanh niên Trung Quốc tên là Dương Đào – tất nhiên cũng là một cơ sở

. Đến xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì bị bọn

Hương cảnh Trung Quốc bắt (ngày 27 – 8 – 1942).

Không phải Ông Hồ không có giấy tờ hợp lệ. Hồ Chí Minh không thể

sơ xuất như thế được. Hồ Chí Minh bị bắt vì khám trong người, cảnh sát Tầu

phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi ở PắcBó, có người đã thấy ông phơi

đôla cho khỏi ẩm mốc. Bây giờ qua Trung Quốc, ông đem đôla đi để mua vũ

khí cho Việt Minh.

Nhưng cảnh sát Tầu cho là Hán gian, là gián điệp của Nhật lúc bấy giờ

đang đánh Trung Quốc. Chỉ có gián điệp mới có đôla thôi chứ, người dân Trung

Quốc bình thường làm gì có lắm ngoại tệ thế!

Các vị lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ ở Cao Bằng như Trường Chinh, Võ

Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt... nghe tin Hồ bị bắt, hoảng quá, cho người

sang Tầu dò hỏi xem nó giam ở đâu, nhưng không tìm được. Qua mấy tháng bặt

tin tức, các vị bèn quyết định lật bài ngửa: điện cho Mạc Tư Khoa và cho Tưởng

Giới Thạch nói rõ đó là Nguyễn ái Quốc, thủ lĩnh Việt Minh, đề nghị thả ra.

Biết không phải là Hán gian, các nhà chức trách Trung Hoa bèn chuyển

Hồ Chí Minh sáng chế độ nhà tù khác. T


Chuyển sang chế độ nhà tù mới, Ông Hồ được tắm rửa, ăn uống khá

hơn, thỉnh thoảng được đi dạo quanh nhà lao, đặc biệt được cung cấp rất nhiều

sách báo. Tưởng Giới Thạch còn tặng ông một cuốn sách của mình. Điều này

ông Trần Dân Tiên đã có nói nhưng không giải thích lý do vì sao. Điều đáng

chú ý là, Nhật kí trong tù có tất cả 133 bài tuyệt cú thì bài Bốn tháng rồi là bài

thứ 103. Nghĩa là 10 tháng sau, tác giả chỉ làm thêm ba chục bài nữa thôi. Vì

sao vậy?

Nguyên bản Nhật kí trong tù đâu chỉ có thơ. ở cuối tập Nhật kí còn có

tới 20 trang ghi kín tin tức thời sự lấy từ các báo chí được cung cấp gọi là Độc

báo lan, và những thu hoạch từ các sách đã đọc gọi là Độc thư lan

Mới biết, viết bài Mở đầu (Khai quyển) Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh

đã nói thật lòng mình:

Ngâm thơ ta vốn không ham,

Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây;

Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,

Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.

Hồ Chí Minh được Tưởng thả về nước không phải ngẫu nhiên,

chắc ông phải khôn khéo thương lượng với chúng và với cánh Nguyễn Hải

Thần, Nguyễn Tường Tam như thế nào đó, nó mới thả cho về nước.

Hôm tiễn Hồ về nước, Hầu Chí Minh (Trong Nhật kí trong tù Hồ

gọi là Hầu chủ nhiệm (Chủ nhiệm cục chính trị đệ tứ chiến khu) cùng với

Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam có tổ chức một cuộc liên hoan hẳn hoi

Trong cuộc liên hoan, Hồ còn góp vui một tiết mục rất đặc biệt:

nhảy điệu Nga – la – tư. Một điệu vũ dân gian rất khoẻ của Nga.

Trong Nhật kí trong tù và hồi kí Vừa đi đường vừa kể chuyện, Hồ

có nói, khi mới ra tù “chân mềm như bún”, đi không được, phải tập leo núi rất

khó nhọc, phải bò, phải lết mãi mới đi được. Vậy sao lại có thể nhẩy điệu Nga –

la – tư?


Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực

tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh

viên văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất

trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ,

oai phong. Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi

đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều

chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa

đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ.

Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu

của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của ông là: “Cháu có buồn đi tiểu, Bác

chỉ chỗ cho mà đi”

Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về Hồ Chí Minh hôm đó, tôi

nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí

Minh.

“Hồ Chí Minh muôn năm!”, ông nói: “Hồ Chí Minh chỉ muốn nằm!”

 Hồ cũng thích hút thuốc lá. Và chỉ quen hút thuốc lá ngoại, thuốc lá

Mỹ. Ông đã bị chi bộ phê bình và bắt hút thuốc nội. Sau thấy ông ho quá, lại

cho hút thuốc ngoại như cũ. Anh Hoàng Tuệ kể với tôi chuyện này: hồi kháng

chiến chống Pháp, đi công tác ban đêm, tình cờ anh đi cùng với một đoàn người

chở thuốc lá ngoại từ vùng tề ra cho Hồ, có bộ đội đi kèm để bảo vệ.

Hoạ sĩ Dương Bích Liên, hồi cùng ở với Hồ ở Việt Bắc, thấy ông

thường hút thuốc lá ngoại, uống rượu Tây và uống sữa tươi (Người ta nuôi một

con bò để lấy sữa cho ông).

Theo Trần Đăng Ninh (Tô Hoài kể lại), ông Hồ ở phủ chủ tịch, thỉnh

thoảng lại đóng bộ complet, cravate, chống ba toong đi dạo một lúc trong khuôn

viên cho đỡ nhớ – hẳn là nhớ sinh hoạt hồi ở Paris.

Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác và Hoàng Dung còn tổ chức cho

chúng tôi gặp ông Vũ Kỳ, thư kí riêng của Hồ.

Cuộc gặp Vũ Kỳ không giúp tôi biết thêm gì về Hồ Chí Minh. ấn tượng

để lại chỉ là hình ảnh của chính Vũ Kỳ. Ông bắt chước tác phong của Hồ từ

cách ăn mặc, cách nói năng. Có cái áo Tôn Trung Sơn khoác ngoài không mặc

lại vắt lên vai. Đi guốc. Câu đầu tiên ông hỏi chúng tôi: “Các đồng chí có bao

nhiêu nữ?”

Anh Nguyễn Khải có lần gặp Vũ Kỳ cũng có nhận xét y như thế: Để râu

dài. áo cánh lụa. Đi guốc. Cầm quạt phe phẩy...

Tôi nghĩ bụng, đã là gia nhân thì bao giờ cũng là gia nhân. Gia nhân của

người thường hay gia nhân của vua chúa thì cũng thế.

Về chuyện làm thơ của Hồ Chí Minh, tôi vẫn cho rằng, ông Hồ có ý

thức sáng tác hai loại: một là loại thơ tuyên truyền thường dùng lối ca vè, cốt

minh hoạ đường lối chính trị. Những bài thơ chúc Tết, mừng xuân cũng thuộc

loại này. Thơ này không sáng tác theo quy luật nghệ thuật.


Chung quanh Hồ Chí Minh, đến nay vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn không

biết đến bao giờ mới được làm sáng tỏ.

- Chẳng hạn, chuyện vợ con thế nào? Trung Quốc đã công bố Hồ Chí

Minh kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Rồi chuyện cô Hà Thị Xuân người dân tộc

Tày và các con (Trung và Trinh gì đó). Ông Trần Độ cho biết, vì cô Xuân cứ

đòi chính thức hoá, người ta bèn giao cho Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cả ba chị

em.

Chuyện này nhiều người biết. Có người đã viết ra như Vũ Thư Hiên

trong cuốn Đêm giữa ban ngày. Riêng tôi được biết do giáo sư Ngô Thúc Lanh

được ông Văn Tân kể cho nghe và truyền đạt lại, hai là do một giáo sư dạy Sử ở

Đại học Sư phạm Hà Nội, ba là Dương Thu Hương, bốn là ông Trần Độ. Nhưng

gần đây có người điều tra ra vụ việc này rất tỉ mỉ, rõ ràng, và công bố cụ thể

trên internet: cô Xuân bị thủ tiêu vì hai lý do: một là cô đòi chính thức hoá: điều

này phải do Đảng quyết định, mà Đảng thì không thể chấp nhận. Hai là cô bị

Trần Quốc Hoàn hãm hiếp nhiều lần. Hoàn tuy đã đe doạ cô, nhưng vẫn sợ bị

cô tố cáo. Hắn sai Tạ Quang Chiến đập chết, rồi ban đêm, đặt xác cô ở quãng

đường từ Nhật Tân đi Chèm, bố trí một xe ô tô cán lên, tạo ra một vụ tai nạn

giao thông giả. Còn ba chị em cô Xuân là ba chị em họ. Một cô tên Nguyệt, một

cô tên Vàng. Hai cô này cũng bị thủ tiêu vì đều biết chuyện. Nguyệt mất tích,

không rõ bị thủ tiêu ở đâu. Còn cô Vàng thì bị đập chết và quăng xác xuống

sông Bằng Giang, Cao Bằng.

Theo Tô Hoài, có một hồi người ta định lấy vợ cho Hồ. Một số cô gái

đến cho ông chọn. Ông không chọn ai vì thấy đàn bà mà chẳng ý tứ gì, cứ phơi

quần, slip... rất vô ý. Có một cô người Huế, ông Hồ thích. Nhưng cô này hói

đầu, ông cũng không lấy. Ông nói, nếu có một cô công chúa nước nào thì lấy –


Tô Hoài cũng cho biết, Phạm Văn Khoa thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng

Tầu, có lần cùng đi với Hồ Chí Minh sang Trung Quốc (đi xe lửa). Một buổi

sáng, Khoa thấy ông Hồ ở toilet ra, cầm slip vừa giặt, nói: “Không có vợ, khổ

thế!”

- Còn chuyện xuất dương của Hồ Chí Minh? Có phải lần đầu tiên ra

nước ngoài là đi Pháp từ cảng Nhà Rồng?

Anh Nguyễn Nguyên (tức Nguyễn Ngọc Lương), một cán bộ tình báo

cao cấp của ta, cho tôi biết, Nguyễn Tất Thành lần đầu ra nước ngoài là sang

Trung Quốc theo đường dây của Phan Bội Châu. Tất Thành đóng vai một người

bán nước mắm, từ Nghệ An ra – giao liên là cô Chu Bích Viêm, tức bà Cả

Chính (Nguyễn Nguyên đã gặp bà Cả Chính). Cơ sở cách mạng của Phan Bội

Châu ở Hải Phòng lúc bấy giờ là hai cô Nhung và Sâm. Còn cơ sở ở Móng Cái

là hai cô con gái ông Ký nhà đoan tên là Yến và Nhạn.

Bà Cả Chính đã từng đưa Nguyễn Tất Thành qua Hải Phòng, Móng Cái,

sang Trung Quốc gặp Lý Đông A ở Liễu Châu.

Hồi ấy, ở Việt Nam chưa có phong trào cộng sản.

Sau này, cụ Nguyễn Sinh Sắc mới nhờ cụ Phan Chu Trinh bảo lãnh cho

Nguyễn Tất Thành đi Pháp.

- Còn chuyện đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh?

Theo Hà Huy Giáp, người đầu tiên phê phán Nguyễn ái Quốc có khuynh

hướng dân tộc chủ nghĩa là Trần Phú. Ông Đào Phan cung cấp cho tôi một tài

liệu: khi thành lập đảng Cộng sản Việt Nam ở Hồng Kông, Nguyễn ái Quốc có

đưa ra một văn bản gọi là chính cương vắn tắt, phân tích tình hình giai cấp sát

với thực tế Việt Nam, nhất là về giai cấp địa chủ (chế độ công điền khiến địa

chủ không phát triển được, vì thế địa chủ ở Việt Nam có thể phân hoá được).

Staline bèn phái Trần Phú về nước, vất chính cương của Nguyễn ái Quốc đi,

thay bằng luận cương Trần Phú đã được đóng dấu ở Mạc Tư Khoa và đặt tên

đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương. Staline còn chủ trương vô hiệu hoá

Nguyễn ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam.

Xem chừng Hồ Chí Minh thích tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên

hơn. ông từng dịch cuốn Tam dân chủ nghĩa hồi bị giam ở nhà tù Quảng Tây,

Trung Quốc. Và “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” chính là khẩu hiệu cách mạng

của Tôn Trung Sơn.

Lại có chuyện này: Nguyễn Hữu Đang có lần nói với Hoàng Ngọc Hiến:

Sau cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh có nói với Đang: Bảo Đại nó thoái vị

sớm quá! ý ông muốn Bảo Đại cứ tiếp tục làm vua để có thể thành lập ở Việt

Nam chính thể quân chủ lập hiến mà ông cho là thích hợp hơn với nước mình.

Sau khởi nghĩa tháng Tám, ông ở chiến khu về muộn, lúc đó phái đoàn Trần

Huy Liệu, Huy Cận đã lên đường vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại. Ông

muốn cho người đuổi theo để gọi trở lại, nhưng không kịp. Anh Phạm Tuyên

cho biết, ông cũng rất tiếc Phạm Quỳnh đã bị Việt Minh ở Huế thủ tiêu.

Hồi mới sang Pháp, Nguyễn Tất Thành đã từng gặp Phạm Quỳnh

(cùng với Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường).

Chắc ông đã hiểu Phạm Quỳnh không phải người bán nước.

Ngoài ra, từ hồi dự hội nghị Fontainebleau ở Paris (1946), Hồ Chí Minh

đã muốn liên hệ với Mỹ và sau này muốn thương lượng hoà bình với chính

quyền VNCH.

.

- Một câu hỏi khác đặt ra: Hồ có ý thức tự thần thánh hoá mình

không? Nay lại nói ông có ý thức thần thánh hoá? Tôi cho hai chuyện có chỗ khác nhau. Vì yêu cầu chính trị, có

khi phải dùng mưu mẹo, có khi phải diễn kịch nữa – Về mặt này, Hồ cũng

khá “siêu” đấy. Dân tộc Việt Nam là dân tộc nông dân nên có tâm lý trọng

người già và sùng bái thần thánh, chứ không tin ở người trẻ, người thường. Cho

nên ông Hồ, năm mươi tuổi đã để râu dài và xưng là già Hồ. Và cũng không

phản ứng gì khi người ta gọi là cha già dân tộc. Theo Trần Quốc Vượng, hồi

kháng chiến chống Pháp, Trung ương có giao cho ông Trần Huy Liệu bình tán

những câu sấm Trạng Trình ứng vào Cụ Hồ rồi cho truyền đi để tạo thành dư

luận quần chúng. Đó là chủ trương của Hồ Chí Minh hay chỉ là “sáng kiến” của

Đảng ngoài ý kiến của ông Hồ? Nhưng ông Trần Dân Tiên viết Những mẩu

chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, có chỗ ví cụ Hồ như con rồng ẩn

hiện trong mây. Mà Trần Dân Tiên chính là ông Hồ chứ ai!.

- Như đã nói, vì lí do chính trị, Hồ Chí Minh nhiều khi phải diễn kịch,

sống cứ phải “diễn” như thế, kể cũng khổ. “Không có gì quý hơn độc lập tự

do”. “Diễn” tức là bị tước đi của mình quyền sống tự do chứ còn gì nữa!

Những trò diễn của Hồ Chí Minh nói chung có tác dụng chính trị rất tốt

đối với tầng lớp bình dân. Nhưng đối với trí thức, có khi lại phản tác dụng. Năm

1946, Hồ Chí Minh ở hội nghị Fontainebleau về nước có Trần Hữu Tước và

một kỹ sư tên là Quang theo về. Trên tàu, Hồ diễn trò nhẩy son lá son với

các thuỷ thủ. Quang thấy thế lấy làm khó chịu, mất tin tưởng. Ông ta bỏ không

theo Hồ Chí Minh nữa. Theo Tô Hoài, ông ta sau này về sống ở Nha Trang.

Nhưng Hoàng Ngọc Hiến lại đưa ra một thông tin khác: Trần Hữu Tước sau này

có gặp Quang rửa xe máy ở Sài Gòn.

- Cuối cùng là ngày sinh và ngày mất của Hồ Chí Minh. Ngày sinh cũng

do ông tự đặt ra, ai cũng biết rồi. Còn ngày mất? Đúng cái ngày ông đọc Tuyên

ngôn độc lập (2/9)

Theo Hoàng Ngọc Hiến, ông Hồ chủ động chết vào cái ngày lịch sử ấy.

Ông ấy đáo để lắm đấy! Một người quyết lấy lại họ Hồ là dòng máu thật của

mình (Hồ Sĩ Tạo).

- Nhưng chủ động chết làm sao được khi người ta luôn chầu chực quanh

mình – Tôi cãi lại Hiến.

- Thì cũng có lúc người ta ra ngoài chứ. Lúc ấy chỉ cần dứt hết những

dây dợ của cái ống thở ôxy là chết luôn chứ sao! – Hiến khẳng định thế.

Một phán đoán không phải là không có lý!



Chương VIII: Tố Hữu

Nhớ lại ba, bốn chục năm về trước, vào những năm 60, 70 của thế kỷ

vừa qua, biết bao thế hệ đã từng mê thơ Tố Hữu. Mê thật sự. Đọc những bài như

Bài ca mùa xuân 61 mà chảy nước mắt. Hồi ấy ông rất xứng đáng với danh hiệu

“Lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam”. Để phục vụ cách mạng và

kháng chiến, thơ ca hồi ấy bám rất sát từng nhiệm vụ chính trị, nên thường viết

chung một số đề tài: anh bộ đội, anh giải phóng quân, Bác Hồ, anh Trỗi, mẹ

Suốt, chị Trần Thị Lý, miền Nam thành đồng Tổ Quốc, miền Bắc tiến lên chủ

nghĩa xã hội... Ngẫu nhiên mà thành ra những cuộc thi thơ toàn quốc. Trong

những “cuộc thi” như thế, Tố Hữu hầu như đều chiếm giải nhất.

Vinh quang của Tố Hữu đâu chỉ ở tư cách nhà thơ. Về chính trị ông

cũng lên vòn vọt, có lúc tưởng như là người kế cận Lê Duẩn, thay Lê Duẩn đến

nơi. Cho nên ngày Tết, người ta xếp hàng nối đuôi nhau ra tận ngoài đường để

chúc Tết Tố Hữu. Loại như Nguyễn Văn Hạnh, Hà Xuân Trường thì phải xếp

hàng mãi tít ngoài đường, rất xa. Còn Hoàng Xuân Nhị thì chỉ rình rình chen

ngang... Lúc bấy giờ được viết về Tố Hữu cũng danh giá lắm! Tôi nhớ có lần

anh Lý Hải Châu, giám đốc nhà xuất bản Văn học có ngỏ ý giao cho tôi làm

Tuyển tập thơ Tố Hữu. Định thế thôi chứ đã giao thật đâu. Vậy mà tiếng đồn ra,

nhiều người đã mừng cho tôi. Anh Xuân Diệu gặp tôi, bắt tay chúc mừng: “Thế

là Mạnh bắt đầu được tiếp cận với nhà đỏ rồi đấy!”

Thế mà bây giờ! Không thể ngờ Tố Hữu xuống giá nhanh chóng và

thảm hại đến thế, ở cả hai tư cách: nhà chính trị và nhà thơ. Hầu như các thế hệ

làm thơ bây giờ không ai còn làm theo phong cách Tố Hữu nữa.

ở khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội (có lẽ khoa Văn các trường Đại

học khác cũng thế) có điều này, nếu Tố Hữu sống lại chắc buồn lắm: hàng năm

cán bộ giảng dạy phải hướng dẫn hàng trăm sinh viên cao học, hàng chục

nghiên cứu sinh làm luận án thạc sĩ, tiến sĩ. Đề tài ngày càng bí, quanh đi quẩn

lại khai thác mãi những Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam

Cao, Thạch Lam, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh

Châu... hầu như đã cạn kiệt. Rất bí. Cả thầy lẫn trò đều bí. Vậy mà không ai

chịu làm về Tố Hữu, tuy Tố Hữu vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong chương

trình phổ thông và đại học như một tác gia lớn của nền văn học hiện đại Việt

Nam.

Kể cũng lạ! Tôi cho rằng hiện tượng này cần được giải thích, nhất là đối

với những thế hệ lớn lên sau 1975, đặc biệt là sau 1986, khi đất nước bước vào

thời kì đổi mới. Tất nhiên, giải thích theo quan điểm lịch sử.

Theo tôi tốt nhất là tôi thuật lại những lần được trò chuyện với Tố Hữu

trước 1986. Chính những lời phát biểu của ông về chính trị, về thơ ca sẽ giải

thích cụ thể sự thăng trầm của số phận ông. Ngoài ra cũng phải hiểu ông đã

quan niệm về thơ như thế nào và làm thơ như thế nào. Vì vẫn phải giảng thơ

ông trong nhà trường, vì dù sao ông cũng là một nhà thơ tiêu biểu nhất, vẻ vang

nhất, có vị trí quan trọng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại và trong chương

trình môn văn ở các trường phổ thông và đại học.

Tôi được gặp riêng Tố Hữu hai lần, không kể những lần được nghe ông

nói chuyện ở các hội nghị.

Qua hai lần tiếp xúc với Tố Hữu, tôi thấy ông là người thông minh, nói

rất giỏi. Một nhà hùng biện. Ông rất tin ở những điều mình nói như là những

chân lý tuyệt đối. Nói rất sôi nổi, say sưa, không cho ai cắt ngang dòng biện

thuyết của mình.

Cuộc tiếp xúc lần thứ nhất là năm 1967. Địa điểm: nhà riêng Tố Hữu,

76 Phan Đình Phùng.

Hồi ấy gặp riêng Tố Hữu rất khó. Anh Huỳnh Lý, lúc ấy là chủ nhiệm

khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, đã liên hệ trước như thế nào đó mới xin phép

được. Rất tiếc cuốn sổ tay tôi ghi chép về cuộc tiếp xúc này tôi đã để thất lạc

mất thành ra chỉ còn lưu lại được trong óc một vài ấn tượng.

Tố Hữu nói về chính trị là chính. Ông say sưa ca tụng dân tộc mình

trong chiến tranh chống Mỹ vừa thông minh vừa anh hùng. Ông nói về Nguyễn

Văn Trỗi, Nguyễn Văn Bé. Ông rất lạc quan và hoàn toàn thoả mãn về Đảng, về

cách mạng Việt Nam chỉ có tiến lên theo đường thẳng. Con đường chỉ có toàn

ánh sáng. Cách mạng Việt Nam không hề có bi kịch.

Tố Hữu tỏ ra rất phục Lê Duẩn. Ông cho Lê Duẩn đúng là một penseur.

ấn tượng khó quên nhất của tôi là ông nói liên miên, nói rất nhiều. Tôi

nhớ ông nói từ khoảng hai ba giờ chiều. Nói rất bốc. Lúc đầu còn ngồi ngay

ngắn, sau co chân xếp bằng tròn trên salon. Tôi ngồi sát cạnh, thỉnh thoảng ông

còn vỗ mạnh vào đùi tôi, hỏi một câu gì đó. Hỏi không phải để nghe trả lời, mà

là cách gây chú ý, để nghe ông nói tiếp. Ông nói cho đến khoảng năm giờ chiều.

Anh thư kí riêng đi ra, xem đồng hồ, ý nhắc ông nghỉ cho đỡ mệt. Ông không

để ý, đứng dậy bật đèn, nói tiếp.

Thực tình lúc ấy tôi mót đi tiểu quá. Ngồi ngay cạnh ông, đứng lên

không tiện. Vả lại biết đi to Toalét ở chỗ nào! Mà cũng nghĩ ông sắp nghỉ rồi, vì

trời đã muộn. Nhưng ông cứ nói, nói liên miên, nói say sưa hào hứng. Lúc đó,

thực bụng tôi nghĩ: Trên đời không có gì nhảm nhí bằng chuyện văn chương,

chỉ có đi tiểu là quan trọng nhất.

Nhưng cuối cùng thì ông cũng nghỉ, có lẽ do cách nhắc khéo của anh

Huỳnh Lý. Ông bắt tay từng người. Đến lượt tôi, không hiểu sao, ông lại còn

giữ tay, nói tiếp mấy câu nữa. Sợ quá!

Cuộc tiếp xúc thứ hai. Địa điểm: ở ngôi nhà bát giác cạnh trường Chu

Văn An bên Hồ Tây, năm 1980.

Lần này do anh Đoàn Trọng Huy, phó chủ nhiệm khoa Văn Đại học Sư

phạm Hà Nội liên hệ được. Lúc này tôi đã được chuyển ra công tác tại Hà Nội.

Cũng như lần trước, Tố Hữu vẫn nói nhiều, nói liên miên. Ông nói về

chính trị, về thơ, về việc giảng dạy văn trong nhà trường. Sau năm 1975, tình

hình đất nước đã ít nhiều đổi khác. Vì thế ông cũng nói đến chuyện mở cửa, đến

chống chủ nghĩa Mao, đến mở rộng đề tài thơ và phát triển phong cách thơ.

134

Nhưng tinh thần vẫn như cũ, vẫn Đảng ta là đúng nhất, sáng suốt nhất,

nhân dân ta, dân tộc ta là tuyệt vời, Mác Lênin là chân lý tuyệt đối, và văn học

gắn với chính trị, phục vụ chính trị là chân lý muôn thuở.

Dưới đây là lời độc thoại triền miên của Tố Hữu, tôi ghi lại được:

" Vấn đề mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, tưởng không còn

chuyện gì nữa, hoá ra không đơn giản. Vẫn còn có nhiều người chưa nhận ra cái

lẽ lớn ấy.

Văn học phải góp phần tạo ra con người mới, con người xã hội chủ

nghĩa, để bảo vệ và xây dựng đất nước. Với dân tộc ta, động viên hy sinh xương

máu dường như dễ hơn là động viên đổ mồ hôi, đổ trí óc để tăng năng suất lao

động, cải thiện đời sống cho mình.

Tiêu chuẩn đánh giá một nền văn học lớn là góp sức tạo ra con người

mới. Đó là thước đo, nói là cao nhất cũng được, nói là duy nhất cũng được.

Cũng có thể gọi đó là quan điểm thẩm mỹ của ta.

Đúng là các vấn đề văn học nên đưa ra tranh luận, kể cả với quan điểm

đối địch. Nên làm quen với những cách suy nghĩ khác nhau. Nên học cả những

vũ khí của địch. Muốn hay không muốn, trái đất cũng có những cuộc giao lưu

như thế. Không nên bịt cửa. Trong thời đại này, không có dân tộc nào sống như

thế. Chủ nghĩa Mao nẩy sinh trong sự bịt cửa, tự bịt cửa trong ngu dốt và tàn

bạo.

Phải mở cửa. Mở cửa để đón ánh sáng và gió mát chứ không phải để

đón ma quỷ. Vì đời có cả thiên thần và ma quỷ... Phải biết đóng cửa, mở cửa

một cách khoa học. Mở cửa cũng còn để trao đổi với ngoài. Có vay có trả, có

góp cho đời. Ta rất tự hào về văn học ta là văn học của một dân tộc tiên phong,

có vẻ đẹp của nó.

Quy luật từ xưa đến nay là quy luật riêng chung.

Xưa cái chung lấn át cái riêng.

Nay cái riêng lấn át cái chung.

Cần hoà hợp riêng chung. Cái chung mà không phát huy cái riêng, cái

riêng nó sẽ quay lại chống lại cái chung.

Làm chính trị là l’art des possibités. Làm sao sử dụng được đến ngón tay

út của con người. Tập thể là vô cùng. Con người cũng là vô cùng. Nói vượt

mình là không đúng. Nên nói phát huy khả năng của mình. Làm sao vượt mình

được! Chủ nghĩa Mác ý thức được khả năng vô tận của con người.

Con người là gì? Cuộc sống là gì?

Là vật chất, trí tuệ, tình cảm – là con – người – mới.

Khổng Tử phủ nhận “con” là dối trá. Thực ra Khổng Tử coi con người

là trâu chó.

Con người khác con vật là có trí tuệ và tình cảm. Có cái đầu pensant.

Mao không cần. Tư sản cần nhưng chỉ cần để phục vụ nó. Làm trái nó, nó chặt

đầu. Mọi chế độ bóc lột đều ngu dân ở những mức độ khác nhau, mức hạn chế

khác nhau, do lợi ích giai cấp. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản là parti de

l’intelligence.

Cái “con” là nécessité. Nhưng trí tuệ, tình cảm mới là đặc trưng của

người. Chủ nghĩa xã hội là làm chủ tập thể cộng với công nghiệp hoá. Lênin thì

nói: Chính quyền Xô viết và điện khí hoá...

Bác Hồ thì nói độc lập tự do. Tự do là chuyện muôn đời. Nécessité

comprise là chuyện muôn đời. Vĩ nhân là làm chủ quy luật và chiến đấu cho tự

do. Đúng thế. Nhưng thực sự là người tự do, khó lắm! Hạnh phúc lớn nhất là tự

do, là làm chủ.

Uống ngụm nước suối trong đỡ khát

Trông trời cao mà mát tâm can.

Nước suối mà sao ngon? Vì đó là tự do, là nécessité, quy định bởi cái

nécessité cao hơn tức là cứu nước. Tôi chỉ nói tới nói lui những điều đã cũ,

không có gì mới. Vì không cần nói gì hơn.

“Bay vào vũ trụ” là nécessité

Dép lốp là nécessité.

Tôi thừa nhận dép lốp, cơm khoai, vì đó là nécessité. Song tôi cũng có

cái đầu để mơ ước chứ! Cho nên tôi thấy bay vào vũ trụ cũng là nécessité.

Nói vị nghệ thuật là dối trá. Ai chả vì cuộc sống này khác. Chỉ có người

cộng sản là nói ouvertement. Phong kiến, tư sản không dám nói. Còn tiểu tư sản

là tù binh của mọi nguồn, bơi trong mọi dòng nước, tự lừa dối mình. Tiểu tư sản

không có đời sống độc lập. Ta nói ouvertement vì ta nói sự thật và chỉ có ta mới

nói được.

Thanh niên bây giờ có xu hướng “Tây loăng quăng hoá”, dễ mất tính

dân tộc. Ông cha ta bản lĩnh lắm, mãnh liệt lắm nên mới tránh được Tây hoá.

Nhưng dân tộc phải nhịp theo thời đại. Đó là sự thật khách quan.

Thời đại là: ba dòng thác cộng với cách mạng khoa học kỹ thuật.

Nhật Bản đã trở thành 2 ème puissance vì có ba yếu tố:

1. Tinh thần Đại Nhật Bản (Đảng Cộng sản lẽ ra phải tranh lấy ngọn cờ

dân tộc. De Gaulle và tư bản Nhật nắm dân tộc hơn đảng cộng sản).

2. Cách mạng khoa học kỹ thuật

3. Quản lý xã hội, quản lý kinh tế rất khôn ngoan (quản lý theo lối tư

bản cộng với truyền thống gia trưởng)

Conscience và Science. Thời đại này có hai cái đó thì thắng. Trẻ con ta

có Conscience politique rất sớm. Nói phải có lý nó mới phục, nó mới nghe.

Tài nguyên thì ta có dầu, có sắt. Cho nên lắm kẻ đã ve vãn “xôn xao

ngoài cửa thiếu gì yến oanh”

Dân tộc ta có truyền thống rất mạnh. Tinh thần thời đại cũng mạnh. Hai

cái đều mạnh. Nhiều dân tộc phải xấu hổ vì ông cha của mình: ăn cướp, quân

phiệt, hoặc đầu hàng khiếp nhược.

Dân tộc ta, cái dominant là nhân dân. Không cần tư sản. Do chống ngoại

xâm mà hình thành dân tộc. Chống xâm lược trên quy mô lớn nên dân tộc lập

tức gắn với nhân dân.

Dân ta profondement – athée – vô thần – pratique. Lừa cả thần, lừa cả

Phật (Trạng Quỳnh). Bất chấp Khổng, Phật, Thiên Chúa. Rất matérialiste. Cái

nôi dân tộc ở chính Việt Nam. Nhân dân ta là miếng đất lí tưởng cho chủ nghĩa

cộng sản.

Dân tộc – Nhân dân – pratique. Lại có tính nhân dân nữa. Thừa nhận giá

trị con người rộng rãi lắm “Thương người như thể thương thân”. Nhân ái lắm!

Không lấy mình làm chuẩn như Khổng Tử “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”. Tình

làng xóm, cha con, vợ chồng rất khác đạo Nho. Tầu nói trọng nghĩa khinh tài,

đào viên kết nghĩa mà dối nhau, giết nhau.

Thời đại ta có chủ nghĩa Mác nên tránh được tự phát, tuỳ tiện. Cái yếu

nhất của ta là khoa học kĩ thuật. Đảng đề ra cách mạng khoa học kĩ thuật là then

chốt, trúng quá!

Cuộc thắng Mỹ của Việt Nam lớn lắm. ảnh hưởng đến nhiều dân tộc

trên thế giới. Họ không sợ Mỹ nữa. Mỹ không dám gây sự, không dám có một

Việt Nam thứ hai.

Tố Hữu ngừng lại một lát rồi tiếp: “Đấy là tất cả những gì tôi đã nghĩ và

đã nói bằng thơ.

Từ Từ ấy tôi vẫn nói thế thôi: lẽ phải, chân lý, tình cảm. Chân lý chói

qua tim. Chân lý phải qua tim mới dẫn tới hành động. Tình cảm lớn phải có

chân lý lớn chỉ đạo. Mao không có tim và chân lý. Tôi nói Mỵ Châu “Trái tim

lầm chỗ để lên đầu” làm mất nỏ thần. Mao thù. Tầu bay Việt Nam không cho

qua Trung Quốc.

Thơ Tố Hữu là nói lẽ phải lớn của dân tộc và thời đại. Tôi viết bài “Một

nhành xuân”. Có lẽ người ta đã quên lẽ phải lớn chăng, nên phải nói lại. Người

ta nói tầm bậy về Đảng quá. Apolitique nặng. Không biết lịch sử dân tộc do

Đảng đem lại. Chủ nghĩa công thần, tính công trạng mình nhiều quá mà không

tính công Đảng . Hoàng Văn Hoan tách Đảng, thành phản quốc. Còn gắn với

Đảng là mùa xuân vĩnh viễn.

Nhà văn phải có message nhắn gửi cho đời. Vấn đề là có cái gì đáng

nhắn gửi thật không? Chuyện văn là chuyện đời, chuyện lẽ phải.

Nghệ thuật phải có hình thức adéquate 100%. Nhưng đó là chuyện dĩ

nhiên. Art là personnel, không phải individualiste. Rất riêng song không cá

nhân chủ nghĩa.Bên cạnh hoàng anh, hoạ mi, phải có sẻ sẻ, chim chích, thích

chứ, vui chứ! Nhưng cá tính là gì? Cá tính có ý nghĩa thực là góp một tiếng nói

cho đời. Hoạ mi hót mà đời insensible thì phục vụ ai, có ích gì, vô nghĩa.

Có người chủ trương viết cho mai sau, không cần đời chấp nhận. Vô lý.

Mai sau ai sinh ra? Trên trời rơi xuống à? Người mai sau là ai? Chẳng qua là

trốn dư luận, ai biết mai sau là gì!

Nghệ sĩ phải sống với thời đại của mình. Có convention, có giao ước

của nó chứ! Rút lại phải sao cho người đương thời chấp nhận.

Có nhà thơ chỉ nói tình yêu, tình bạn, hoa đẹp. Thích chứ! Có người nói

thời buổi chiến tranh không nên vẽ phong cảnh, vẽ hoa. Tầm bậy! Cảm thụ

được cái đẹp của thiên nhiên muôn hình muôn vẻ, lớn lắm chứ! Nhưng phải bàn

thế nào là đẹp. Rút cuộc là trở về hunanisme.

Rất mừng là thế hệ trẻ đang lên. Lê Thị Kim có bài Cỏ. Tôi không viết

được. Yêu thiên nhiên và yêu tình yêu. Khánh Chi rất nên ủng hộ. Tuổi mình

không còn là tuổi tình yêu, nói gì được nữa.

Rất may là thời đại ta cùng tồn tại bốn thế hệ: thế hệ già, thế hệ thời

chống Pháp, thời chống Mỹ, thời xây dựng chủ nghĩa xã hội. Già có vẻ đẹp của

già (đừng có lẩm cẩm). Trẻ biết đâu mà nói. Mỗi thế hệ có vẻ đẹp riêng, có ưu

thế riêng. Hãy nói to lên những điều đẹp nhất của mình.

Tôi rất chú ý từ ngữ, âm điệu, nhạc điệu. Không dùng từ ẩu bao giờ.

Thơ phải tiết kiệm, không nói dài. Tôi không có khả năng sáng tạo từ mới. Từ

vựng của tôi nghèo lắm! Từ ít và không thông minh như của Chế Lan Viên.

Phạm Tiến Duật, Bằng Việt cũng lắm từ, chịu khó tìm tòi, sáng tạo ngôn ngữ.

Chỗ yếu của tôi là thường dùng từ ngữ quen thuộc. Không nói được điều

gì bất ngờ, làm nên sự giật mình về hình thức.

Nhạc điệu ngôn ngữ Việt Nam hay lắm. Âm thanh diễn đạt chính xác,

cụ thể, nhiều giọng điệu. Mỗi bài thơ phải tìm một giọng thích hợp: Emily con,

Kính gửi cụ Nguyễn Du, Theo chân Bác... Bác thích loại thơ rigoureux. Bác rất

Classique. Vì thế Theo chân Bác phải dùng thể thất ngôn mới thích hợp.

Nhịp sống thay đổi, cũng phải tạo nhạc điệu mới. Phải phá thể, phá

cách. Lục bát cũng thế:

“Thác, bao nhiêu thác cũng qua”

Các cụ xưa không làm thế.

Tôi rất nghiêm trong việc dùng chấm và phẩy. Học sinh bây giờ chấm

phẩy bừa quá. Phải học tính chính xác, khoa học, khẩn trương, hoạt bát. Ông bà

ta không làm được điều đó vì nhịp điệu nông nghiệp quen rồi.

Tôi cố gắng phục vụ mọi người. Xã hội ta có ba loại:

- Loại văn hoá thấp: Trình độ cấp I. Người lao động phần lớn ở mức độ

này.

- Loại trình độ cấp II, cấp III, tuổi 30, 40. Loại này cũng có hàng triệu

người.

- Loại đại học. Trí thức.

Bài Emily,con... phục vụ độc giả từ trung học trở lên. Viết cho loại này,

tiện, vì cùng loại với tác giả. Có thể làm một cách tự nhiên, không mất công.

Viết cho loại một cực lắm. Đối tượng là dân gian. Bài Ba muơi năm đời

ta có Đảng viết cho hàng chục triệu người. Gọi là vè rất đúng, là khen, vì dụng

ý của tôi là làm vè.

Bài Mẹ Suốt viết cho chính mẹ Suốt. Nhưng không giữ mức vè. Đó là

bài thành công với nhiều tầng lớp.

Bài Theo chân Bác phải vừa hợp phong cách Bác, vừa phục vụ toàn dân,

cho cả trí thức. Dùng thất ngôn có thể giải quyết được.

Bài Nước non ngàn dặm chủ yếu nói cho miền Nam. Cần gợi cảm nên

dùng lục bát là tiện. Nhưng có savant hơn một chút. Cấu tứ không khó lắm!

Khó là forme nào, giọng nào. Năm ba câu đầu mà bắt được giọng rồi thì dễ lọt.

Câu đầu lợi hại lắm. Bài Một nhành xuân tôi đã làm năm năm trước.

”Năm 20 của thế kỉ XX”. Sau nghĩ làm lý lịch làm gì, anh là gì mà khai lí lịch!

Tôi phải nghĩ hai câu mở đầu khác:

Vâng xin kể cùng Xuân đồng chí

Chuyện riêng chung một cuộc đời bình dị.

Thường khó làm câu đầu và câu cuối. Câu cuối phải gợi ra cái gì rộng

hơn cái mình nói trong thơ. Phải mở, không được đóng. Đóng lại là vô duyên.

Đọc câu cuối người ta còn nghĩ, còn vơ vơ vẩn vẩn, thế hay hơn.

Còn từ câu đầu đến câu cuối không biết trước, không tự giác. Trước khi

viết nghĩ nhiều. Khi viết quên đi và thả cho xúc cảm, cứ như tìm hoa trong đêm.

Thơ kị nhất đọc câu trước người ta đoán được câu sau. Chính mình cũng không

biết, không ngờ. Phải cho thơ tự nó sinh sôi, phát triển. Có ai đó nói rằng, nhà

thơ hoàn toàn biết rõ tiến trình sáng tác một bài thơ, hoàn toàn biết trước câu

thơ cuối cùng của tác phẩm. Tôi thì có khi làm xong bài thơ, cũng ngơ ngơ ngác

ngác về tác phẩm của mình. sáng tác là cảm xúc không luôn luôn tỉnh táo. Văn

xuôi có tỉnh hơn chăng? ở đây có những yếu tố ngẫu nhiên, tình cờ. Có khi cũng

không biết là hay hay dở nữa kia. Anh Xuân Diệu hỏi tôi, sao anh lại tạo ra

được hai câu: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi, Mà mưa xối xả trắng trời Thừa

Thiên”? Tôi cũng không biết sao mình lại tài thế!

Thơ có quy luật riêng của nó.

Phạm Tiến Duật là anh lính thì hay. Đến lúc luận là chết. Vòng trắng.

Sao đời lại tự tử! Hai lần tự tử! Giết anh và giết người chết rồi. Không hiểu đời

đã luận đời!

Trần Đăng Khoa đang dở dang, hết trẻ con, nhưng chưa thành người

lớn. Nói giọng ông già là trật.

Phải luôn đề cao thế giới quan, nhân sinh quan. Nhưng đối với lớp trẻ,

nó thấy khắc khổ quá. Phải nói đạo lý thế nào đấy không xa lạ với nó. Nên đề

cập đến tất cả những gì nó quan tâm. Đừng nói đại nghĩa trước mà phải đi từ

tiểu nghĩa trước (tình yêu, tình bạn). Từ bỏ tiểu nghĩa, nó không nghe đâu!

Không chấp nhận tình yêu và thơ tình là không đúng, là nihilisme. Thơ tình là

loại thơ khó nhất: nói được cái gì mới? Tôi không làm được.

Nói thơ Tố Hữu không nói hết mọi vấn đề là đúng. Nhưng cho rằng thơ

Tố Hữu chỉ nói cái to không nói cái nhỏ thì oan. Nhưng chuyện cụ thể chỉ là cái

cớ để nói cái to. Cái tật quen của tôi nó vậy. Tố Hữu có nói cả hoa và rác đấy

chứ. Nhưng phải có trách nhiệm, phải làm cách mạng, phải quét rác (Tiếng chổi

tre)...

Bài Hồ Chí Minh. Khi viết bài này, tôi chưa được thấy Bác, chỉ biết qua

về Bác, chưa đọc gì của Bác. “Vung gươm lắp súng” là nghĩ thế, viết thế.

Nhưng nói “Người lính già” là bạo, thế mà đúng. Lúc bấy giờ nói thế là bạo,

trái với xu hướng quan niệm về lãnh tụ, về vĩ nhân, lúc đó. Đúng, Bác là người

lính.

Bà má Hậu Giang. Có chuyện thật nghe nói ở Ban Mê Thuột: một bà

má nấu nồi cơm to, bị Tây chặt đầu. Còn phịa ra cả. Lúc đó Bắc Sơn thất bại,

Nam kỳ thất bại. Tư tưởng défaitisme, cần góp phần khôi phục lại niềm tin.

Ly rượu thọ. Có chuyện một viên tướng có bà mẹ yêu nước. Còn chuyện

chúc thọ là bịa.

Mẹ Suốt, có chuyện đẻ con bị xẩy, có chuyện vải màn nguỵ trang thật

và cũng có hỏi mẹ mấy câu. Nhưng đặt thêm ra lời hỏi và câu trả lời. “Cá tôm

cũng sướng” là bịa.

Nhân tiện thấy ông nói về những bài thơ cụ thể, tôi tranh thủ hỏi về bài

Ân hận tôi đọc trên báo thời Mặt trận dân chủ Đông Dương, đề tặng một “nàng

trinh nữ” nào đấy. Ông nói bài này làm trong nhà tù. Hồi ấy yêu một cô. Cô ấy

đi lấy chồng. Đơn giản thế thôi.

Nói mãi cũng mệt. Tố Hữu nghỉ, uống nước .

Qua ý kiến của Tố Hữu, thấy ông quả là một nhà thơ có kinh nghiệm.

Và không phải là không có tài.

Nhưng vì sao thơ ông không có giá trị lâu dài? Có lẽ vì ông chọn cho

mình con đường làm thơ chính trị. Ông đã đáp ứng xuất sắc tâm lý chính trị của

dân tộc một thời. Nhưng thời ấy đã qua rồi.

Thơ tuyên truyền chính trị nên phải đơn nghĩa. Và vì phải hướng chủ

yếu về đối tượng công nông binh, nên phải sử dụng những thể điệu truyền thống

kể cả lối ca vè và phải dùng những hình ảnh, những ngôn từ quen thuộc, tránh

sáng tạo hình ảnh và từ ngữ mới lạ.

Tố Hữu lại tiếp tục nói. Ông chuyển sang nói về giáo dục, về việc dạy

văn. Ông cho rằng muốn dạy tốt phải dựa trên nghiên cứu khoa học. Giáo viên

không được tiếp xúc với các công trình khoa học thì như người lính ra trận

không có vũ khí. Giáo viên văn học là giáo viên khổ nhất mà đáng lẽ sướng

nhất. Học sinh nộp bài như nộp thuế.

Ta còn thiếu những công trình khoa học có sức thuyết phục. Tôi chưa tin

có ai đã dạy Kiều, hiểu Kiều một cách đầy đủ. Và liệu đã có ai hiểu hết một bài

Bình ngô đại cáo. Bài văn lạ lùng trên nhiều mặt. Lượng thông tin ghê gớm.

Từng từ có giá trị xã hội, đại diện cho một thực thể xã hội. Trí tuệ, tư tưởng ghê

gớm lắm: “Lấy nhân nghĩa”, “lấy chí nhân”. “Chí nhân” thời ấy là gì? “Cường

bạo” nội dung thời ấy là gì? “Trúc chẻ ngói tan”phải là một chiến dịch ghê

gớm lắm. Bao nhiêu ý nghĩa nhận thức!

Thày giáo văn học là đắt nhất. Nghề này không chỉ đòi hỏi hiểu biết.

Anh phải sống đẹp. Thông tin văn học khác. Phải gây hiểu biết và xúc động thật

sự. Không cảm thụ được và truyền đạt được cảm xúc thì nghề dạy văn là vô

nghĩa.

“Đau đớn thay phận đàn bà”, không có gì sáng tạo cả mà hay, vì là

tiếng kêu giữa trời cho ba trăm năm sau. Thiên tài là sự nhuần thấm máu thịt

đến mức như như là cảm quan ngẫu nhiên, tạo ra cái đẹp mà không biết. “Long

lanh đáy nước in trời”. “Long lanh” sau mới thấy “đáy nước” và thấy “trời”.

Được nghe, hiểu một câu thơ như thế, chết cũng sướng.

Nếu loài người hiểu hết vẻ đẹp của mình thì là thiên thần. Là thoát ra

khỏi tấn bi kịch lớn. Bi kịch của loài người là không ý thức được vẻ đẹp của

mình, do mình tạo ra, và tất cả thấy cần phải sống đẹp như thế. Làm sao một

dân tộc rất đẹp như Campuchia lại bị tiêu diệt có vẻ dễ dàng như thế? Tôi vẫn

suy nghĩ mãi về điều đó.

“Phải đặc biệt coi trọng giáo dục, coi trọng văn học. Chủ nghĩa xã hội

đâu phải chỉ cần cơ sở khoa học kỹ thuật. Con người còn cần tâm hồn nữa chứ.

Nếu không chỉ là con thôi, một thứ con cao cấp thôi”.

ý kiến của Tố Hữu về giáo dục, về dạy văn nói chung là đúng, tuy không

có gì mới mẻ đặc sắc. Sức hấp dẫn vẫn chỉ là ở nhiệt tình sôi nổi và niềm tin

mãnh liệt, đã trở thành phong cách riêng, khẩu khí riêng của ông.

Lúc đó anh Đoàn Trọng Huy vừa mua được cuốn Tuyển tập thơ Tố Hữu

do Hà Minh Đức soạn. Anh xin chữ kí của Tố Hữu. Tôi đọc bài Mẹ Tơm, thấy

câu thơ “ Sống trên cát, chết vùi trong cát” in là “ Sống trên cát, chết hoà trong

cát”, bèn nhân tiện hỏi Tố Hữu: hoà hay vùi? Tố Hữu nói “vùi chứ hoà thì còn

văn chương gì nữa”. Ông tỏ ra tán thành lời bình của Hoài Thanh về chữ vùi

trong bài thơ này.


*

Tố Hữu trông người nhỏ nhắn, nhẹ nhõm như một thư sinh. Nhưng rất

hách. Tôi đã nghe Hoàng Cầm nói, ông đã từng ra lệnh bắt Trần Dần, Tử Phác

bằng sáu tiếng ngắn gọn: “Gọi nó về, bắt lấy nó”. Tôi đã chứng kiến Nguyễn

Đình Thi sợ ông như thế nào, tôi ví như con cua co dúm người lại trước con

ếch.

Tôi đã nghe Hoàng Ngọc Hiến thuật lại về Tố Hữu trong cuộc họp nhà

văn đảng viên hồi tháng sắu năm 1979. Nguyên Ngọc trình bầy bản đề cương

chống Mao-ít. Tố Hữu đã quạt cho Nguyên Ngọc một trận, cho đây là hiện

tượng “ngược dòng”, ông có cách nói mỉa mai rất ác. Nhân thấy Nguyên Ngọc,

người thấp, nhân làm đổ cái micro trên bàn chủ tịch đoàn, ông nói: “Cái bục

này đối với tôi hơi cao, đối với anh Nguyên Ngọc thì cao quá!”. Ông còn đến

vuốt râu Nguyên Hồng: “Để râu sớm quá đấy, để trốn họp chi bộ chứ gì!”. Gần

đây Kim Lân còn cho tôi biết, hôm ấy, Tố Hữu đến chỗ Kim Lân, nói: “Dạo

này viết ít quá đấy!”. Kim Lân buột miệng nói: “Bác lại phê bình em rồi!”. Có

vậy thôi mà nghĩ sợ quá. Kim Lân nói: “Tôi nhớ trong truyện Tam quốc, có hai

anh bạn thân, sau một anh làm to, anh kia đến chơi, nói suồng sã về những kỉ

niệm thuở hàn vi. Sau bị tay kia cho người đuổi theo thủ tiêu – Sợ quá!”.

Tôi chắc Kim Lân sợ thì có sợ, nhưng làm gì đến nỗi thế. Bọn nhà văn

là chúa hay phóng đại.

Nguyễn Khải cũng kể lại, hôm ấy anh ngồi chủ tịch đoàn. Có một cậu

nói nhỏ với anh: “Ông Lành đang nói sao cậu lại cười?” Khải sợ quá, vội chối:

“Không, răng tôi nó hô đấy chứ, tôi có dám cười đâu!”.

Gần đây anh Hoàng Dũng cán bộ giảng dạy khoa Văn Đại học Sư phạm

Thành phố Hồ Chí Minh, học trò thân thiết của Nguyễn Tài Cẩn, cho biết, Tố

Hữu có lần gọi Huy Cận, bảo phải biên soạn cuốn từ điển về thơ Tố Hữu:

“Pouchkine có từ điển, sao Tố Hữu không có từ điển”. Huy Cận nhờ nhà ngôn

ngữ học Nguyễn Tài Cẩn giúp cho việc này. Cẩn từ chối không được, bèn dùng

mẹo, nhận nhưng không làm, tuy thỉnh thoảng lại giả vờ đến Tố Hữu “xin” ý

kiến về câu này, chữ khác của thơ ông. Bây giờ Tố Hữu chết rồi, chẳng có trang

từ điển nào cả. Anh đồ nghệ láu thật!

Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI. Tố Hữu mất hết mọi chức vụ. Tự

tột đỉnh vinh quang tụt xuống đất. Đau lắm! Từ Sơn đến chơi thấy nhà như có

tang. Ông nói với Từ Sơn: “ Chúng nó tiếc gì mà không cho mình làm cố vấn!”.

Rồi kéo Từ Sơn ra ngoài vườn như sợ có kẻ nào nghe trộm: “Có gan lên chiến

khu làm cách mạng lại không?” Đúng là cay cú đến mức điên rồ!

Tố Hữu rất ghét thi hoa hậu. Ông nói với Hoàng Điệp, Nhà xuất bản

Văn hoá thông tin: “Thi hoa hậu để khoe mông khoe đùi chứ gì! Làm như thế

những phụ nữ xấu người ta tủi. Sao không thi bắn súng?” Tất nhiên Tố Hữu rất

ghét Gooc bachốp. Chị Tố Nga, vợ Hoàng Ngọc Hiến, bắt chước giọng Huế của

ông rất vui: “Miềng có Hồ Chí Minh của miềng chứ! Thấy người ta chốp chốp,

cũng chóp chóp”.

Những năm cuối đời, ở Tố Hữu, có chuyện này cũng lạ: thường phủ

nhận những điều mình đã nói, đã làm. Trong cuốn Chân dung và đối thoại, Trần

Đăng Khoa nói đến chuyện Phù Thăng một thời bị qui chụp chính trị rất nặng.

Khoa cũng thuật lại cuộc phỏng vấn Tố Hữu về việc sáng tác bài Hoan hô chiến

thắng Điện Biên. Tố Hữu nói, không hề biết chuyện Phù Thăng, còn những điều

Trần Đăng Khoa hỏi ông về bài Chiến thắng Điện Biên là bịa. Thực ra Tố hữu

từng viét bài phê phán Phù Thăng, còn về cuộc phỏng vấn ông về bài Chiến

thắng Điện Biên thì Khoa nói với tôi: “Em có ghi băng hẳn hoi, đâu có bịa”

Lại có chuyện Nhật Hoa Khanh công bố một bài phỏng vấn Tố Hữu rất

dài. Đọc bài phỏng vấn này, thấy Tố Hữu nói ngược hẳn những điều ông nghĩ,

ông viết và ông làm trước đây đối với các nhà văn thuộc nhóm Nhân văn giai

phẩm. Ngược hẳn lại như quay 180 độ, khiến rất khó tin là có thật. Trần Đăng

Khoa cho rằng, Tố Hữu quả cũng hay phủ nhận những điều mình đã nói, đã

làm, nhưng không đến nỗi quá quắt như trong bài phỏng vấn của Nhật Hoa

Khanh. Tô Hoài thì nói, những sự kiện, những chi tiết trong bài phỏng vấn đều

có thật cả, chỉ có điều Tố Hữu nói ngược lại. Nhật Hoa Khanh thì nói, anh có

ghi âm, còn giữ băng ghi âm.

Hiện tượng này tôi vẫn thấy khó tin và cũng khó giải thích. Hay là giải

thích bằng tính cách của người Huế chăng: “Sơn bất cao, thuỷ bất thâm...”

Tố Hữu ngay khi đã mất hết chức vụ, vẫn rất hách. Trong một cuộc gặp

mặt của các nhà văn lão thành (Hữu Thỉnh hằng năm cứ vào đầu xuân lại mời

các nhà văn ở Hà Nội từ 70 tuổi trở lên đến gặp mặt để chúc Tết và mừng tuổi),

người đã đến đông, Tố Hữu đến sau, ông nhìn khẩu hiệu trên tường: “Hoan

nghênh các nhà văn lão thành cách mạng”, nói thủng thẳng: “Lão, nhưng liệu

có thành không chứ!”

Tính cách như thế nên nói chung văn nghệ sĩ không ưa. Khi ông có chức

có quyền, người ta sợ, người ta phải đến – như xếp hàng chúc Tết ông chẳng

hạn. Nay hết chức quyền rồi, người ta lảng hết. Tôi nhớ đám tang Lưu Quang

Vũ, Xuân Quỳnh ở 51 Trần Hưng Đạo, người đến viếng đông lắm. Viếng xong,

mọi người sang phòng bên uống nước và trò chuyện. Tôi thấy Tố Hữu ngồi một

mình. Chả có ai đến nói chuyện. Ông ngồi một lúc rồi lẳng lặng bỏ về.

Hết mọi quyền lực rồi, Tố Hữu vẫn có tật nói nhiều. Hôm báo Văn nghệ

tổ chức hội thảo về cuốn Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, ông có

đến dự. Một mình ông nói hàng tiếng đồng hồ.

Lúc Tố Hữu đã mệt nặng, Nguyễn Khải có đến thăm. Khải nói, ông đã

mệt lắm, nói không ra tiếng, vậy mà miệng vẫn mấp máy, lắp bắp. Đúng là mắc

bệnh nói.

Hình như Gala cười có diễn một tiết mục văn nghệ về một anh chàng

mắc bệnh nói nhiều thì phải.

Ca dao có câu:

Rượu lạt uống lắm cũng say,

Người khôn nói lắm, dẫu hay cùng nhàm.


Chương IX: Xuân Diệu


Hồi kháng chiến chống Pháp, có lần tôi đã được thấy Xuân Diệu. Lúc ấy

tôi đang học ở trường Trung học kháng chiến đóng ở Đào Giả - Phú Thọ. Tôi đi

khám bệnh ở một bệnh viện ở Đại Đồng. Hình như anh cũng đi chữa răng thì

phải. Có người biết Xuân Diệu, chỉ cho tôi. Anh đi xe đạp, mái tóc lượn sóng,

rất thi sĩ.

Từ ngày về Hà Nội học, rồi công tác ở Đại học, tôi có dịp đến Xuân

Diệu mấy lần cùng với Nguyễn Duy Bình và Hoàng Ngọc Hiến. Vào cuối

những năm 60, sang những năm 70 của thế kỉ trước, tôi luôn viết cho tạp chí

Tác phẩm mới do Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tô Hoài thay phiên nhau phụ

trách, vì thế luôn có dịp tiếp xúc với Xuân Diệu.

Xem chừng anh rất tín nhiệm tôi. Có lần tôi ngồi uống cà phê với anh ở

24 Điện Biên, bỗng anh nói: “Đây là hai tài nhân nói chuyện với nhau” (Anh

không nói nhân tài mà lại nói tài nhân)

Khi tập thơ Những năm 60 của Huy Cận ra đời, Xuân Diệu đặt tôi viết

bài phê bình đăng Tác phẩm mới. Anh nói, Huy Cận đang đi Pháp, Mạnh phải

viết thẳng tay, nêu rõ nhược điểm cho cậu ta đỡ chủ quan. Tập thơ nhiều bài

yếu lắm. Khi viết bài ấy, anh có trao đổi góp ý với tôi.

Biết anh mến tôi, tôi đến anh luôn.

Xuân Diệu là người rất chu đáo, thiết thực và tiết kiệm. Chu đáo, thiết

thực, tiết kiệm đến tỉ mỉ, chi tiết. Thấy tôi viết bản thảo kín cả hai mặt giấy, anh

cho tôi một cuốn giấy báo, bảo rọc ra, viết một mặt thôi (Hồi này đời sống khó

khăn đến nỗi giấy trắng để viết văn, viết báo cũng thiếu thốn. Tôi thường phải

dọc giấy để dùng làm bản thảo những tờ giấy bỏ thừa không viết hết ở cuối

những bài tập làm văn của học sinh, vợ tôi thường thu về nhà để chấm). Những

lần tôi đến anh vào buổi chiều, mải nói chuyện đến gần tối, anh thường giục tôi

về, vì đường thì xa, đi lại nguy hiểm. Anh nói: “Có thể ở nhà vợ lo bị cướp xe

đạp ấy chứ!”. Có lần trời nắng, đi qua nhà anh, tôi tạt vào mượn cái mũ. Anh

cho mượn cái mũ lá đã cũ (hình như của Hà Vũ, con Huy Cận), vậy mà vẫn dặn

phải giữ cẩn thận, khi nào ra Hà Nội trả lại anh. Có lần đang ngồi với anh, thấy

có người nhà đem sách báo cũ ra bán cho hàng đồng nát. Anh gọi với theo:

“Này, những cái bìa sách các tông đẹp, nhớ lấy lại mà dùng”. Thấy anh có một

u già giúp việc (U Khang), tôi tưởng mọi việc chợ búa, bếp núc, anh chẳng phải

quan tâm. Vậy mà không phải. Anh tỏ ra rất thạo giá cả thực phẩm ngoài chợ,

giá trứng, giá thịt. Có lần tôi đã được nghe anh tính toán rất tỉ mỉ: “ Ba quả

trứng gà 33 đồng, 2 quả trứng vịt lộn giờ 18 đồng một quả, nhân 3 là 36 đồng,

bổ hơn 3 quả trứng gà chứ, 3 lạng thịt bò nhiều hơn 3 lạng thịt lợn, vì thịt bò

nhẹ hơn. Nhưng 3 lạng thịt bò có bổ hơn 2 quả trứng vịt lộn không thì chưa rõ.

Nhưng cũng phải đổi món chứ...Còn thịt chó thì thịt lẫn xương 4 đồng rưỡi một

lạng, thịt nầm 6 đồng một lạng...” (Tính theo giá tiền đầu những năm 1980).

Thấy tôi nhiều khi có vẻ lơ đãng, cẩu thả, anh thường nói giễu: “Cậu đúng là

nhà văn lớn”, hoặc “cậu nghệ sỹ quá, nghệ sĩ hơn cả mình”.

Một lần tôi đến Xuân Diệu với con trai tôi là Nguyễn Đăng Thanh. Nó

sắp đi nước ngoài học. Tưởng tôi đưa con đến chào anh trước khi đi Liên Xô,

anh rất cảm động. Anh sôi nổi dặn dò cháu đến nửa tiếng đồng hồ.

Xuân Diệu thỉnh thoảng có một chuyến đi xa, như đi Liên Xô, Pháp hay

ấn Độ gì đó. Bao giờ anh cũng chú ý mua quà về cho những người thân. Nhưng

không tuỳ tiện mà lập danh sách hẳn hoi, và tuỳ từng người mà tặng các món

quà khác nhau. Tôi cũng được nằm trong danh sách ấy. Khi thì một cái áo sơ

mi, khi thì một bao thuốc lá ngoại, sang nhất là một cái đồng hồ đeo tay Liên

Xô hiệu Pơndốt.

Xuân Diệu làm việc rất cần cù. Một tấm gương lao động quyết liệt: đọc

sách, dịch sách, viết văn, làm thơ. Mùa hè, tôi thấy anh xoay trần ra viết. Nghỉ

ngơi cũng là học tập. Anh mở nhạc cổ điển ra nghe. Anh nói, cứ nghe nhạc mãi,

dù không hiểu nó cũng thấm vào người. Vậy mà có ai đến chơi, anh vội vàng

xếp cả lại, tiếp đón rất nhiệt tình. Kể cả người anh không ưa. Có một lần đang

nói chuyện với anh, thấy một người ghé vào. Anh tiếp rất niềm nở. Khi người

ấy về, anh nói với tôi: “Sao tôi ghét thằng cha này thế!”. Ghét mà vẫn tiếp chu

đáo? Đoán biết tôi thắc mắc thế, anh giải thích: “không tiếp nó lần sau nó không

đến nữa”. Tôi nhớ lại, có lần anh nói: “Người ta yêu vờ yêu vịt còn hơn là lạnh

như tiền. Người ta vỗ tay để lấy lòng mình thôi còn hơn là không vỗ tay”. Lại

nhớ câu thơ của anh:

Và hãy yêu tôi một giờ cũng đủ

Một giây cũng cam, một phút cũng đành.

Thì ra Xuân Diệu rất sợ cô độc. Rất lo không có ai thương mình, không

có ai nhớ mình, tìm đến với mình.

Xuân Diệu rất sợ chết. Có lần tôi đến anh. Anh chỉ bức ảnh bà má của

anh mắc vào giá sách, nói: “Bà má mình đấy. Bà ấy mất rồi. Không có bằng

chứng gì chứng tỏ bà đã từng sống ở trên đời”

Lần khác tôi đến anh khi Như Phong vừa chết. Anh nói, Như Phong

chủ quan, cho là mình khoẻ lắm. Không có doute méthodique về sức khoẻ của

mình. Anh lắc đầu, lè lưỡi: “cái chết ghê gớm thật, nó biến con người ta từ plus

infini thành moins infini!”.

Lúc đó tôi không biết nói gì. Nhớ đến cái chết của Nguyên Hồng, tôi

nói: “Nguyên Hồng cũng chết một cách đột ngột” (giống Như Phong)

Xuân Diệu ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Không, Nguyên Hồng chết rồi,

nhưng cái văn của anh ấy vẫn còn rên rỉ. Còn Như Phong, chết là không còn

dấu vết gì nữa. Mấy bài phê bình, ai đọc!”

Xuân Diệu ngay từ nhỏ đã rất có ý thức giữ gìn mọi tài liệu, bút tích của

mình. Anh còn giữ nguyên năm cuốn vở học sinh hồi học ở Quy Nhơn, ghi chép

linh tinh đủ thứ: nhật ký, những dòng suy nghĩ tản mạn, dịch thơ, tập sáng tác...

Trải qua bao biến thiên của cuộc đời, rồi những lần sơ tán trong hai cuộc kháng

chiến chống Pháp, chống Mỹ, vậy mà vẫn giữ nguyên, không sờn không rách.

Một con người có ý thức rất cao về bản thân mình.

Đọc mấy quyển vở ấy, tôi thấy có một bài thơ anh đặt tên là ”Những

người chết trẻ”. Chắc là một người bạn học của anh chết, anh xúc động làm bài

thơ này. Bài thơ khá dài, gồm nhiều đoạn, đoạn nào cũng chỉ xoay quanh cùng

một ý. Chẳng hạn, đoạn một nói về các bạn gái rất thương bạn, khóc. Nhưng rồi

yêu người này, người khác và quên. Đoạn hai, nói về các bạn trai, đoạn ba nói

về anh chị em ruột, ý vẫn thế thôi: lúc đầu thương, khóc, sau cũng quên. Đoạn

cuối cùng nói về cha mẹ. Cha mẹ thì không bao giờ quên con, nhưng cha mẹ sẽ

già và chết. Thế là hết, chẳng còn ai thương nhớ mình nữa:

Nhớ các anh hoài chỉ mẹ cha,

Song tro tàn lạnh không còn lửa,

Rồi đèn mờ tắt. Thế là thôi,

Không một người thương ở cõi đời.

Cùng một ý ấy – “Những người chết trẻ” – tôi còn thấy một bài thơ

khác ở dạng một bản nháp:

Vẻ đẹp và non và mạnh mẽ

... yêu như điên

Biết bao hình bóng đầy vẻ thơ

Biết bao khuôn mặt còn ngây thơ

Biết bao mái tóc còn như tơ

Biết bao cặp mắt đầy ước mơ

Sau cái màn quên đã mịt mờ!

.............................................

Biết bao chàng thanh niên đã chết

Đã chết! Tiếng sao mà gớm ghê!

Đã chết! Đã đi không còn về.

Mang theo lực, tài, xuân, hương, huê

Đã chết, tiếng sao mà thảm thê!

...................................................

Biết bao chàng thanh niên đã qua

Như gió xuân đi không để vết

.................................................

Thế đấy, biết bao chàng thanh niên

Đã chết trước khi chưa được sống...

Té ra, từ tuổi thiếu niên, Xuân Diệu đã nghĩ đến cái chết, đã lo đến khi

phải từ giã cõi đời này. Và điều đặc biệt là anh đã nghĩ cách chống lại cái chết,

nghĩa là trở thành bất tử – bất tử trong lòng người.

Chống lại cái chết bằng cách nào? Bằng cách làm thơ, anh gọi là “Thơ

trái tim”.

Trong quyển vở học sinh, quyển thứ ba (đề tập III, 1934), tôi thấy anh,

ngay từ tuổi học trò, đã có hẳn một lí thuyết về sự bất tử của thi ca. Anh viết

một đoạn văn dài, đặt dưới cái đầu đề: “Một bài thơ với một tên người”. Lập

luận của anh như sau:

“Thơ là đồ chơi, là đồ ru ngủ, là đồ không thiết thực, nghĩa là - sao

không nói hẳn?- đồ bỏ. Các nhà tận tâm về sinh kế của xã hội, các nhà thiết

thực, các nhà nghiêm khắc nói thế. Phải hay không tôi chẳng cần biết. Với

Fontenelle, tôi muốn cho rằng ai cũng phải cả (tout le monde a raison). Tôi chỉ

để ý mà thấy rằng: Ba ngàn năm qua chôn nắm xương tàn của Homère. Nói về

danh vọng và bất hủ, đã ba ngàn năm Homère vẫn được tôn sùng... Cái gì rồi

cũng qua đi. Đế quốc Lamã, đế quốc Charlemagne. Nhưng cái chết không diệt

được cái gì không phải là vật chất. Mà cái đầu tiên không phải là vật chất

chẳng phải là thơ sao? Thơ - cám dỗ của mơ màng...”

“Với những khúc anh hùng ca (épopée) Jliade, Odyssée, Homère sống

đến nay... Song thiên tài thời bất hủ là lẽ cố nhiên. Phải chăng thơ có cái ma

lực siêu việt thời gian, mà đến những người chỉ có tài (talent) cũng có thể sống

ở trong thơ, hơn nữa, trong một bài thơ?”

“Một bài thơ cứu một tên người, vớt một tên người ở trong giòng thời

gian nó lôi cuốn sự vật vào miền quên lãng?... Phẩm hơn lượng, le sonnet sans

défaut vaut, seul, un long poème... Nhưng vài câu thơ trong ấy rung động

những trái tim lại đáng giá bằng mấy bài sonnet không nhầm lỗi... Ta để ý xem,

những bài thơ cứu một tên người, khá nhiều là thơ tình cảm, thơ trái tim. Tư

tưởng có thể thay đổi, bây giờ còn ai muốn nghe những lời biện thuyết của

Luther, những bài thơ của Rousseau, bây giờ ai ưa?... Nhưng trái tim người...

khi nào cũng có những trẻ con, những bà mẹ, những cô gái, những mẹ già,

nghĩa là những con người, họ yêu thương, họ vui vầy, họ đau xót... Cho nên

tiếng kêu than của Trác Văn Quân vẫn còn tìm thấy tiếng vang trong lòng

những cô Bạch Lệ ảnh”.

“ở đây tôi không nói những danh sỹ như Ronsard, họ có dư thơ để mà

sống trường cửu. Tôi chỉ nói những nhà thi sĩ còn ở trong trí nhớ nhờ một bài

thơ. Những nhà thơ ấy cũng có làm nhiều bài, song chỉ được có một bài xuất

sắc. Trên dòng thời gian vô cùng tận, họ chỉ có một chiếc lá thả trôi đi. Tôi

không biết thơ Tàu cho nhiều. Song tôi vẫn nghe tiếng nàng Ban, ả Tạ. Tôi vẫn

còn nhờ ý tứ bài thơ vịnh quạt của Triệu Yến Phi. Có lẽ trong văn Tàu, người ta

cũng còn nhớ đến nàng, nhờ bài thơ kia”.

Còn ai không biết đến bài “Hồi văn” của Tô Huệ? ở đây mới đúng cái

trường hợp một bài thơ với một tên người...

Như vậy là đối với Xuân Diệu, điều quan trọng nhất không phải là

chuyện văn chương thơ phú mà là chuyện làm sao được sống mãi với đời, sống

mãi với nhân loại. Văn chương thơ phú chỉ là phương tiện để giúp anh sống mãi

trong lòng người, một thứ vũ khí để chống lại cái chết. Và tôi hình dung cả cuộc

đời lao động nghệ thuật quyết liệt của Xuân Diệu là một quá trình quyết đấu với

cái chết.

Trong mấy quyển vở học sinh ấy, tôi còn thấy điều đặc biệt này ở con

người Xuân Diệu: luôn đòi hỏi tình cảm cao độ, tình yêu mãnh liệt, yêu phải hết

mình. Trong mấy quyển vở nói trên, thỉnh thoảng lại thấy có một đoạn nhật kí.

Có một đoạn nhật kí như thế này: anh ghi tâm trạng rất đau khổ của

mình, đau khổ đến mức như là thất tình vậy. Lúc đầu tôi cứ tưởng thế, chắc là

một cô bạn gái nào đấy – vì anh viết tắt tên cái người mà anh cho là không còn

yêu anh nữa. Đọc tiếp mới biết không phải. Đó là một anh bạn trai. Và lí do rất

trẻ con: “Hôm ấy mình đến mượn B cái quần đùi. B. nói, chốc nữa mình đi đá

bóng, không cho mượn được”. Có thế mà đau khổ! (Khi trả lại mấy quyển vở,

tôi nói với Xuân Diệu như thế – Lúc đầu tưởng là bạn gái, hoá ra là bạn trai -

Xuân Diệu ngồi im một lát rồi bảo tôi: “Này, đừng nói với ai nhé, người ta hiểu

lầm!).

Mấy trang sau, tôi lại thấy một đoạn nhật ký nữa. Cũng vẫn là nỗi đau

khổ nói trên – Và vẫn là cái anh B. nào kia. Lần này, lý do khác: có một gánh

hát cải lương Nam kỳ ra biểu diễn ở Quy Nhơn. Học sinh mua vé đi xem. B.

không có tiền, vay một bạn nào đấy tiền mua vé. Xuân Diệu biết được. Thế là

lại đau khổ như là thất tình: bạn bè với nhau, không có tiền, không nói với mình

một tiếng, mà lại đi vay người khác.

Trong mấy quyển vở nói trên, Xuân Diệu tập viết đủ loại văn thơ nhưng

tôi để ý thấy, dù viết thể văn nào thì chủ yếu cũng quay quanh tình bạn. Và dù

là thơ hay văn xuôi, dù là dịch thơ Pháp, thơ Tầu thì cũng thể hiện sự khao khát

tình bạn đến cuồng si mà không được đền đáp xứng đáng. Một cái tôi cảm thấy

cô đơn, vắng người tri kỷ. Ví dụ, đây là một đoạn văn như thế:

“Tôi là một đứa si, gặp bạn thì yêu hết lòng, xa nhau một khắc thời lấy

làm nhớ, thế mà giứt mối tình một cách mau chóng như thế, làm sao mà chịu

nổi phẫn uất, lòng hận sầu? Đêm hôm ấy nằm mà thở dài một mình, sáng dậy

viết cái thư thật dài, gửi cho bạn:

Ôi! Nhân sự.

Trọng của nỡ khinh người!

Vẫn tưởng lòng son in một tấm

Đâu ngờ dạ thế trắng như vôi!

“Bao nhiêu tình đem tặng bạn tôi, bạn tôi đã không nhận mà quăng

xuống đất bùn trả lại cho tôi. Tôi chỉ xin nhặt lại, rửa cho tinh khiết như cũ, rồi

đem chôn kỹ trong một góc quả tim tôi vậy. Bây giờ tôi chưa quên được tình cũ,

song ngày qua tháng tới, có một ngày cũng sẽ quên. Than ôi! Vũ trụ mang

mang, nước non rộng lớn, từ đây đến lúc chết, suốt một đời há lẽ không kiếm

được khách thân bằng ư?”

Luôn luôn đòi hỏi tình cảm cao độ, nên Xuân Diệu thường dễ có mặc

cảm người ta lạnh nhạt với mình. Có một lần, lâu tôi không đến thăm anh. Khi

gặp, anh nói dỗi: “Cậu bây giờ nổi tiếng rồi nên chán mình chứ gì?”.

Tôi nhận thấy Xuân Diệu có một cái gì như là có chất đàn bà vậy – hay

hờn dỗi. Và khác hẳn với Nguyễn Tuân, anh hay bộc lộ thẳng tình cảm với

những người mà anh quý mến.

Thực tình tôi không hiểu sao Xuân Diệu lại có thể thân với Huy Cận. Họ

quả cũng có những chỗ hợp nhau. Nhưng Huy Cận đâu phải hạng người tử tế,

ngay cả trong tình bạn với Xuân Diệu.

Hai ông bạn, có chỗ này quả là giống nhau: cùng ăn rất khoẻ và chỉ

thích thịt cá, trứng vịt lộn, nghĩa là những thứ nhiều prôtit.

Hồi khoa văn Đại học sư phạm Việt Bắc đưa sinh viên về Hà Nội (đóng

ở Cổ Nhuế) để mời các nhà văn đến nói chuyện, tôi có được nhờ tiếp khách hộ.

Tôi thấy Xuân Diệu rất thích uống bia và húp trứng sống. Anh còn nói, tối nào,

cần viết một cái gì thì buổi chiều thế nào cũng phải mua ba lạng thịt chó để bồi

dưỡng. Có thế mới có sức viết (Xuân Diệu chết vì bị nhồi máu cơ tim, tức là

máu nhiễm mỡ, cần kiêng ăn nhiều thịt, trứng. Khi anh mất, Vũ Tú Nam nói,

Xuân Diệu đã bồi dưỡng nhầm là vì thế). Huy Cận cũng vậy. Phải nói là tham

ăn.

Nhưng điều rất vui là, tuy cùng ăn khoẻ mà Huy Cận thì được khen là

bình dân, còn Xuân Diệu thì bị chê là tham ăn. Nguyễn Khải thấy như thế, khi

tháp tùng hai cây bút đàn anh này vào tham quan Nam Ngạn, Hàm Rồng, mừng

thành tích bắn máy bay Mỹ (năm 1965). Họ chiêu đãi các vị. Quan ăn tham

(Huy Cận) thì gọi là bình dân, còn dân (Xuân Diệu) thì gọi là tham ăn. Đúng là

một dân tộc chỉ trọng quan lại.

Hai ông bạn còn có chỗ này cũng giống nhau: có ý thức giữ đầy đủ

những bản thảo các tập thơ làm trước cách mạng tháng Tám. Giữ nguyên cả

những bản nháp từng bài một. Một bài thơ có thể có tới ba bốn bản nháp, từ bản

này sang bản khác, sửa chữa thế nào cho đến bản cuối cùng khi bài thơ được

hoàn thiện. Chẳng hạn như bài Nguyệt Cầm của Xuân Diệu (lúc đầu đặt tên là

Đàn trong trăng sáng). Trước khi trở thành một thi phẩm tuyệt tác mà ta đều

biết, bài thơ đã trải qua nhiều bản nháp, trong đó có những câu còn rất thô sơ

vụng về như:

Nhỏ giọt vào trăng, đêm thuỷ tinh

Linh lung bóng sáng bỗng run mình

Vì nghe tới đoạn giai nhân chết

Xanh ngắt không mây nguyệt một mình.

Riêng câu kết, có tơi bốn lần nháp khác nhau:

... Đàn ơi, người đẹp đến tê mê

... Thôi mà! âm nhạc giết tôi đi!

... Dịu dàng âm nhạc giết tôi đi!

... Đàn ơi! Âm nhạc giết ta đi!

Cuối cùng mới tới được câu kết tuyệt vời này:

Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê

Tài liệu này rất quý. Từ những bản nháp này, có thể nghiên cứu viết

được những công trình khoa học rất hay về ngôn ngữ thơ ca, về lao động nghệ

thuật... Xuân Diệu sẵn sàng cho tôi mượn. Rất tiếc hồi ầy chưa có photocopy dễ

dàng như sau này. Chép tay thì biết đến bao giờ, nhất là lại chép cả những chỗ

dập dập xoá xoá, viết đi, viết lại, rất ngại.

Bây giờ Xuân Diệu mất rồi. Tất cả ở trong tay Huy Cận.

Có lần tôi định dùng mẹo để lấy ra từ tay Huy Cận. Tôi hướng dẫn một

cô sinh viên làm luận văn cao học, tên là H T H, về Lửa thiêng. Cô này khá

xinh đẹp, lại khôn ngoan. Tôi giới thiệu cô đến Huy Cận để hỏi han, trao đổi,

dần dà thân mật, sẽ mượn cho tôi tập bản thảo kia, lúc đầu là bản thảo Lửa

thiêng của Huy Cận, sau đến bản thảo Thơ thơ, Gửi thương cho gió của Xuân

Diệu. Bây giờ sẵn photo rồi, chỉ cần mượn ra nửa tiếng đồng hồ là có thể chụp

được hết.

Tôi đã thất bại. Huy Cận tìm cách lợi dụng cô này mà không chịu mất

gì. Thái độ gạ gẫm lộ liễu, rất tởm, đại khái đặt tập bản thảo bên cạnh, cầm tay

cô và nói: “Phải thế nào mới cho mượn chứ!”. Sau này tôi mới biết, đừng hòng

lấy không một cái gì ở ông ta. Anh Hà Minh Đức đã bị một vố rất đau: trả ông

ta mấy triệu để lấy bút tích và bức ảnh của ông thời trẻ. Anh chỉ nhận được một

bản photo! ảnh cũng photo!

Tôi không hiểu sao Xuân Diệu lại có thể tin cậy Huy Cận đến thế. Ông

bạn này đã gây khó khăn cho người ta nghiên cứu Xuân Diệu, lại định dùng tài

liệu của Xuân Diệu để kiếm chác. Cái phòng ở của Xuân Diệu, dù cho vốn

thuộc quyền sở hữu của Huy Cận, lẽ ra cũng nên giữ nguyên để làm bảo tàng

ông bạn. Huy Cận đã xoá hết dấu vết, dọn dẹp đi hết. Rồi hai bố con tranh nhau.

Vậy là người có tội lớn nhất đối với Xuân Diệu lại chính là ông bạn thân thiết

số một của anh. Xuân Diệu muốn sống mãi trong lòng người. Đó là điều anh tha

thiết nhất lúc sinh thời. Vậy mà chính ông bạn “quý” kia đã phản lại anh ở

chính cái điều anh vô cùng tha thiết ấy.

Tuy nhiên tìm hiểu quan hệ giữa Huy Cận và Xuân Diệu, thấy tình bạn

thân thiết giữa hai người là có thật. Năm 1940, sau khi đỗ tú tài, Xuân Diệu học

luật một năm rồi thi vào ngạch tham tá nhà đoan và được điều vào làm việc ở

Mỹ Tho cho đến 1943. Thời gian này Huy Cận vẫn đi học. Khi Huy Cận đỗ kĩ

sư canh nông, có việc làm, Xuân Diệu liền xin thôi việc trở lại Hà Nội ở với

Huy Cận, sống nhờ vào lương Huy Cận. Nguyễn Công Hoan nghe nói chuyện

này, hỏi: “Thế không sợ Huy Cận nó đá đi à? Lúc ấy thì sống bằng gì mà bỏ

việc?” Xuân Diệu nói: “Lúc bấy giờ tôi không hề nghĩ đến tình huống đó”.

Đúng là lãng mạn! Tôi biết, thời Tây, tham tá (commis) thuộc loại viên

chức cao cấp, lương khá lắm. Bỏ đi dễ dàng như vậy quả là rất lãng mạn và tỏ

ra tin tưởng tuyệt đối ở tình bạn. Tuy nhiên tình huống “Huy Cận đá”, tôi nghĩ

khó xảy ra. Vì Huy Cận nhà nghèo, tuy có học bổng nhưng còn phải nuôi hai

em đang học ở Thanh Hoá. Xuân Diệu thường giúp đỡ bạn rất cụ thể. Thời gian

làm tham tá đoan ở Mỹ Tho, anh cứ đều đều gửi ra cho Huy Cận mỗi tháng 10

đồng. Khi Huy Cận tham gia cách mạng, Xuân Diệu còn vào tận quê Hà Tĩnh,

lo thu xếp gia đình cho Huy Cận để bạn an tâm công tác. Mặt khác, trong hoạt

động sáng tác, Huy Cận cũng cần một chỗ dựa là Xuân Diệu. Xuân Diệu sớm

có chân trong Tự lực văn đoàn, như vậy là có thanh thế lắm (Huy Cận tha thiết

xin vào Tự lực văn đoàn nhưng không được chấp nhận).

Tôi đã được chứng kiến Huy Cận sẵn sàng quy phục và tỏ ra phụ thuộc

vào Xuân Diệu như thế nào: Hôm ấy tôi đến Xuân Diệu, thấy Huy Cận ở trên

gác xuống, ăn mặc chỉnh tề, cứ loanh quanh ở căn phòng của Xuân Diệu. Thấy

tôi, Huy Cận khoe vừa dịch bài thơ tình của Arvers (Sonnet d’Arvers): “Mon

âme a son secret, ma vie a son mystère”. Bài này đã có một bản dịch rất được

truyền tụng của Khái Hưng “Lòng ta chôn một khối tình, Tình trong giây lát mà

thành thiên thâu...”. Huy Cận đã đọc cho tôi nghe bản dịch của anh và lấy làm

đắc ý: “Tôi dịch sát nghĩa hơn bản dịch của Khái Hưng chứ!”

Xuân Diệu mắng luôn: “Dịch sát nghĩa mà là hay à?”

Xuân Diệu rót nước ra cốc mời tôi uống. Huy Cận hỏi: “Nước mơ hả?”.

Lại bị Xuân Diệu mắng: “Mơ mơ cái gì, làm gì có mơ!”

Thấy Huy Cận cứ nói chuyện với tôi, Xuân Diệu lại mắng nữa: “Anh

Mạnh anh ấy đến chơi với tôi chứ, sao cứ nói mãi thế!”.

Tôi rất lấy làm lạ: Sao Xuân Diệu cứ mắng Huy Cận như mắng con nít

mà toàn chuyện chẳng đáng gì cả!

Thì ra sáng hôm ấy, Huy Cận hẹn với Quang Huy ở Nhà xuất bản Văn

học tới làm việc về một tuyển tập thơ của mình, cho nên ăn mặc chỉnh tề và cứ

loanh quanh ở tầng một, phòng Xuân Diệu.

Một lát, Quang Huy đến. Huy Cận ra làm việc với Quang Huy ở phòng

ngoài. Xuân Diệu giải thích với tôi: “Dạo này làm được mấy bài thơ, cứ hoắng

lên. Mình phải mắng cho cụt hứng đi, đỡ chủ quan. Cứ tưởng bở!”

Làm việc với Quang Huy một lát, Huy Cận chạy vào báo cáo với Xuân

Diệu, đại khái nói, Huy đề nghị bỏ mấy bài nào đấy và Cận thấy cũng phải.

Xuân Diệu nổi nóng: “Không bỏ! Sợ mất ghế thứ trưởng à?”

Huy Cận nhăn nhó: “Khổ quá, sợ gì đâu. Thấy Huy nó nói cũng có lý”.

Thì ra tuyển thơ của mình như thế nào, Huy Cận cũng phải báo cáo với

Xuân Diệu.

Xuân Diệu đúng là chỗ dựa của Huy Cận trong đời và trong sáng tác.

Nhưng khi ông bạn chết rồi thì còn cần gì nữa. Máu tham và thói ích kỉ, bần tiện

liền trỗi dậy và giết chết luôn tình bạn.

Xuân Diệu không chỉ cần cù đọc sách, làm thơ, anh còn rất chăm chỉ đi

nói chuyện. Đâu mời cũng đi. Đối tượng nào cũng nói. Các bà cấp dưỡng, các

nông trường viên mời cũng đi ngay. Lại còn gợi ý cho người ta mời nữa. Anh

thường nói với tôi khi lâu lâu tôi không mời anh nói chuyện với sinh viên:

“Phải khẩn trương khai thác mình đi chứ!”. Đối với mỗi đối tượng, anh đều rút

kinh nghiệm nói sao cho hấp dẫn. Anh tính toán rất tỉ mỉ, từ sự sắp xếp nơi nói

chuyện ra sao, cự li người ngồi nghe thế nào, mùa hè khác, mùa đông khác,

thỉnh thoảng lại phải xen vào một câu chuyện vui cho không khí đỡ tẻ. Đặc biệt

anh hay kết hợp phổ biến “sinh đẻ có kế hoạch” (không hiểu sao Xuân Diệu

luôn luôn lo lắng đến chuyện này). Anh nói một hồi mà không thấy vỗ tay, rất

dễ mất hứng. Nhiều khi không kiên nhẫn được nữa, anh hỏi thẳng người nghe:

“Sao, có thích không? Thích thì phải vỗ tay lên chứ!”

Xuân Diệu rất sợ thái độ lạnh nhạt, dửng dưng. Anh cho có nhiều thằng

đàn ông rất ngu, vợ nấu cho món ăn ngon, cứ chén hùng hục mà không biết

khen lấy một câu. Tôi nhớ câu thơ của anh:

Em có tài nấu nướng

Anh có tài ngợi khen.

Xuân Diệu thích nói chuyện với giáo viên nhất.

Đầu năm 1985, Hữu Thỉnh, sau đại hội nhà văn lần thứ III, là uỷ viên

chấp hành phụ trách nhà văn trẻ. Anh mời chúng tôi đi Tuyên Quang bồi dưỡng

một lớp nhà văn trẻ ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Đoàn có Xuân Diệu, Chính

Hữu, Lê Lựu, Nguyễn Thành Long, Vương Trí Nhàn và tôi.

Giáo viên trường Cao đẳng Sư phạm Tuyên Quang, nhân dịp này, mời

Xuân Diệu đến nói chuyện. Hôm sau họ lại mời tôi. Xuân Diệu bảo tôi: “Giáo

viên họ mời thì nên đi. Nói chuyện với giáo viên lợi lắm. Nói với người khác,

một người nghe là chỉ một người. Nói chuyện với giáo viên, một người nghe

bằng hàng trăm người. Vì các thày cô giáo lại nói lại với học sinh của mình”.

Đi nói chuyện là một yêu cầu tự thân của Xuân Diệu. Anh có nhu cầu

được tiếp xúc và trò chuyện với nhiều người, thật nhiều người. Cho nên ở mấy

ngày với anh ở Tuyên Quang, tôi thấy anh đi nói chuyện liên miên. Nói sáng,

nói chiều, nói tối, khản cả cổ. Được có thêm một người biết đến mình, anh

sướng lắm. Cho nên anh thường nhắc đi nhắc lại câu chuyện về một anh hàng

nước mía nào đấy ở Tuy Hoà (Phú Yên) biết anh là nhà thơ Xuân Diệu và đãi

anh một cốc nước mía bốn đồng: “Thi sĩ cỡ như tôi có thể được tổng thống mời

tiệc ấy chứ. Nhưng được một anh hàng nước mía biết đến, khó lắm!” Xuân Diệu

nói một cách đầy tự hào.

Xuân Diệu luôn luôn có ý thức bảo vệ Thơ mới và văn học lãng mạn. Ai

đụng đến Thơ mới là không xong với anh. Anh ghét Vũ Đức Phúc, Phạn Cự Đệ,

Lê Đình Kỵ là vì thế. Anh không ưa cả Hoài Thanh vì tác giả Thi nhân Việt

Nam vốn rất mê Thơ mới là thế mà nay lại quay ra phê phán Thơ mới quá gay

gắt (Tố Hữu cũng phải nói: “Hoài Thanh tát mình quá đau”). Anh cũng luôn

luôn đấu tranh cho sự tồn tại chính đáng của cái tôi cá nhân và thơ tình. Vấn đề

này, ngày nay chẳng ai còn thắc mắc. Phải là kẻ gàn dở hoặc ngu tối lắm mới

phủ định cái tôi cá nhân và thơ tình. Nhưng sinh thời Xuân Diệu, nghĩa là

khoảng đầu những năm 1980 trở về trước, đấu tranh cho sự khẳng định cái tôi

cá nhân và thơ tình là cả một thái độ dũng cảm. Tôi nhớ thời chống Mỹ, có lần

anh nói với tôi: “Mỗi lần in một tập thơ, mình phải đưa ra trước hàng loạt bài

chống Mỹ như một cái đầu tầu xe lửa, sau đó, xen vào những “toa” thơ chiến

đấu, lén lút mắc vào một cái “toa” thơ tình cho nó kéo ào đi”. Nhưng thơ tình

của anh lúc bấy giờ nhiều khi không hẳn là thơ tình, không dám là thơ tình thật

sự. Đó nhiều khi chỉ là thơ của cái nghĩa vợ chồng (Anh chờ em về ăn cơm, Đứa

con của tình yêu, Em làm bếp... Tôi gọi thế là thơ về “giai đoạn văn xuôi” của

tình yêu) hoặc phải gò theo khẩu hiệu “vui duyên mới không quên nhiệm vụ”

thường thấy giăng lên ở những phòng cưới thời chiến tranh...

Ngoài ra, về tình yêu, trái tim anh cũng không còn cái cuồng nhiệt, cái

mãnh liệt như thời trước. Mà không say đắm cuồng nhiệt thì làm sao tạo được

thơ tình thật sự!

Vào những năm 60, 70, 80 của thế kỉ trước, Xuân Diệu bỗng làm rất

nhiều thơ tình. Số lượng gấp bội so với thơ tình trước cách mạng. Vào năm

1961, ở anh dường như có một sự thức tỉnh trở lại về tình yêu. Anh nói: “Năm

1961, do một mối tình đến với mình mà mình cảm thấy tình yêu thật sự sống lại

mạnh mẽ. Hoá ra “Đáy chĩnh vét rồi, hãy còn hạt gạo” – giống như như câu

thơ của Baudelaire “Un brin de paille brille encore dans l’étable”. Anh định làm

một cuốn từ điển về đủ các trạng thái của tình yêu: nhớ, ghen, hờn – dỗi, rồi lúc

thức, lúc ngủ, khi ăn, khi uống...

Nhưng dư luận không đánh giá cao thơ tình của anh sau cách mạng. Tôi

cũng thấy như vậy. Nguyễn Kiên nói đúng, thơ tình Xuân Diệu sau cách mạng

dùng kỹ thuật nhiều hơn là có tình yêu thật với một đối tượng có thật. Cách làm

thường là thế này: dựa vào một chi tiết có thể có rồi phóng đại lên, ngoa ngôn

lên cho thành say đắm. Chẳng hạn, em gửi cho anh một bức thư, nói nhớ anh.

Thế là như đang đi giữa sa mạc bỗng thấy nhân loại quanh mình. Hoặc là, em

có vẻ lạnh nhạt, anh buồn quá. Nhưng một bữa cơm, em gắp cho anh một miếng

thịt bằng ngón tay, thế là:

Anh ăn như miếng ngọc

Dạ vui sướng nghẹn ngào

Nghĩ tình em vô tận

Khi bỏ vào bát anh...

Đúng thế, bản thân kỹ thuật không bao giờ tạo ra thơ. Trước cách mạng,

anh có dùng kỹ thuật gì đâu mà đúng là thơ tình:

Anh nhớ bóng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh,

Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!

Dù sao thì cũng có một thời, Xuân Diệu cũng đã từng là nhà thơ tình số

một ở nước mình. Và đến bây giờ, liệu đã có ai vượt được?

Có một hồi, người ta cứ đồn Xuân Diệu ái nam ái nữ. Không rõ hư thực

thế nào. Rồi anh cưới Bạch Diệp. ái năm ái nữ sao lại lấy vợ? Nhưng được mấy

tháng, Bạch Diệp bỏ luôn. Vậy là sao?

Thực ra Xuân Diệu chỉ mắc chứng đồng tính luyến ái và bất lực trong

quan hệ tình dục, chứ không ái nam ái nữ.

Hồi kháng chiến chống Pháp, tôi công tác với anh Lã Hữu Quỳnh ở Sở

Giáo dục Liên khu Việt Bắc (Anh Quỳnh là một nhạc sĩ, sau 1954, về Hà Nội

làm Hiệu phó trường nhạc trung cấp). Anh quê ở Bắc Giang. Trong thời gian

kháng chiến, các văn nghệ sĩ đi công tác qua, thường ghé vào nhà anh ngủ nhờ.

Một lần, Xuân Diệu và Trần Văn Cẩn vào ngủ nhờ. Nửa đêm, anh thấy Cẩn

đùng đùng dậy chửi mắng Xuân Diệu thậm tệ.

Anh Xuân Tửu một lần cùng Xuân Diệu ở trong một đoàn văn nghệ sĩ đi

thăm đảo Cô Tô. Chiều hôm trước họ nghỉ lại ở Móng Cái để hôm sau đáp tàu

ra đảo. Xuân Tửu muốn tắm truồng nên một mình lang thang ra biển tìm chỗ

vắng người. Nhưng rất phiền là cứ thấy Xuân Diệu lẽo đẽo đi đằng sau. Đi một

chập, Xuân Diệu biết ý Xuân Tửu, nói: “muốn tắm truồng phải không? Thì

cùng tắm”. Xuân Tửu mừng quá không phải vì được tắm, mà vì nhân dịp này,

biết đích xác Xuân Diệu có ái nam ái nữ hay không. Anh giương mục kỉnh để

nhìn cho rõ – Té ra rất đẹp! – Xuân Tửu nói với tôi như vậy.

Sau khi Bạch Diệp bỏ Xuân Diệu, anh Huỳnh Lý có một lần cùng ăn với

Xuân Diệu ở khách sạn Phú Gia. Huỳnh Lý gạ chuyện: “Mình có học với cậu từ

nhỏ (cấp II Quy Nhơn), mình biết chứ. Người ta cứ nói cậu ái nam ái nữ, nhưng

có phải đâu (trẻ con thằng nào ái nam ái nữ, nó vật ra khám ngay, dấu sao

được)

Xuân Diệu im lặng một lúc rồi nói: “Cái con Bạch Diệp trắng trợn! Để

rồi mình uống thuốc, sẽ khá lên dần. Nó bỏ luôn”.

Người làm mối Bạch Diệp cho Xuân Diệu là Nguyễn Đình Thi và Hằng

Phương. Hôm cùng đi vào Đà Nẵng, Nguyễn Đình Thi nói với tôi: “Tôi cứ bị cô

Bạch Diệp chửi mãi”

Thực ra, chuyện Xuân Diệu có vấn đề về sinh lý, Bạch Diệp cũng có

ngờ ngợ trước khi nhận lấy Xuân Diệu- Chị cẩn thận đi hỏi Tô Hoài là bí thư

Đảng đoàn văn nghệ – Tô Hoài nói, không biết và mách đi hỏi Huy Cận. Huy

Cận nói không có chuyện gì. Nhưng Bạch Diệp vẫn cảnh giác: Cưới rất to

nhưng không đăng kí kết hôn. Thành ra khi biết chuyện, bỏ luôn, không phải ra

toà lôi thôi.

Khi Xuân Diệu mất, Bạch Diệp viếng một vòng hoa trắng.

Hôm giỗ đầu Xuân Diệu (tháng 12 – 1986), người ta tổ chức một cuộc

hội thảo khoa học lớn ở câu lạc bộ lao động. Tôi được mời đọc báo cáo. Tôi đọc

bài: “Tư tưởng và phong cách một nhà thơ lớn: Xuân Diệu”. ở bài này, lần đầu

tiên tôi đưa ra mấy ý được hoan nghênh: tư tưởng nghệ thuật (idée poétique)

của Xuân Diệu là niềm khát khao giao cảm hết mình với cuộc đời trần tục, trần

thế này; Xuân Diệu là người đầu tiên đưa vào thơ ca Việt Nam, tình yêu thật sự

là tình yêu, nghĩa là sự giao cảm tuyệt đối từ nhục thể đến tâm hồn (khác với

thơ tình của Huy Cận, chỉ là tình yêu platonique); một cách tân quan trọng của

Xuân Diệu về thi pháp: coi con người giữa tuổi trẻ và tình yêu là chuẩn mực của

cái đẹp.

Chị Xuân Như, em Xuân Diệu, có mặt hôm ấy, đến gặp tôi, nói: “Anh

viết rất đúng về anh tôi”

Rất tiếc, giá mà Xuân Diệu đọc được!


*

Nhớ lại, lần đầu tiên tôi đến Xuân Diệu ở 24 Điện Biên là vào năm

1966. Cuối năm 1985 thì Xuân Diệu qua đời. Hai mươi năm quan hệ mật thiết

với anh, tôi được tiếp chuyện anh không biết bao nhiêu lần. Đối với tôi, anh

không dấu điều gì. Từ chuyện đời, chuyện văn, chuyện yêu ghét người này,

người khác, chuyện ăn uống sao cho có sức khoẻ và sống lâu để viết, rồi chuyện

kinh nghiệm viết với đủ ngón nghề cụ thể. Cả chuyện khôn khéo luồn lách nữa

để có thể đối phó với đời... Anh đã cấp cho tôi biết bao tri thức và kinh nghiệm,

và đã khuyến khích tôi rất nhiều. Anh muốn tôi hiểu thật rõ, thật kĩ về anh để

viết thật tốt về anh. Và về phần mình, tôi cũng muốn như vậy.

Những lần trò chuyện với anh, nói chung, tôi đều có ghi lại. Giờ tôi

muốn chép ra đây một ít, cố truyền đạt lại chính xác từ ý tứ tới giọng điệu của

anh, mong muốn nhớ lại được con người cụ thể của anh, cá tính, tính cách cụ

thể của anh. Nhân tiện, qua cái cuộc trò chuyện, cũng thấy được tâm lí xã hội cụ

thể của giới cầm bút một thời và không khí lịch sử cụ thể của nền văn học ta

mấy chục năm về trước.

Tối 8 – 6 – 1966, tại 24 Điện Biên.

Tôi đề cập đến Thơ mới.

Xuân Diệu nói, không muốn nói chuyện Thơ mới. Mệt – Ngại lắm.

Hãy dồn tinh lực cho hiện tại, làm thơ chống Mỹ. Nhưng rồi anh lại nói

sôi nổi về Thơ mới.

Anh rất tự hào vì người ta vẫn chép thơ của anh. Đi bơm xe đạp, có một

anh bơm cho rất kỹ, rồi gạ chép Thơ thơ. Năm 1954, gặp anh Lê Duẩn ở bến

phà Ròn, Quảng Bình. Lê Duẩn nói: “Thơ trước cách mạng của anh, tôi mê, thơ

sau cách mạng của anh tôi chưa mê”.

Xuân Diệu cho vấn đề quyết định là vấn đề trái tim . Chúng tôi chỉ cần

trái tim. Trái tim là “chép thơ”. Có hai hệ thống tiếp nhận thơ mới: giảng

officiel trong nhà trường và việc chép thơ của thanh niên. Một điều rất bực là ở

trường phổ thông người ta cứ cho lãng mạn là xấu (Huy Cận có mặt lúc ấy, nói

xen vào “quần chúng công nông rộng rãi hơn các nhà nghiên cứu”). Tố Hữu đã

từng ngâm Vạn lý tình và Tương tư chiều... Thời gian sẽ ủng hộ những phần

tích cực của Thơ mới. ở Liên Xô, người ta công nhận cả ba nhà thơ: Blốc,

Êxênhin và Maiakôpxki. Nhưng quan điểm của ông anh thứ hai (Trung Quốc)

thì ghê quá! Tả còn hơn hữu, sợ quá! Nhưng mà thôi, chả cần bàn bạc làm gì,

chỉ cần người ta chép thơ tôi. Còn thầy giáo, đánh giá hay dở, tốt xấu, học sinh

nó không nghe đâu!

Xuân Diệu rất ghét người ta cho thơ tình của anh là truỵ lạc. Anh nói:

“Mình thuốc lá cũng không biết hút, có thể nói là nhà quê”. Anh cũng rất ghét

người ta cho anh là chịu ảnh hưởng symbolisme và André Gide. Anh nói: “Đây

là sự bắt gặp chứ không phải chịu ảnh hưởng. Khi tôi làm thơ, tôi chưa đọc

Gide, mãi đến khi ra Hà Nội, học lycée mới đọc”.

Xuân Diệu cho khẳng định ý nghĩa tích cực của sự ra đời của cái tôi cá

nhân là đúng. Còn mâu thuẫn giữa cái tôi và cộng đồng là mãi mãi. Cần hiểu ý

thức cá nhân khác với chủ nghĩa cá nhân.

Khi Xuân Diệu xuất hiện, Thế Lữ trở thành démodé, rồi người ta không

đọc anh nữa. Cái mốt lên tiên của Thế Lữ là évasion nặng: Phải hiểu Xuân Diệu

không phải tìm tòi về nghệ thuật mà là cố tìm cách nói cho chân thật, có khi lời

thơ sống sượng, Tây quá. Lúc đầu người ta không thừa nhận là thơ, là có âm

điệu, vì quen với cái du dương Thế Lữ rồi. Xuân Diệu muốn giao hoà với mọi

người mà không được. Cô độc. Buồn. Nhưng không thoả hiệp. Muốn quẫy ra

khỏi cái sầu, cưỡng lại cái sầu mà không được. Nhưng lòng yêu đời vẫn mạnh

hơn cái buồn.

Anh đồng ý với tôi: “Đúng là thơ Xuân Diệu có cái mâu thuẫn: mùa

xuân và tình yêu mâu thuẫn với chiều thu và đêm lạnh. Nhưng tuy không đi với

quần chúng, mình vẫn ghét bọn giầu sang và xã hội kim tiền. Mình đi tìm lối

thoát mà bế tắc. Nhưng nếu không cô đơn thì thoả hiệp, thoả mãn với xã hội

sao!”

Bỗng Xuân Diệu xoay ra nói đến cái chết của Nguyễn Bính. “ Nguyễn

Bính chết hồi Tết. Bất ngờ quá! Có lẽ do thiếu bồi dưỡng”. Anh tỏ ra rất lo lắng.

Tối 10 – 8 – 1966, tại 24 Điện Biên.

Xuân Diệu nói về tiểu sử của mình. Anh cũng nói nhiều về cái tôi cá

nhân cá thể (individu) và về Thơ mới.

“Đời ông tôi ở trong tứ hộ nổi tiếng hay chữ ở Hà Tĩnh. Bố tôi là một

ông tú kép, có vợ, vào Bình Định lấy bà hai làm nước mắm ở Gò Bồi. Ông cụ

học chữ Tây, đỗ primaire. Chỉ dạy học, không thích ra làm việc nhà nước và

không thích phải luồn cúi. Có học nghề thuốc bắc.

Mình học ở cha tính cần cù, lòng thương người, không thèm khát vươn

lên xã hội quyền quý.

1934 đỗ diplôme. 1935 ra Hà Nội học tú tài. Đỗ tú tài, học một năm

luật. Năm 1941 thi tham tá đoan. 1943 thôi làm đoan. 1944 tham gia Việt Minh.

Tuy có chân trong Tự lực văn đoàn, nhưng không tham gia tổ chức kinh tế với

cánh Ngày nay. Rất yêu quốc văn – Yêu quốc văn là có bao hàm lòng yêu nước

– vì tiếng Việt đương thời bị coi là tiếng vợ lẽ. ở trường học hồi ấy có ba môn bị

khinh bỉ: chữ Hán, tiếng Việt và Vẽ.

Rất thích làm thơ. Nhưng không évasion như Thế Lữ (tiên), Hàn Mạc Tử

(điên), Chế Lan Viên (ma), Huy Cận (siêu hình), Vũ Hoàng Chương (thuốc

phiện), Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Thứ (kín mít, cho chữ vào hũ, lắc rồi xếp

ra).

Nói Xuân Diệu là nói individu. Phạm trù individu tư sản thoát khỏi ý

thức hệ phong kiến là một tiến bộ, là dân chủ hơn so với tư tưởng trượng phu,

quân tử. Tất nhiên đói nghèo thì không đòi hỏi ý thức cá nhân được. Khi cá

nhân tách ra, tự riêng, tự phân biệt với đại gia đình phong kiến thì có vui nhưng

cũng có buồn. Tự biết mình, tự phân biệt mình với người thì cảm thấy cô đơn.

Ngày nay cũng thế thôi. Nhưng Xuân Diệu dừng lại ở đấy, không thoát ly và

vẫn lạc quan yêu đời, tuy cô độc. Vì vẫn bám lấy cuộc đời, không thoát ly nên

gặp cách mạng, theo cách mạng và làm thơ ngay.

Cái tôi Thơ mới như con bướm thoát xác. Lần đầu nó khám phá thiên

nhiên bằng con mắt tươi mới, không nhìn bằng ước lệ nữa – Thế Lữ vẫn chưa

thoát ước lệ.

Cơ sở xã hội của Thơ mới là tiểu tư sản, không phải tư sản.

Ông Trường Chinh nói với hoạ sĩ Lê Lam: “Đi qua sông Hồng, tôi nhớ

bài Tràng Giang của Huy Cận. Ông nói với Huy Cận, khi làm bài Là thi sĩ, tuy

có nói đến bài Cảm xúc của Xuân Diệu, nhưng không phải để đả Xuân Diệu mà

để vận động giác ngộ một người lúc đó là cai khố đỏ. Anh này mê thơ lãng mạn.

Có ba yếu tố tạo nên thơ Tố Hữu: Tố Hữu, cách mạng và Thơ mới. Tố Hữu chịu

ảnh hưởng thơ Xuân Diệu rất rõ “Ôi cô đơn thấm lạnh tâm tình!”, “Xuân bước

nhẹ trên cành non lá mới”...v.v...

Xuân Diệu khi tìm thấy cái tôi của mình thì đâm sợ, muốn thoát mình.

Bài Viễn khách, Lời kỹ nữ là thế. Kỹ nữ là Xuân Diệu. Xuân Diệu tự đặt mình

vào thân phận người bị dập vùi. Người con gái khổ mà không gào to như anh

đàn ông, tuy ít bị tình phụ hơn mà gào rất to, như Musset.

Tình yêu là cái tuyệt đích nên không bao giờ thoả mãn. “Nous mettons

l’infini dans l’ amour. Ce n’est pas la faute des femmes” Anatole France nói

thế. Vì thế nous souffrons. Đó là Xa cách, là Hi mã lạp sơn...

Thế Lữ nói được cái buồn “Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn”. Huy

Thông thì romantique rất rõ: quay về quá khứ, về cái orient. Có hình ảnh cái

lầu La mã, cái rèm La mã. Mấy câu đầu của Tiếng địch sông Ô, Con voi già...

mở rất rộng, hay... Thơ Xuân Diệu cũ mà mới. Bài Viễn khách: “Đang lúc

hoàng hôn xuống, là giờ viễn khách đi”, có hơi hướng câu thơ cổ “Đương quân

hoài quy nhật, Thị thiếp đoạn trường thì”. Bài Nhị hồ, Vội vàng, Đây mùa thu

tới cũng thế, vừa cổ vừa kim. Tả mùa thu mà không hoàn toàn tàn lụi. Mùa thu

tropical, nhiệt đới. Baudelaire ca ngợi Phi Châu nhiệt đới. Mình ở vùng nhiệt

đới sao không ca ngợi cây cỏ tropical của mình. Còn cái cô đúc của thơ Xuân

Diệu thì bắt gặp Đường thi và Baudelaire, bắt gặp Symbolisme.

Cái quẫy của cá nhân thực ra có từ Hồ Xuân Hương, Lâm Đại Ngọc,

bắt đầu biết yêu theo kiểu cá nhân (mình – ta) nên buồn. Lâm Đại Ngọc chôn

hoa tức là chôn mình. L’Isolement của Lamartine, René của Chateaubriand là

thế...

Hàn Mạc Tử gắn với đời hơn Chế Lan Viên. Chế Lan Viên không được

độc giả chú ý lắm vì không nói gì liên quan đến họ.

Tình yêu phải là một phạm trù riêng. Không cứ phải nói tình yêu gắn

với sản xuất, chiến đấu. Cứ nói riêng nó thôi cũng được, miễn là lành mạnh.

Phải nâng tình yêu lên thành khái niệm. Hiện ta vẫn là giai cấp tự tại, tự nó,

chưa có ý thức về tình yêu. Ta lấy vợ mà chưa yêu. Chung thuỷ là vĩ đại thật,

song chưa có khái niệm về yêu thật sự. Yêu thật sự là mình với ta”.

Xuân Diệu xoay ra nói kinh nghiệm làm thơ.

“Làm thơ không chỉ có ý là được. Phải có xương thịt vật chất. Như cứ

lấy giọng rê rê rê rồi bắt gặp một nét nhạc thật sự. Có khi vì tìm được một câu

thơ, một điệu thơ nào đó mà làm thành cả một bài thơ. Khi nẩy ra một điệu nào

đó thì nhất định phải làm theo cái điệu ấy. Y như yêu mà chỉ có khái niệm trừu

tượng thì không phải là yêu thật. Phải trông thấy một người con gái, có cái mũi,

cái tai như thế nào đó rồi mới hình thành tình yêu...”

Ngày 4 – 7 – 1967. 24 Điện Biên

Xuân Diệu nói say sưa về cái anh gọi là “chiến thuật” nói chuyện với

quần chúng sao cho hấp dẫn. Từ bố trí nơi nói chuyện, ánh sáng thế nào, cửa

đóng cửa mở, đến xếp ghế ngồi, cự ly mùa hè, mừa rét... Và đối với người nghe

thì phải làm cho họ không chán. Anh nói: Phải “chim” quần chúng. Họ mê rồi

thì tha hồ kéo họ đi, đi Tây Bắc, Tây Nguyên, đâu cũng được.

Khi trời tối, phải nói ngầm, thì ví với vợ chồng ban đêm nói chuyện với

nhau, vợ nói anh chồng thỉnh thoảng phải ờ ờ lên để chứng tỏ chưa ngủ, vẫn

nghe. Khi nói một chập , quần chúng tỏ vẻ chán, thì lại hỏi: “Phành phạch trong

lòng đã chán chưa?”. Khi nói muộn quá thì ví cái tình của người ngoài 40 tuổi

như nắng quái chiều hôm còn mạnh hơn ban trưa, “vì yêu một cách truy lĩnh...”

Nhưng mở đầu thế thôi, chủ yếu vẫn nói về kinh nghiệm làm thơ. Anh

nói có yếu tố vô hình trong đời sống và trong thơ: “Nhìn một người yêu cụ thể

có mặt mũi, tóc tai, song khi yêu thì cảm thấy được một cái gì đấy khái quát và

vô hình, thí dụ một tâm hồn trong trẻo, tươi mát. Nhà thơ có khi tả một buổi

sáng mùa xuân, đi hái một bông hoa. Nhưng cái hữu hình đó lại cốt để diễn đạt

cái vô hình: chẳng hạn cái cảm giác thoải mái tươi mát của tâm hồn...

Cái vô hình còn là cái nhân tố không thú nhận inavoué. Trên đời, có

anh cứ nói loanh quanh mãi, thực ra có khi chỉ cốt đến để xin một bữa cơm. Cái

inavoué có khi rất tầm thường, có khi rất cao cả. Giảng thơ phải biết cái

inavoué, cái vô hình đó và căn cứ vào cái cái hữu hình mà phân tích ra.

Làm thơ cốt cho hay, phải có tài có sắc mới tồn tại được. Cần gì những

thành kiến lung tung. Cốt quần chúng đọc thơ, cốt hai trẻ yêu nhau, còn cô, dì,

chú, bác nói ra nói vào thì cần gì!

Nghiên cứu Xuân Diệu, phải nghiên cứu yếu tố thời gian. Xuân Diệu

luôn luôn băn khoăn về thời gian. Yêu cuộc sống, tất băn khăn về thời gian.

Con người sinh ra từ thời gian. Mà thời gian có không gian của nó. Tính toán,

cân nhắc điều gì, Xuân Diệu đều nghĩ đến cái chết. Sợ chết thì phải làm thơ cho

nhanh. Mẹ tôi mất, mẹ Huy Cận mất. Các bà ấy từng có lúc sống thật trên đời

không nhỉ? Nếu không tập hợp, giữ gìn di vật còn lại thì có thể là chưa bao giờ

từng sống.

Trong đời người ta có những phút giao cảm – gọi là giao cảm mới thật

đầy đủ, đầy đủ hơn là nói yêu. Có khi giao hợp, hôn nhau mà không giao cảm.

Có những lúc giao cảm thế mà sau thôi không yêu nữa. Là vợ chồng rồi có khi

mất cái phút ấy, thậm chí không lấy nhau, có khi trông thấy nhau cứ lạnh như

tiền. Lạ lắm ! Tình yêu muốn vô biên song cuộc đời, lòng người nó hữu hạn. Và

chết là hết cả. Như là cái tangente giữa plus infini và moins infini. Đó là nói

tình yêu bách niên giai lão. Có nhiều khi thay đổi người yêu. Vậy thì phải hồi

tưởng lại cái phút giao cảm ấy. Vợ chồng sở dĩ gắn bó với nhau là do họ nhớ

lại những phút giao cảm của tâm hồn ngày xưa. Kỷ niệm do đó rất quan trọng

trong đời sống tinh thần. Hiện nay, nhiều khi người ta sống chỉ để ăn uống thôi,

họ không có đời sống tinh thần. Tôi làm thơ để đem đến cho họ cái khoái lạc

tinh thần.

Thơ tình của tôi luôn là sự hồi tưởng lại cái phút giao cảm ấy, trong

thời điểm ấy, ngày ấy, buổi chiều ấy, con đường ấy, cái chỗ cong cong ấy ta đã

ngồi bên nhau (không gian có tính thời gian). Bây giờ đi qua một mình, muốn

dựng bia kỉ niệm ở chỗ ấy của cái tình đôi ta.

Pháp có ba bài thơ nói về kỉ niệm cũng nói đến cái không gian rất cụ

thể:

Tristesse d’ Olympio (V. Hugo)

Le premier regret (Lamartine)

Premier souvernir (Musset)

Có lúc mình muốn để dành tiền, nhưng nghĩ lúc chết thì có ý nghĩa gì.

Có lúc muốn ăn thêm một miếng thịt, nhưng ăn thêm rồi cũng chết. Để miếng

thịt ấy cho đứa em ở xa, gọi về cho nó ăn.

Tôi định lúc sắp chết sẽ viết tất cả những mémoires xấu của mình,

những cái tầm thường của mình. Hiện nay người ta ít viết về cái đó.

Làm thơ, mỗi bài thơ nó có cái vị riêng của nó như thịt bò thì phải làm

món ấy, cái đó phải cho vào nước chấm thịt vịt chứ cho vào nước chấm thịt gà

thì hỏng. Cho nên có tứ thơ nghĩ ra mà phải để dành đó đến lúc làm bài thơ

đúng món mới đưa vào được”.

Ngày 1- 12- 1981, 24 Điện Biên

Tôi đến thăm Xuân Diệu, anh mừng lắm: “Tưởng Mạnh giận mình

không đến nữa. Hôm ấy mình nóng, nói sẵng. Tưởng Mạnh giận”.

Thì ra anh hối hận vì bữa ấy tôi đến mời anh tới dự một cuộc hội thảo về

giảng thơ Hồ Chủ Tịch (anh Hoàng Dung tổ chức, nhờ tôi đến mời Xuân Diệu),

anh đã trả lời một cách thẳng thắn và gay gắt: “Còn có gì mà nói nữa về thơ

Hồ? Mình không đi đâu! Bây giờ mà còn bình với giảng về thơ Hồ là nhảm

nhí! nhảm nhí!”

Giờ thì anh rất niềm nở tiếp tôi.

Lần này anh nói nhiều về sự hình thành hồn thơ anh.

“Ông bố tôi sớm giác ngộ tân học. Ông tự học tiếng Pháp. Mua từ điển

học, ông còn tự học làm thuốc nữa. Sau ông xin được một chân dạy chứ Hán ở

Collège Quy Nhơn, lương 18 đồng. Một loại chargé de cours thôi. Mình học bố

đến hết cấp I, đỗ Certificat còn thiếu một tuổi, phải học lại. Sau lên học collège.

Đỗ diplôme năm 1934. Đúng lúc khủng hoảng kinh tế. Định đi thi làm thừa

phái nhưng không có điều kiện. May sao được gọi ra Bắc kỳ học trường Bưởi.

Biết Hà Nội. Biết Bắc Kỳ. Thấy được mùa thu và cái lạnh Hà Nội. Rất

thích, rất mê thiên nhiên Bắc kỳ. Mình dường như được bừng tỉnh trước vẻ đẹp

của đất trời, sững sờ trước những cành đào nở hoa ở chùa Sinh Từ... Theo tôi

romantisme chỉ có thể phát sinh, phát triển ở Bắc kỳ với tác động của thiên

nhiên bốn mùa phong phú. Hoa, hoa rất đẹp. Trại hoa Thuỵ Khuê, gần Bưởi.

Mùa thu Hà Nội tuyệt đẹp, lạnh hơn bây giờ. Trời trong, cao, nắng vàng...

Thiên nhiên Bắc kỳ, hoa Bắc kỳ đã đẻ ra văn Khái Hưng, Nhất Linh và thơ Thế

Lữ.

Thiên nhiên đi vào thơ tôi, có cảnh mùa thu, mùa đông, mùa xuân của

Bắc kỳ. Còn mùa hạ thì có trăng và biển Quy Nhơn. Gió nồm Quy Nhơn có một

cái gì rất sắc dục, rất charnel.

Mình học hết 2 ème secondaire thì Huế mở ban tú tài. Bèn vào học

2ème secondaire ở Huế. Thế là lại biết Huế. Mình ra Hà Nội đúng vào cái tuổi

l’âge de puberté, thấy có một cái gì rất sắc dục trong thiên nhiên và ở con

người. Huế cũng rất đẹp, cũng rất tình. Đặc biệt có cái lassif sắc dục rất Huế,

nhưng kín hơn. Giọng hò Huế mê ly...

Năm 1940 mình thi tham tá đoan và vào làm việc ở Mỹ Tho. 1943 Huy

Cận đỗ kỹ sư canh nông, mình xin thôi việc ra Hà Nội, học luật, ở với Huy Cận

ở 61 Hàng Bông. Phong trào Việt Minh phát triển. Huy Cận gặp Nguyễn Thành

Lê. Lê đưa Huy Cận vào Đảng Dân Chủ (Dương Đức Hiền lãnh đạo). Đảo

chính Nhật. Huy Cận gặp Dương Đức Hiền ở Hà Đông, được đưa lên chiến khu

hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Khoảng 17- 8 gì đó mình vào Hà Tĩnh lo

thu xếp hai bên gia đình (của mình và Huy Cận) để Huy Cận yên tâm đi chiến

khu – nếu cách mạng không thành công thì có thể phải đi xa (sang Tầu chẳng

hạn). Ngày 20 – 8, mình trở ra Hà Nội giữa cảnh cờ đỏ sao vàng bay trên các

mái nhà...

Mình lúc đầu ở đảng Dân chủ và tham gia quốc hội. Huy Cận làm bộ

trưởng. Lúc ấy mình không ưa Nguyễn Tuân và Nguyễn Tuân cũng không thích

mình. Anh ấy vẫn khăn xếp, áo gấm, rất chướng. In Nguyễn, đề “Kính tặng

Tôi”. Mình viết bài trên Tiên phong (kí tên Triều Mai) chế giễu: Nguyễn Tuân

tự đặt mình lên bàn thờ rồi sì sụp lễ bái mình. Kể cũng hơi hẹp hòi. Mình còn

viết bài phê phán Nguyễn Hải Thần là đứa con đi xa về chửi mẹ nó, không nhận

mẹ nó. Rồi làm thơ đả bọn Quốc dân đảng. Khi bọn Quốc dân đảng tổ chức

biểu tình “tổng đình công” chống tổng tuyển cử, mình dắt cái xe đạp

Hirondelle đi ở phía sau. Mình bảo đồng bào đừng đi theo bọn phản động.

Chúng nó thấy thế định bắt mình, mình vội bỏ xe đạp lẩn đi. Sau có người đem

xe đạp trả cho. Mình còn bảo đồng bào tập trung ở Bắc Bộ phủ để hoan nghênh

chính phủ lâm thời. Mình lúc ấy chỉ là Việt Minh, ở Văn hoá cứu quốc, chẳng

phải đảng viên. Cứ tự động, tự phát thế thôi”.

Rồi mình làm bài Ngọn quốc kì, ca ngợi cờ đỏ sao vàng. Nguyễn Huy

Tưởng ở văn hoá cứu quốc (đóng ở trụ sở Hội khai trí tiến đức, nay là Cục

Hàng không) commăng làm để đối lại với bọn phản động tung ra đủ thứ cờ táp

nham: sao trắng, ba gạch...

Có người cho mình là cơ hội chủ nghĩa. Báo Thiết thực của Quốc dân

Đảng (cánh Ngày nay) vẽ hình chế giễu: Cụ Hồ đứng như con cò câu cá ở suối.

Xa xa, Huy Cận tắm. Còn mình là con chim đầu xù ngồi trên cây hót. Mình lấy

làm tự hào về bức tranh này.

“Năm 1946, mình ở trong một đoàn văn nghệ đi vào Buôn Ma Thiêng,

Củng Sơn, đi sau đoàn Nguyễn Tuân. Trở ra Thanh Hoá, lúc Hồ Chủ Tịch đang

ở đó. Bác định lập một chiến khu ở Thanh Hoá. Bác ở một cái nhà Xéc (câu lạc

bộ) gì đó. Hôm sau bọn Pháp bắn súng vào cái nhà ấy. Hôm trước Bác nói

chuyện với đồng bào. Người ta chen nhau xem Hồ Chủ Tịch, có người bị gẫy

tay mà vẫn phấn khởi.

“Huy Cận thì theo chính phủ đi Hà Đông. Mặt trận Trúc Sơn vỡ, lại đi

Sơn Tây rồi lên Việt Bắc, ở Bắc Cạn thì phải. Mình cũng đi Bắc Cạn. Nó nhẩy

dù Bắc Cạn. Mình về Đại Từ. Rồi đi Phú Thọ, qua Bắc Giang, từng ở chỗ

Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố. Nhưng sau lên ATK làm đài phát thanh, trong khi

Tố Hữu, Nam Cao làm báo Cứu quốc”.

Nói đến đấy, Xuân Diệu dừng lại uống nước. Anh nghỉ hơi một lúc. Tôi

nhân đấy gợi ý anh chuyển hướng sang nói về thơ của anh.

Nói chuyện thơ, anh càng tỏ ra sôi nổi hơn:

“ Huy Cận là xúc giác

Xuân Diệu là mũi: khứu giác: “Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya” –

Mình học Baudelaire.

Chế Lan Viên không có da, không có mũi.

Bài “Mông lung” rất Xuân Diệu. Có cái không thể xác định rõ ràng là

linh hồn hay xác thịt. Đằng sau linh hồn là cái nền xác thịt, sắc dục. Hít thở xác

thịt của vũ trụ, cảm thấy mùi da thịt của..., không biết của ai, song rõ ràng là

cảm thấy cái mùi vật chất da thịt của những Dương Quý Phi, của những người

đẹp tự thuở nào. Hương da thịt tẩm trong vũ trụ. Và nhớ, không biết nhớ ai,

nhưng nhớ da diết. Thơ Xuân Diệu cảm và diễn tả được cái không rõ mà rất rõ,

cái nửa linh hồn, nửa xác thịt, dâm mà trong sạch, trong sáng. Nó là cái rạo

rực, cái uể oải của Huế, cái hồng hào của Hà Nội, cái charnel trong gió nồm,

trong gió biển Quy Nhơn...

Thơ Xuân Diệu tả rất giỏi cái nước đôi:

Mưa trưa và chiều tà

Suy và thịnh

Lặng lẽ và động.

Có một cái gì đấy mà Thế Lữ không cảm nhận được. Chỉ Xuân Diệu,

Huy Cận mới có cái antenne ấy để bắt được những sợi giây vô hình của thiên

nhiên. Thơ Xuân Diệu là vũ trụ sắc dục, charnel. Là cái mê ly, là tạo

atmosphère chỉ bằng vài câu, vài chữ.

Thơ Xuân Diệu mở đầu đột phá ngay, ào ra ngay. Nhiều vần sắc. Mãnh

liệt. Đột xuất. ào ào.

Bài Xuân không mùa. Sentir được phong cảnh. Ngồi ở hồ Tĩnh Tâm,

Huế. Có âm vang của Huế, đẹp, kín, không sắc dục lộ liễu như thơ làm ở Hà

Nội.

Mình có một bài inédit nói về vũ trụ là xác thịt: thịt là hoa hồng, máu là

hoa nhài, xương – liễu, mày – lau, mắt – hồ.

Thế đấy, thơ Xuân Diệu là thế. Frisson da thịt, sensation, antenne cảm

nhận vũ trụ da thịt, hít thở da thịt thiên nhiên. Thơ có mũi.

Anh ngừng nói, và bỗng chuyển sang phàn nàn về đời sống. Hôm ấy là

mồng một tháng chạp năm 1981. Ôi những năm 80 của thế kỉ trước! Đời sống

quá khổ cực. Mà Xuân Diệu thì quan niệm cuộc đời rất cụ thể: Đối với anh,

cuộc đời là bán một cuốn sách cũ cho đồng nát, phải giữ lại cái bìa cứng và mấy

trang giấy trắng; là ăn món gì phải tính toán vừa bổ vừa rẻ, là thịt chó, thịt lẫn

xương 4 đồng rưỡi một lạng, thịt nầm 6 đồng một lạng; là ngồi nói chuyện thơ

mà vẫn phải chú ý theo dõi con gà mái đẻ. Nó có tật ăn trứng. Thành ra nó đẻ,

nhà thơ phải nhanh tay vồ lấy...

Vì thế anh rất bực bội: “Xã hội bây giờ cứ bắt người ta làm thiên thần,

nên giờ người ta làm con vật. Bắt làm ange mãi, giờ người ta làm bête. Cách

mạng chỉ tạo ra vinh quang thôi ư? Phải ăn nữa chứ! Vinh quang trong đói

khát mãi sao!”.

Ba giờ chiều, ngày 12 – 12 – 1981, 24 Điện Biên

Trời rét. Khô ráo. Cổng ngoài nhà anh (và Huy Cận) dạo này có thêm

liếp che bên trong song sắt cho kín đáo hơn. Chỉ khoét một lỗ vuông. Cửa sổ

phía trước thấy đóng. Tưởng Xuân Diệu không có nhà, tôi bỏ đi, nhưng tính

toán thế nào lại quay lại và cứ đẩy cửa vào. Cửa sổ phía đông mở, nhìn vào thấy

cửa buồng không khép, biết có người ở nhà.

Tôi vào phòng, thấy Xuân Diệu đang nằm ngủ, đắp chiếc chăn len hoa.

Tôi cảm thấy phiền, muốn quay ra. Hà Vũ gọi. Xuân Diệu trả lời, giọng hơi gắt:

“Cái gì thế? Ai thế?”. Sau thấy tôi, anh vội mời vào.

Tôi nói: “Chết, anh đang ngủ, tôi không biết”

Anh nói: “Không sao, chả mấy khi Mạnh đến”

Có lẽ anh nghĩ, từ ngày anh đi Paris về, bây giờ tôi mới đến, phải có

chút gì của Paris để đãi tôi. Anh cho ăn phomát, uống rượu vang đỏ, hút thuốc

lá Mỹ, lại cà phê nữa.

Anh phàn nàn: “Cuộc sống giờ khổ cực quá. Xã hội bây giờ như nhà

không có chủ” – Anh lè lưỡi, nhắm mắt, lại lè lưỡi – Sợ quá!”

Anh khoe tập giấy ghi lời cảm ơn của những nơi anh vừa làm việc ở

Pháp, và đưa tôi xem bản chương trình làm việc ở Paris 7, Sorbonne, Nice và

một tờ báo Đoàn kết của Việt kiều.

Anh nói có một người đàn bà Pháp ở Alger tên là Francoise Roger tập

thơ Xuân Diệu như là tập Kiều. Đàn bà Pháp mà rất giỏi tiếng Việt. Bà ta lấy

một người Brasil. Bà ta cóp nhặt bốn câu thơ Xuân Diệu ở bốn bài thơ khác

nhau, rồi ghép lại thành một bài tứ tuyệt. Và vận dụng thơ Xuân Diệu vào cuộc

sống. Thí dụ: chạy vội theo tầu điện: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!”. Bà

ta theo hồi giáo, hôm nay ăn thịt, ngày mai ăn chay: “Anh ơi anh, em rất sợ

ngày mai”... Francoise Roger coi thơ tình Xuân Diệu hay hơn cả thơ tình

Musset.

Anh chê tập tiểu luận của Lê Đình Kỵ viết về Tố Hữu: “Huy Cận đọc

cho biết chứ tôi chưa đọc. Khen Tố Hữu thì cứ khen, việc gì phải chê Thơ mới.

Làm gì mà phải hạ nhân cách. Hàn Tín luồn khố để làm đại tướng, để làm

vương sau này. Lê Đình Kỵ buồn khố để nó cho vào Sài Gòn gần vợ à? Hay nó

không in sách cho? Anh Lý hải Châu rất tốt . Anh ấy bảo Trương Chính, trong

bài giới thiệu Tuyển tập Hoài Thanh, đã tán thành Hoài Thanh phê phán Thơ

mới. Anh ấy cắt bỏ đi. Tôi bảo anh Châu, sao anh không cứ để nguyên như thế.

Anh làm thế là anh cứu Trương Chính đấy chứ! Thơ mới không cần thế đâu. Tôi

chả dại đi bênh Thơ mới làm gì, nhưng mà tôi cứ đi bình những bài Thơ mới

hay!

Rồi anh nói tiếp vẻ bực bội: “Ta cứ có cái lối bế quan toả cảng, không

cho ai đi ra nước ngoài. Như đứa trẻ cứ bịt mãi, che mãi, da thịt nó vẫn cứ lòi

ra. Tôi còn đánh du kích Khổng Tử nhiều. Không biết nếu chỉ có nước mình mà

không có các nước khác thì ra sao? Nguy thật! Không qua tư bản chủ nghĩa,

thiệt nhiều quá! Không cho nói yêu, nói hoa lá thì đợi đến thế giới đại đồng mới

nói à? Thế trước cách mạng tháng Tám, ai nói yêu, nói hoa lá đều là sai cả à?

Là cản trở cách mạng à?”

Tôi cứ cặm cụi chép mấy bản nháp thơ của anh thời Thơ mới, anh nói:

“Mạnh hãy tạm xếp cái này lại để viết bài văn xuôi cho Tuyển tập Xuân Diệu

đã. Mà phải vay tiền Tuyển tập Nguyễn Tuân đi mà bồi dưỡng để viết - lấy

ngắn nuôi dài”.

Rồi anh xoay ra nói về lớp thơ trẻ: “Bọn làm thơ trẻ bây giờ ngu dốt

quá! Nó như cái ôtô lên giây cót. Hết giây cót là không chạy được nữa. Như

những cô gái tuổi dậy thì, ra vẻ lắm, oai lắm – anh khuỳnh tay, vênh mặt, làm

bộ kiêu ngạo - đến lúc có chồng, có con là thôi hết”.

Trưa ngày thứ sáu 25- 12 – 1981, 24 Điện Biên

Tôi đến Xuân Diệu để báo hoãn cuộc gặp mặt với anh vào sáng thứ bẩy

26 – 12. Cổng ngoài đóng. Nghe tiếng, anh chạy ra. Không có việc gì phải vào,

sợ mở khoá lôi thôi, tôi nói với anh một câu rồi từ biệt. Anh thò tay qua lỗ

vuông khoét vào cái phên nứa che ngoài chấn song cửa, bắt tay tôi. Anh nói: Ca

dao Khu Năm có câu:

Thương em, anh đút cái ấy qua rào,

Đút qua đút lại gai nó cào rách da

Nói xong anh cười ha hả.

Chủ nhật, ngày 31 - 1 – 1982, 24 Điện Biên.

Tôi đến khoảng 4 giờ chiều. Xuân Diệu đang làm việc ngoài sân sát cửa

sổ, trông ra cổng, dưới bóng hoàng lan. Bàn ghế làm việc bằng trúc.

Như mọi lần, anh tiếp tôi vồn vã. Tôi nói: “Anh đang làm việc, bận”.

Anh gạt đi: “Làm việc thì bao giờ mình chả làm việc”.

Tôi vào nhà. Huy Cận đang nói chuyện điện thoại ở phòng ngoài, một

lúc vào nói chuyện vụ đắm tàu chết người ở Quảng Ninh. Vớt xác khó khăn.

Người ta vớt đồ đạc, quần áo, hành lý chứ không vớt người: “Mình quá tin ở tư

tưởng thì thành thế đấy. Mình là Mácxít, coi ý thức do tồn tại quyết định, vậy

mà lại duy tâm. Duy tâm nên bây giờ chịu hậu quả, quy luật nó quật lại. Nhưng

thôi không nói chuyện buồn làm gì. Ta nói chuyện khác”.

Huy Cận đọc cho tôi nghe hai bài thơ anh mới làm.

Xuân Diệu giục tôi viết bài về văn xuôi của anh. Anh nói: “Mệt quá!

Viết khó lắm!, mệt lắm! Nhưng phải cố gắng thôi. Thời gian! Mình 67 tuổi rồi!

Trong ta có vàng, nhưng không viết thì vàng cũng không có thể khai thác

được”.

Anh lại nói kinh nghiệm rất cụ thể: “Viết mỗi trang phải chừa lề rộng.

Viết một mặt giấy thôi. Chừa lại một nửa để sau bổ sung. Không phải cứ viết

tuần tự từ đầu đến cuối. Cứ viết từng đoạn rồi lắp ráp, như chuyện cây tre trăm

đốt. Có khi cứ viết bừa đi rồi chế biến sau. Đánh thọc sâu vào hầm Đờ Cát. Một

mũi thọc sâu, bắt lấy Đờ Cát đã, rồi quay ra giải quyết bọn còn lại không khó

gì lắm”.

Anh mời tôi uống hai ba thứ rượu vang của Pháp, Hung, Bungari. và hút

thuốc lá ngoại.

Anh phàn nàn có nhiều việc không đáng phải làm mà cứ phải làm, mất

bao nhiêu thì giờ – những việc linh tinh về sinh hoạt.

Anh lại nhắc tôi phải ăn uống cho tốt. Và động viên: “Chúng mình còn

được người ta giao việc cho mà làm, thế là còn hơn nhiều người không có việc

gì mà làm”.

Anh chê cuốn sách của tôi viết về thơ Hồ, bữa trước tặng anh:

“Bám vào Sóng Hồng nhiều quá và sao cứ phải gò thơ H vào hiện thực xã hội

chủ nghĩa làm gì! Thế chỉ hiện thực xã hội chủ nghĩa mới có giá trị sao? Đã

đến lúc ai cũng phải lột trần truồng cả ra mà xem xét bình đẳng như nhau”.

Không hiểu sao câu chuyện lại xoay sang Chế Lan Viên lúc nào không

biết. Anh nói: “ Nhà văn có tri thức, có văn hoá cao là Nguyễn Đình Thi và

Huy Cận. Chế Lan Viên chỉ tài chế biến ngay những sách vở đọc được, dùng trí

thông minh mà vận dụng ngay. Chỉ có ngọn, chưa có gốc, có nền. Cứ phân tích,

xé chẻ ra, thiếu tổng hợp. Chỉ có cái gì là tổng hợp mới còn lại lâu dài.

Lối viết của Chế Lan Viên là phải dựa, phải tựa vào một cái gì đối lập,

phải phê phán, đả kích nó thì mới đưa ra cái chính diện. Không có cái gì để mà

đả thì không viết nổi.”

Anh tán thành ý kiến của tôi là cần biết thật tỉ mỉ về tiểu sử của anh. Và

anh bắt đầu thuật kể. Anh nói, bà má của anh đã có một đời chồng trước khi lấy

ông thân sinh anh. Bà là người không chịu khó làm ăn. Khi anh lên hai tuổi thì

bà cả vào. Bà cả (anh gọi là mẹ già) chịu khó làm ăn tần tảo. Má anh không ở

được, phải đưa anh về với bà ngoại ở Gò Bồi. Năm anh sáu, bẩy tuổi gì đó, bố

anh đưa anh về Quy Nhơn ở với ông và bà cả “cho khỏi hư hỏng”. Anh phải xa

má từ đó. Má anh sau tập kết ra Bắc ở với anh. Bà mất năm 1966. Bà cả sinh

con trai. Nó kém tuổi anh nhưng anh vẫn phải gọi nó là anh. Thằng “anh” nhỏ

này hơi một tý là mách mẹ nó. Nó còn đánh anh nữa. Hồi sang Pháp, phát biểu

ở Paris 7, anh nói: “Nhờ bị thằng em (thằng “anh” nhỏ) đánh mà tôi biết thông

cảm với những người bị áp bức”. Anh còn phải xách giỏ đi chợ, rất sợ gặp bọn

bạn học, nhất là con gái, con những ông Ký, ông Phán. Nhiều khi phải nép vào

hàng rào, chui vào bụi cây, nhưng không tránh thoát.

Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu được đưa vào Quốc hội. Tháng 5 –

1946, được cử vào phái đoàn Phạm Văn Đồng - đi Paris (hội nghị

Fontainebleau) kháng chiến toàn quốc, anh lên Việt Bắc, vào Ban chấp hành

Hội văn nghệ. Anh tự thấy có một cuộc thức tỉnh về quần chúng. Anh nói: “Bài

Bầm ơi! của Tố Hữu ảnh hưởng lớn tới hướng đi về thơ của mình. Bài Bầm ơi!

là một sự phát hiện về nhân dân, được viết một cách nhuần nhị. Một sự chuyển

hướng về tình cảm và về ngôn ngữ thơ. Rồi mình đi nói chuyện. Cũng là một

cách quần chúng hoá, vì phải nói sao cho quần chúng hiểu. Rồi tham gia phát

động quần chúng giảm tô ở làng Còng, Vĩnh Lộc, Thanh Hoá và làm thơ về bần

cố nông”.

Sau cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu sáng tác nhiều. Riêng thơ tình

của anh, tính cho đến lúc này là 450 bài, cộng với các loại thơ khác, phải ngót

1000 bài. Anh nói: “Nếu cần chọn một bài tâm đắc nhất, mình chọn bài Biển.

Hình ảnh biển từ nhỏ đã đi vào mình. Biển đau thương, bể khổ trong thơ ca

truyền thống và thơ Xuân Diệu. Vậy mà nay biển vui, đầy sức sống. Cách mạng

và cuộc đời đã đem lại cho mình một tâm hồn tươi mới”.

Xuân Diệu nói tiếp về những nhân tố tạo nên hồn thơ anh: “Có lý do

năng khiếu bẩm sinh. Có lý do ở sức yêu mến cuộc đời. Sống hết mình, toàn

thân, toàn trí, toàn tâm, toàn giác quan. Mình cảm thụ đời rất cụ thể, bằng cả

xương thịt, da, mũi, mắt, tai và hồn. Mình nói chuyện, điệu bộ, nét mặt nhăn

nhó buồn cười lắm, chụp ảnh mới biết. Nghĩa là rất cụ thể. Cả con người nói.

Toàn thân tham gia vào câu văn, không phải chỉ có ý mà cả luồng cảm xúc tràn

vào bài văn. Cho nên sáng tác là sống cao độ nhất cá nhân mình. Vì thế mình

ham sáng tác nhất, dành nhiều thì giờ cho sáng tác.

Còn có lý do cần cù học tập nữa. Mình như là bà già, cái gì cũng nhặt

nhạnh, tích luỹ. Đứa cháu đi đâu về kêu đói, bà đã có ngay cái cho cháu ăn rồi.

Do viết thư nhiều, tự phân tích mình, dần dần mình viết được văn xuôi.

Do nói chuyện nhiều, phải lập luận, phải thuyết phục, phải làm cho

người ta đồng cảm, mình viết được phê bình văn học.

Xuân Diệu tự cho là mình dại – dại mà lại thành khôn. Anh nói: “Do

yêu cuộc sống nên tôi dại. Dại mà khôn. Nghĩa là được sống có ích cho đời, cho

mình, được sống đầy đủ từng giây, từng phút của mình. Tôi ít đi tán chuyện, tán

chuyện rồi nói xấu người này, người khác. Mình cũng chẳng cao đạo gì. Để thì

giờ đọc và viết”.

Anh phàn nàn: “Cuộc sống của ta chật hẹp, gò bó quá! Con người ta

bao giờ cũng sống một cách toàn diện, họ vẫn phải ăn, ngủ, giao hợp. Mình thu

hẹp thơ tình yêu lại thì người ta sẽ chỉ có giao hợp, giao hợp, giao hợp mà

không có tinh thần nữa. Không có tình yêu giữa hai con người thì chỉ còn là

quan hệ giữa hai con vật”.

Thấy trời đã xâm xẩm, tuy muốn tiếp tục nói nữa, nhưng thông cảm với

tôi đi đường xa, anh giục tôi về kẻo muộn.

Ngày 14 – 2 – 1982, 24 Điện Biên

Trong lần gặp này, Xuân Diệu nói nhiều chuyện rất tỉ mỉ về thời thơ ấu,

thời học sinh của anh.

Anh nói: “Về tuổi thơ ấu, tôi chỉ mới nói một chút. Cần lắm. Phong phú

lắm. Tôi chưa viết hồi kí. Rất cần tự mình phân tích những kỉ niệm tuổi thơ, rất

có ích cho những thế hệ sau. Người ta sống hời hợt lắm, không sống sâu bản

thân mình, sống không có ý thức gì. Ta chỉ lo giáo dục tư tưởng. Tư tưởng là lí

trí thôi. Phải giáo dục tâm hồn, giáo dục tinh thần nhân văn, nhân bản, humain.

Tại sao chỉ nói bình thường mà vĩ đại mới quý, bình thường mà sâu cũng quý

chứ! Tôi mà chỉ được giáo dục về tư tưởng thì tôi sẽ là anh hùng, không phải là

Xuân Diệu, nhà thơ nữa.

Thời thơ ấu của tôi có biết bao nhiêu chuyện nó luyện cho cái vốn nhân

đạo, vốn yêu đời, yêu người, yêu hoa lá, biển, thiên nhiên...

Thuở bé tôi hiền lắm, chả bao giờ dám vùng lên. Cứ bị cái thằng anh

kém hai tuổi nó bắt nạt mà chịu. Tôi có thằng em ruột rất khổ, tôi đã viết trong

Phấn thông vàng. Nó lêu lổng, vagabond, bỏ nhà đi lang thang. Có một hồi đi

phu ở Tây Nguyên. Giờ nó làm báo ở Sài Gòn. Nó viết hồi ký. Giá Mạnh đọc

được thì tốt lắm, hiểu thêm thời thơ ấu của tôi. Nó sống lang thang, rách rưới

như ăn mày, nay gọi là “bụi đời”. Nó đặt tên tập hồi ký là “Gió cuốn bụi đời”,

ngờ đâu lại thành đúng nghĩa bụi đời ta vẫn dùng ngày nay.

Lúc nhỏ tôi ở với má ở Gò Bồi là chỗ làm nước mắm, trại làm nước

mắm của bà ngoại tôi. Sau ở với bố ở Văn Quang, cách Gò Bồi độ 10 cây số.

Thỉnh thoảng tôi có về bà ngoại. Tôi nhớ dì Bốn. Dì ấy thương tôi lắm. Trông

thấy dì ấy chắp nối những vụn nhiễu làm cái gối mà tôi thấy phong phú màu sắc

quá, rất thích.

Về sau khoảng 1939, tôi và Huy Cận có đến nhà anh Nguyễn Xuân

Khoát bói bài Tây. Anh Khoát bói cho tôi, nói số tôi luôn có “protection des

femmes” (được phụ nữ bảo hộ, bảo trợ) . Giờ tôi muốn tán phụ nữ, nịnh phụ

nữ, tôi cứ nói số tôi có “protection des femmes” .

Vì thế tôi được dì Bốn thương. Lúc dì ấy đi làm giúp cho mợ Mười tôi,

xuống đò qua sông, tôi cứ khóc gọi theo: “Dì đừng bỏ cháu đi lấy chồng!”

Thực ra có phải dì ấy đi lấy chồng đâu.

Tôi có một bà mợ, mợ Năm gì đấy cũng rất khổ. Một buổi nhà có khách,

mợ Năm ra ngoài uống nước hay ăn gì đó, thế mà bị cậu Năm mắng đuổi vào.

Mợ ấy buồn vì bị mọi người hắt hủi. Một mợ khác đẻ non rồi chết. Người ta nói

tại mợ ấy trông thấy một cái hoa chuối có trái nhưng cây lại chết nên không

thành được buồng chuối. Mợ ấy đẻ non và chết là vì thế.

Những người phụ nữ ấy gây ra ở tôi ấn tượng rất tội về nỗi khổ của

người đàn bà. Người đàn bà Việt Nam thời trước khổ lắm. Cái gương mặt của

họ nhìn thấy khó, thấy tối thế nào. Sau ngày giải phóng, tôi có về Plâycu, dì

Bốn tôi ở đó. Tôi có làm bài thơ về dì Bốn in trong Hồn tôi đôi cánh. Tôi định

làm một bài về mợ Năm, nhưng chưa làm xong.

Học xong cấp I, tôi lên Quy Nhơn học, ở nhà chú tôi. Chú tôi làm thư kí

đoan, thuê nhà ông Chín Cược. Ông Chín Cược giầu lắm. Nhà có vườn rộng.

Có cái giếng rất sâu. Có trồng thựơc dược, hoa to, cánh xoà - “Vàng tươi,

thược dược cánh hơi xoà”. Có hoa nhài bờ giếng. Đêm trăng hoa nhài rất đẹp

và thơm. Tôi như sống với những bông nhài. Tôi cũng thích hoa huệ. Huệ trong

Bình Định gọi là lan. Tôi làm thơ về hoa lan, nhành lan như vút cao, bông hoa

như chóng mặt vì ngợp. Sau vì muốn cả nước mọi miền đều thông cảm được, tôi

đổi thành hoa huệ “Nhánh vút làm cho bông huệ ngợp”. Huệ trong kia không

trồng ruộng hàng sào, bán hàng chục dò như ở Bắc.

Tôi thuở bé giỏi trèo cây lắm. Trong vườn ông Chín Cược có cây ổi,

mọc sau cái miếu, bên bờ tường đầy rêu trơn. Thế mà tôi theo một thằng bạn

tập trèo và trèo được. Trèo lên cao thấy cả một thế giới mới lạ. Có một cành ở

xa, có quả, tôi bò ra hái. Cả một thế giới mở ra với đứa trẻ. Tôi còn trèo me, lấy

được trùm me chín cho thím tôi muối và kho cá trầu, thú vị lắm.

Tôi rất mê cải lương. Hồi vào làm việc ở Mỹ Tho, tôi ở chính quê hương

của cải lương, quê của Phùng Há, Năm Phỉ. Năm 1932, cải lương ra Bắc. Một

gánh cải lương thỉnh thoảng ra diễn ở Gò Bồi, tại một cái chợ nhỏ. Mê lắm! Có

một thằng bạn, nhà hiếm, gọi là thằng Chó (tên thật của nó là Đức) rất có

duyên, hát cải lương rất hay. ở Gò Bồi, mỗi nhà có ghe bầu riêng, bán cá, bán

nước mắm. Hàng đắt là do người bán có duyên, khéo nói. Mẹ thằng Chó là

người rất có duyên.

Tôi cũng học hát cải lương. Có một cái gì ở trong linh hồn của điệu hát

nó rất trữ tình, rất lãng mạn. Hành vân, vọng cổ, tứ đại oán... mê lắm (Anh

dừng lại hát cho tôi nghe mấy câu tứ đại oán). Cải lương là tiếng nói của

individu, khi mới ra đời nó có cái mélancolie, một cái buồn khác cái buồn cũ.

Nó là lãng mạn chủ nghĩa, đi trước Thơ mới, Tự lực văn đoàn. Có cái đau xé.

Cái đau đúc lại, cô lại rồi xé ra. Cải lương có ảnh hưởng đến thơ tôi. Có cái xé

lòng. Đúc lại, không thèm buồn. Đúc lại trước khi nổ ra, vỡ ra.

Hồi đi học, tôi là một cây hát trong lớp. Thích hát. Ai bảo là hát ngay:

cải lương, ca Huế, sa mạc, cả hát Tây “J’ai deux amours”. Nhạc vào thơ tôi

ghê lắm. Nhạc mà vẫn giữ ý, giữ lời nói, không âm nhạc chủ nghĩa.

Tôi có một ông chú người Nghệ Tĩnh – trong Nam cũng gọi là người

Bắc – hát sa mạc, kể sa mạc, tôi mê lắm. Cứ phải lấy hai hạt thóc nhổ cho ông

năm cái râu hay năm sợi tóc sâu mới được ông hát cho nghe mấy câu sa mạc.

Nói đến đây Xuân Diệu chuyển giọng nói với tôi như là kết luận cho câu

chuyện của mình hôm ấy: “Mạnh phải tích luỹ cho mình cái vốn nhân bản. Cái

đó quyết định nội dung viết của mình. Còn kiến thức thì cứ tích luỹ, thu nhận

dần dần. Cái chính là phải có vốn nhân bản, cái humanisme, thì sẽ làm ăn được

nhiều. Đó là cái vốn để viết lâu dài.

Tôi không thích giải thích nhà văn, nhà thơ bằng môi trường. Môi

trường không quan trọng gì lắm. Cái quan trọng là khiếu bẩm sinh, cái chất

người của nhà thơ, có cần gì môi trường. Tại sao bao nhiêu người cùng môi

trường mà không phải ai cũng thành nhà thơ?”

Anh tiễn tôi ra cửa. Vừa đi vừa than phiền: “Bán óc giờ rẻ quá! Mà

không ai có tiền mua. Mà mình cũng chả có gì bán ngoài cái đó. Nhưng thôi,

mỗi người sinh ra thế nào, bản chất thế nào thì cứ thế mà sống thôi. Còn

chuyện đời, chuyện chính trị chẳng biết thế nào, mặc!”.

Ngày 24 – 5 – 1982, 24 Điện Biên

Tôi đến Xuân Diệu đúng lúc anh tiễn khách ra cổng. Anh nói với tôi:

“Nào vào mà nghe người ta khen! Nguyễn Cao Luyện khen lắm (bài Thương

tiếc nhà văn Nguyên Hồng, đăng trên báo Nhân dân).

Anh vội đưa tôi vào nhà. Anh bóc bánh bích quy. Pha cà phê. Mời thuốc

lá đầu lọc: “Người ta đến tuổi nào đấy cũng phải có lúc ung dung mà hưởng lạc

một chút chứ, ăn miếng ngon, ngắm bông hoa đẹp. Đời Nguyên Hồng chỉ là một

rêve (C’est un mauvais rêve, một ác mộng!).

Nguyên Hồng là tài và tâm. Trí thì yếu. Tác phẩm hay hơn cả là gì nhỉ?

Những ngày thơ ấu? Nguyên Hồng chết đột ngột quá - Xuân Diệu lắc đầu, lè

lưỡi.

Anh chỉ tập bản thảo viết dở trên bàn: “Mình viết văn như người bị đòi

nợ. Đến hẹn mà không có xu nào trả. Bụng rỗng không! ấy thế mà rồi cũng viết

được đấy. Tập trung suy nghĩ mãi vào một điểm rồi nó bật ra. Lúc đầu tản mạn

linh tinh, tưởng không sao viết được. Sau tập trung vào một điểm thì viết được.”

Bỗng anh chuyển sang nhận xét mấy nhà thơ đương thời như Tế Hanh,

Lưu Trọng Lư, Giang Nam: “Tế Hanh cái gì cũng có cả, nhưng chả đọng lại

cái gì. Như giao hợp đánh xoạch một cái, chưa kịp thấy gì, đã mặc quần áo rồi

(anh cười to). Lưu Trọng Lư tản mạn quá, rồi chạy theo tiền để nuôi vợ con.

Đời có những nhân tố rất tầm thường mà hoá ra chi phối. Do thế mà viết ẩu. Lư

yếu vì vợ đẹp, yêu cầu sinh lý cao. Lư còn sống được như thế là giỏi rồi đấy. Lư

quanh quẩn rút lại chỉ có một mô hình: hát giặm, năm tiếng có vần giữa xen

vào. Thế thôi! Khi làm thơ thất ngôn thì có thay đổi tí chút. Tế Hanh, thơ như là

cuộc đời sẵn có cái gì thì lấy luôn làm câu thơ. Thơ không có xác, có chất,

không có gia công sáng tạo gì cho sâu sắc. Paul Valéry, câu thơ có xương cốt,

đứng vững lắm. Anna de Noailles là giande poétesse, vậy mà câu thơ cũng dàn

trải, không vững chãi. Lamartine cũng thế. Nhà thơ lớn thế mà câu thơ chưa

thật kiên cố. Thơ Verlaine vững lắm. Câu chữ không sao thay thế được, không

bỏ được chữ nào. Nhà văn phải đẻ ra chữ. Câu, chữ là của mình. Mình đẻ ra

câu chữ mới là nhà văn thật sự”.

Thơ Thanh Hải còn kém hơn thơ Giang Nam. Nhưng Giang Nam ngay ở

bài hay nhất là bài Quê hương cũng không có xác. Tình yêu không có xác. Như

câu chuyện kể ra thế thôi.

Hàn Mạc Tử đúng là đẻ ra chữ. Chữ của Hàn Mạc Tử vững chắc lắm,

cứ vọt ra. Thơ Tế Hanh như thứ trạm nổi nông, loại phù điêu. Cái gì cũng có

nhưng không sâu sắc, không nổi góc cạnh, hời hợt, nông choèn, tự nhiên nhĩ

nhiên, trời đất, đời sống cho thế nào thì nói thế, không gia công đào xới, nhào

nặn.”

Anh lại trở lại chuyện đời sống và phàn nàn: “Mình cứ viết hết bài nọ

đến bài kia, luôn luôn phải ở tình trạng phải cố sức. Như hòn bi phải có sức tác

động vào mới viết được. Thành ra lại phải quay ra lo chuyện ăn. Rất mệt!

Nhưng mà rất mừng là có một số người hiểu mình: Huy Cận, Nguyễn

Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đăng Mạnh. Phải tăng cường tìm hiểu

nhau, tăng cường tri âm tri kỷ.”

Anh mời tôi uống nước, hút thuốc lá. Anh nói: “Không phải ai mình

cũng mời thế đâu!”. Anh hạ giọng: “Này chuyện tình với bạn trai ngày xưa của

mình, Mạnh có nhận xét đấy, đừng viết ra làm gì, người ta hiểu sai đi không lợi.

Mạnh thân với Hoàng Ngọc Hiến, lúc nào nói với Hiến phải giữ mồm giữ

miệng. Người ta phản ánh đến anh Tố Hữu rồi đấy. Anh Lành anh ấy biết rồi

đấy. Khéo rồi họ lại thắt lại thì chết. Bây giờ đang có chiều hướng mở ra, khá.

Trường hợp Tuyển tập Nguyễn Tuân là thế. Ta cứ lặng lẽ mà ăn, mà ngoạm

từng miếng, nhưng đừng có nhai rau ráu ồn lên làm gì. Không phải sợ, không

phải hèn đâu, nhưng mà không cần phải thế”.

Xuân Diệu lại mời tôi hút thuốc lá: “Cứ hút đi! Biết rồi đến lúc nào

mình không còn nữa để đưa thuốc lá cho mà hút”.

Anh lại giục làm việc khẩn trương lên. Cái chết nó thúc đẩy mình.

Tôi ra về. Trời mưa. Thấy tôi không có mũ, anh cho mượn cái mũ lá cũ:

“Mũ cũ nhưng đừng vất đi đấy”.

Anh lại lấy cái cặp nhựa, cặp mép cái túi xách của tôi cho khỏi ướt sách

vở bên trong: “Mình như người vợ chăm sóc chồng. Thế mới biết người đàn bà

là cần”.

Ngày 8 – 4 – 1983, 24 Điện Biên.

Xuân Diệu mở cổng. Tôi nói, lâu quá không gặp anh. Xuân Diệu nói:

“Mạnh mà cũng biết sốt ruột kia à? Tưởng bây giờ đang lên, không thích mình

nữa?”. Anh cười: “ấy người ta có cái ghen chẳng có fondement gì cả như thế

đấy!”.

Tôi đến Xuân Diệu sau khi gặp Lưu Công Nhân ở Sài Gòn.

Tôi hỏi: “Anh có biết Lưu Công Nhân?”.

Xuân Diệu: “Có biết, nhưng không thân thiết lắm. Thế hắn sống bằng

gì? Có mấy con?”. Tôi nói, không biết, chỉ thấy giầu lắm. Xuân Diệu: “Cậu

đúng là nhà văn lớn, không để ý cái gì cụ thể cả”.

Tôi lại nói về chuyện vừa gặp Chế Lan Viên ở Sài Gòn. Xuân Diệu nói:

“Chế Lan Viên giờ buồn lắm. Sắc sảo, thông minh, song trong quan hệ với

nhau còn phải có tình người, chứ đâu chỉ chuyện tìm tòi chân lý. Chế Lan Viên

hay lấy lý át người ta, dồn người ta vào thế bí. Người ta ít gần. Sợ. Văn tiểu

luận của Chế Lan Viên có từng đoạn sắc sảo, hay. Nhưng nhìn toàn bộ thì

không vững, xộc xệch lắm.

Anh lại quay ra nói về Thơ mới. Anh cho rằng: “ Nói Thơ mới thoát thai

từ hát nói là ngu. Thơ mới đến độ kết tinh ổn định nào đấy thì gặp hát nói. Vả

lại câu tám tiếng, câu mở rộng của hát nói vẫn khác câu tám tiếng của Thơ

mới.

Còn song thất lục bát thì là thể ngâm, réo rắt, không hợp với Thơ mới.

Thơ mới có nhu cầu kéo dài câu thơ, vì nó phong phú, tràn đầy, nó cần

nói nhiều.”

Bỗng anh quay ra phê phán Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức: “Hết thời Phan

Cự Đệ, Hà Minh Đức rồi. Họ làm xong nhiệm vụ lịch sử rồi. Đệ viết về Thơ

mới, ca ngợi Thơ mới xong, bảo nó là con đĩ. Chơi gái mãi rồi bảo nó là con đĩ.

Đệ cứ dẫn ra những câu tương tự của Thơ Pháp và Thơ mới để tỏ ra là đọc

nhiều. Kỳ thực có sự gặp gỡ tự nhiên chứ không phải bao giờ cũng là mô phỏng

- Đối chiếu thơ Bác với thơ xưa nhiều khi cũng thế.”

Huy Cận đi làm về. Anh nói với tôi: “Ta phải gặp nhau nữa chứ. Tôi

mới nói sơ sơ thôi, còn nhiều điều chưa nói (trước đây ít lâu, tôi có một cuộc trò

chuyện với Huy Cận). Anh Đệ, anh Đức là nhà phê bình officiels. Tôi đã đọc

anh viết về Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, thấy có cái gọi là suy nghĩ. Còn nhiều

người viết chẳng có giá trị gì”.

Xuân Diệu tiếp tục nói về thơ mình. Càng nói càng sôi nổi: “Xuân Diệu

là individu. Cái day dứt nhất ở Xuân Diệu là cái “moi” và “non – moi”. Và

căng cho hết mình. Làm thơ để thực hiện cái le moi của mình là Xuân Diệu.

Tình yêu thực hiện được sâu sắc nhất cái cá nhân. Tình yêu gắn với

cuộc sống vật chất, trần gian, bản năng, lại rất cá nhân trong conscience.

Xuân Diệu không làm thơ “anh anh em em”, mà thực sự làm thơ trong

phạm trù tình yêu. Xuân Diệu thách với cả thế giới về thơ tình yêu. Xưa sôi nổi

thanh niên, nay sâu lắng, suy nghĩ hơn.

Vấn đề thời gian trong thơ Xuân Diệu lớn lắm: day dứt nhớ lại cái phút

ấy, phút thần tiên ấy, cái chỗ ấy, cái lúc ấy trong cả cuộc đời – cái phút thật là

yêu, của phạm trù tình yêu. Về sau chỉ là nghĩa, có nhiều cái ân tình khác,

nhưng thật sự là yêu chỉ có cái phút ấy. Thơ tình là vĩnh cửu hoá cái phút ấy.”

Anh chuyển sang giọng tâm tình thân mật: “Thơ tình Xuân Diệu có một

sự trỗi dậy, sống dậy vào khoảng sau Riêng chung, tức khoảng 1961 gì đó:

“Bỗng anh xoè bàn tay ra khoe: “Đấy, mont de Vénus của mình cao thế này

(anh chỉ chỗ bàn tay gồ lên gần ngón cái). Mont de lune của mình cũng rõ, giầu

mơ mộng, rất lãng mạn (anh chỉ phía gần ngón út), còn mont de soleil là danh

vọng cũng rất nổi (anh chỉ khoảng giữa bàn tay phía giáp các ngón).

Thực ra anh người mập, bàn tay múp míp, chỗ nào chả đầy, chả mọng

lên.

Anh lại khoe nhận được một lá thư nhờ làm hộ một bài thơ tình để tặng

người yêu. Anh cười: “Làm thơ tình thuê! Giá mấy hào một bài đây! Đấy, nhu

cầu thực tế của đời sống về thơ tình là thế đấy”

Tôi nói: “Anh Tố Hữu nói làm thơ tình rất khó”.

Xuân Diệu: “Khó ở chỗ phải chân thật, phải yêu thật”.

Chiều ngày 12 – 4 - 1985, 24 Điện Biên

Thấy tôi, Xuân Diệu mừng lắm: “Vài ba tháng gặp nhau một lần là quý

rồi. Cứ đi dép cho đỡ lạnh chân”. Anh mời tôi uống cà phê, hút thuốc lá như

thường lệ. Anh nói Như Phong chết làm anh hoảng quá. Như Phong chủ quan,

tự cho là khoẻ lắm. Cái chết! Thế là từ plus infini thành moins infini.

Tôi nói Nguyên Hồng chết sớm hơn và cũng đột ngột. Xuân Diệu nói:

“Nhưng mà Nguyên Hồng chết rồi, cái văn của anh ấy vẫn còn rên rỉ. Còn Như

Phong mất là không thấy dấu vết gì nữa”.

Anh xoay ra nói về giá cả đắt đỏ mà nhuận bút thấp quá: “Nhuận bút

tập sách viết 10 năm chỉ bằng một chỉ vàng. Nhận nhuận bút mà buồn. Đi một

chuyến lại hơn là nhuận bút. Quãng Ngãi chỉ có 180 đồng một cân thịt bò. Đời

sống hơn ngoài Bắc. Trong Nam đời sống cao hơn, khí hậu dễ chịu hơn. Nhưng

mà không được quên cái gốc. Trong Nam họ suốt ngày lo kiếm tiền thôi. Sống ở

Sài Gòn không chịu nổi. Không ai biết anh là ai. Con người lọt thỏm mất hút đi

trong cái biển người mênh mông”.

Anh lại xoay ra tính toán cụ thể giá thực phẩm: 3 quả trứng gà 33 đồng,

2 quả trứng vịt lộn 18 đồng một quả, nhân 3 là 36 đồng...

Bỗng anh ngắm nhìn tôi, nhận xét: “Mạnh để tóc thế này hay hơn. Mặt

mạnh nhỏ, để tóc thế này nó ôm lấy mặt, đỡ gầy.” Tôi nói, nhiều người cũng

khen như thế. Xuân Diệu cười: “Hoá ra mình nhận xét thế mà đúng với ý kiến

mọi người, “chúng khẩu đồng từ”.

Tôi nói, hình như Nguyễn Tuân vào Quảng Nam viết một bài được trả

nhuận bút cao lắm. Xuân Diệu nói: “Đúng là Quảng Nam Đà Nẵng nó trả

Nguyễn Tuân 10.000 đồng một bài. Bài có hai trang. Không hay lắm. Nguyễn

Tuân viết khó. Bây giờ viết khó hay lắm!”

Tôi hỏi anh có nghĩ gì về khái niệm phong cách.

Xuân Diệu nói: “Style là bút pháp và cũng là phong cách. “Khen rằng

bút pháp đã tinh. Nghe bút pháp có vẻ nặng hơn”.

Tôi nói, phong cách có lẽ rộng nghĩa hơn, toàn diện hơn, sâu hơn. Anh

đi tra từ điển: “Style: manière. Manière d’ exprimer sa pensée. ừ, phong cách

đúng hơn”.

Anh chê Nguyễn Xuân Nam, cho là không thật, không tốt. Tôi nghĩ

bụng chắc lại là cái chuyện Xuân Nam viết về Huy Cận. Xuân Nam bị ngờ là

bới móc Huy Cận. Xuân Diệu đã nói với tôi một lần rồi. (Xuân Nam viết một

bài về Huy Cận, anh ca ngợi sự chuyển biến tiến bộ về tư tưởng của Huy Cận,

đại ý: ngày xưa Huy Cận làm thơ thường đề tặng các nhà văn trong Tự lực văn

đoàn và cả con cái họ, nay anh làm thơ tặng nhân dân lao động, như tặng một cô

thợ mỏ, một anh thợ hàn chẳng hạn... Nhưng Xuân Diệu lại hiểu là Xuân Nam

có ý nói móc, xỏ xiên người bạn của anh ngày xưa từng nịnh hót cánh Tự lực

văn đoàn (Thực ra hồi ấy, Huy Cận từng tha thiết xin vào Tự lực văn đoàn mà

không được chấp nhận)).

Anh chê Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức viết không có nội dung: “Nội dung

là tình cảm. Không có tình cảm, không có nội dung. Tôi cứ ném thia lia, bắn tin

về Phan Cự Đệ. Tôi nói với Hà Xuân Trường: Đệ làm tổng biên tập Nhà xuất

bản Văn học thì chúng tôi sẽ đánh du kích 5 năm cho phải đổ. Nói với Việt cộng

phải nói bằng cách nói của Việt cộng họ mới sợ”.

Anh đọc tôi nghe bài thơ: “Nếu anh cứ thương nhớ em thì sao”. Bài thơ

ba khổ. Khổ đầu hay.

Tôi khen bài thơ hay.

Xuân Diệu nói: “Những câu thơ như thế phải đọc cho Mạnh nghe. Mình

đọc được cho Mạnh nghe cũng thấy thích. Bài “ Hoa anh ơi!” là một lời thơ đi

suốt. Cả bài thơ là một lời đi suốt”.

Anh nhắc tôi về kẻo muộn. Đi về, ra ngoại thành, sương xuống, chắc là

thấy cô đơn, buồn. Tôi nói, có lần ở nông trường 1 – 5 Nghệ An, thấy con bò đi

một mình buổi chiều, buồn quá! Anh nói: “Con bò nó cũng thấy buồn – và thế

là nó trở thành thi sĩ, trở thành người”.

Anh tiễn tôi ra cửa, nhắc thỉnh thoảng gặp nhau. ít ra một quý một lần,

hai tháng một lần càng tốt.

Tôi nói, có lúc ngửi một mùi hương, thấy nhớ một cái gì ghê quá. Anh

nói, thế là Marcel Proust. Hương và vị nữa.

Anh hỏi tôi về kết quả cuộc chấm thi truyện ngắn tôi có tham gia. Tôi

nói không có bài thật trội. Sàn sàn cả. Anh nói chủ nghĩa xã hội chỉ tạo ra cái

moyenne trung bình, bonne moyenne, không có bon talent.

Anh nói, trong cuộc thi thơ, Lâm Thị Mỹ Dạ thắc mắc sao không có giải

A. Tôi viết một bài lôi ra có bài loại B cũng không đáng. Lạm phát thơ. 150 nhà

thơ! Sao nhiều thế! Phải dọn bớt lại.

Anh động viên tôi: “Dù sao chúng mình còn có chỗ họ mời. Có người

không được thế. Mạnh và mình giữ được vị trí do thực lực. Cần gì giám đốc,

phó giám đốc. Rồi đổ ngay ấy mà! Cứ viết cho tốt. Nghệ Tĩnh Tết vừa qua Tỉnh

uỷ đi thăm Minh Huệ tuy Minh Huệ chưa bằng Trần Hữu Thung. Song biết

thăm ai? Thế là họ có chuyển”.


*

Từ 1966 đến 1985, năm Xuân Diệu qua đời, tính ra tôi có tới vài chục

lần được trò chuyện với Xuân Diệu. Càng tiếp xúc càng thân, và anh càng cởi

mở hơn.

Chỉ riêng năm 1985, tôi gặp anh tới 5, 6 lần.

Nhưng tôi nhớ nhất ba lần sau đây:

1. Đầu năm 1985 cũng đi với anh lên Tuyên Quang bồi dưỡng những

cây bút trẻ ở vùng núi phía Bắc. Tôi nhớ đi qua đền Hùng đúng vào dịp hội. Xe

dừng lại, các anh trong đoàn (Chính Hữu, Lê Lựu, Nguyễn Thành Long, Hữu

Thỉnh, Vương Trí Nhàn và tôi) đều có đảo lên đồi xem một lát. Riêng Xuân

Diệu không lên. Anh ngồi lại trong xe. Chắc mệt, ngại leo dốc. ở Tuyên Quang,

chúng tôi nghỉ ở nhà khách của Tỉnh uỷ. Đêm, tôi để ý thấy Xuân Diệu thở rất

nặng nhọc, lắm lúc như hộc lên. Tim có vấn đề.

2. Lần thứ hai là ngày 5 – 10 – 1985. Tôi đến mời anh nói chuyện với

lớp sinh viên đặc biệt (gọi là lớp 5C) do tôi làm chủ nhiệm. Anh giữ tôi lại, tặng

tôi cái đồng hồ.

3. Lần thứ ba là ngày 10 – 10 1985. Tôi đưa 14 sinh viên đến phòng anh

ở 24 Điện Biên để nghe anh giảng thơ.

Đây là cuộc gặp cuối cùng với anh. Hai tháng sau, anh qua đời (ngày

18- 12 – 1985)

Cả ba cuộc gặp này, tôi đều đã đưa vào mấy bài chân dung viết về anh

nên không thuật lại nữa.

Quan Hoa 5 – 12 – 2006.


Chương X: Hoàng Cầm


Những tư liệu riêng của tôi về Hoàng Cầm, tôi đã đưa cả vào bài chân

dung: “Hoàng Cầm người và thơ”.

Giờ tôi chỉ chép lại hai câu chuyện Hoàng Cầm kể tôi nghe mà tôi chưa

có dịp viết ra:

1. Chuyện tiết mục quan họ bị đả đảo.

Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ. Hoàng Cầm lúc đó phụ trách

đoàn văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục chính trị. Ông được giao tổ chức một

cuộc liên hoan văn nghệ mừng chiến thắng trong rừng Việt Bắc. Trong chương

trình biểu diễn hôm ấy, Hoàng Cầm bố trí xen vào một tiết mục hát giao duyên

quan họ.

Đang diễn thì ở một góc hội trường, bỗng có một đám bộ đội đứng dạy

hô đả đảo. Chỉ huy đám bộ đội này là một sĩ quan nổi tiếng anh hùng lúc bấy

giờ tên là Thái Dũng. Tây rất nể nhân vật này, gọi anh là Capitaine manchot

(đại uý cụt tay). Thái Dũng hô lớn: “Trong quân đội không được hát hỏng trai

gái nhảm nhí. Đi xuống!”.

Đám văn công sợ quá, vội hạ màn. May có Nguyễn Chí Thanh can

thiệp. Ông nói đại ý: “Chúng ta chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, nhưng

cũng vì những điệu hát này đây!”. Ông ra lệnh tiếp tục biểu diễn.

Nhưng các diễn viên mất hết tinh thần, không còn bụng dạ đâu mà diễn

được nữa.

Chuyện này giải thích, trong chiến tranh, vì sao tình yêu trai gái bị coi

là lãng mạn tiêu cực, một đề tài mà văn học hồi ấy phải kiêng kị.

2. Tố Hữu ra lệnh bắt Trần Dần.

Hồi Hoàng Cầm cho in tập Giai phẩm mùa xuân, có đăng bài của Trần

Dần, Tử Phác. Tố Hữu triệu tập mấy người đến họp: Hoàng Cầm, Văn Phác

(phụ trách tổ chức Bộ Văn hoá), Chế Lan Viên... Tố Hữu cầm cuốn Giai phẩm

mùa xuân, hỏi mọi người: “Các anh thấy tập sách này thế nào?”

Không ai dám trả lời, vì không đoán được ý Tố Hữu. Chế Lan Viên

nhanh trí, đoán trúng ý thủ trưởng. Anh nói: “Cuốn sách đại phản động!”.

Tố Hữu hỏi Văn Phác: “Hiện nay chúng nó đang ở đâu?”. Văn Phác:

“Thưa, các anh ấy đang đi thực tế ở Yên Viên”.

Tố Hữu lệnh – Hoàng Cầm nhớ đúng sáu tiếng: “Gọi nó về, bắt lấy

nó!”

Thế là Văn Phác làm giấy tờ để bắt Trần Dần, Tử Phác.

Và đây là lời kể của Trần Dần, Hoàng Cầm thuật lại: Chiều hôm ấy có

một cái xe ôtô nhà binh đến Yên Viên. Họ gọi Trần Dần, Tử Phác ra và lập tức

bịt mắt. Trần Dần kịp thấy trên xe có lính mang súng, lưỡi lê tuốt trần.

Hoàng Cầm nói, Trần Dần là tay thần kinh rất vững. Anh ta bình tĩnh

lắng nghe để đoán xem xe đi đâu. Qua một cái cầu dài. Thế là vào Hà Nội.

Nhưng xe lại chạy tiếp khá lâu. Thế là đi quá Hà Nội. Đến một chỗ nào đấy, xe

đỗ lại. Người ta dắt Trần Dần, Tử Phác đi xuống một địa điểm ở sâu dưới đất –

vì cứ thấy xuống nhiều bậc, xuống mãi. Đến một độ sâu nào đấy, họ dừng lại và

đẩy Trần Dần vào một căn hầm, đóng cửa lại. Trần Dần nghĩ bụng, chắc bị thủ

tiêu. Thủ tiêu ở đây thì ai biết được? Coi như mất tích. Anh nghĩ phải tìm cách

lên được mặt đất.

Sáng ra, thấy đây là một cái hầm đào sâu dưới đất. ánh sáng lọt xuống

từ nóc hầm qua một ô cửa có chấn song, ở trên thoáng thấy có bóng một anh

lính gác.

Trần Dần thấy trong hầm có một cái phản gỗ và một bình nước. Anh

kéo cái phản ra chỗ ánh sáng từ trên nóc hầm rọi xuống, cởi áo ngoài, để phơi

áo sơ mi trắng bên trong ra, lấy một cái mince lame trong túi, nằm ngửa trên

phản , dùng lưỡi dao cạo cứa vào cổ cho máu phun ra ngực áo, rồi giẫy đạp ầm

ĩ, cốt cho anh lính gác nghe thấy. Anh lính gác nhìn xuống thấy thế hoảng quá:

Nó tự tử, phải đưa cấp cứu ngay ! Một lát sau, cửa hầm mở, người ta đưa Trần

Dần đi cấp cứu ở một bệnh viện gần đó. Té ra là bệnh viện Hà Đông. ở đây,

Trần Dần may vớ được một người quen bèn viết mẩu giấy nhờ đưa đến Tổng

cục chính trị nơi anh công tác. Nguyễn Chí Thanh lập tức đến bệnh viện và lệnh

tha ngay cả Trần Dần và Tử Phác.

Hoàng Cầm rất phục Trần Dần. Thằng cha thần kinh rất vững. Hoàng

Cầm cũng từng bị bắt giam. (ông nghe Hoàng Hưng, định đưa tập thơ Về Kinh

Bắc sang Pháp in). Ông nói: “Tôi nhát lắm, mọi tội xin nhận hết (Hết hạn tù,

người ta cho ra, còn xin ở lại viết kiểm thảo. Tô Hoài cho tôi biết thế). Sợ nhất

là trong tù cứ thấy có tiếng phát ra đều đều không biết từ đâu: “Khai thật đi!

Khai thật đi! Khai thật rồi về với vợ con!”.

Chuyện nghe khá sợ. Một hình thức khủng bố về tâm lý. Chẳng biết

Hoàng Cầm có thêm thắt gì vào sự thật không. Nhưng quả là đáng sợ. Hoàng

Cầm cũng hay tưởng tượng thêu dệt thêm ra nữa.


*

Ai nấy đều thấy, thế giới nghệ thuật của thơ Hoàng Cầm là Kinh Bắc

thời xưa. Đó là quê hương của ông và cũng là quê hương nghệ thuật của ông,

nơi hồn thơ ông thường lẩn quất đi về. Rời Kinh Bắc là Hoàng Cầm hết thơ. Mà

phải là Kinh Bắc ngày xưa, Kinh Bắc của núi sông, đồng ruộng miền Bắc từ

thời ỷ Lan nhiếp chính, từ thời nhà Lý mất ngôi, từ thời bà chúa Chè về với

Trịnh Sâm, sau đó lưu lạc đi đâu về đâu không rõ, khi Trịnh Sâm qua đời, kiêu

binh nổi dậy... Một quá khứ đau buồn. Một nỗi buồn vương giả. Cho nên Kinh

Bắc trong thơ Hoàng Cầm là một Kinh Bắc vàng son, diêm dúa, lấp lánh châu

ngọc, là xiêm y xanh đỏ, là vũ đạo uốn éo, là tiếng hát cách điệu ý ới ý a... (

Không phải ngẫu nhiên mà Kim Lân, Tô Hoài, Lê Đạt cho thơ Hoàng Cầm là

vàng mã, trang kim). Nhưng mà buồn, là sự tàn tạ, là cõi xa xăm của lịch sử đau

thương của những triều đại suy vong...

Một đặc điểm nữa cũng dễ thấy ở thơ Hoàng Cầm: nặng âm tính, nói rõ

hơn là rất ướt át, rất “đĩ”. Ông thường cố tình lắp đi lắp lại những hình ảnh gợi

dục: “môi trầu đờ đẫn”, “ngực yếm phập phồng”, “bầu vú lửa”, “vén xiêm”,

“tốc xiêm”... Kim Lân khó chịu, cho là thưỡn thẹo, ưỡn ẹo, già mà tình tứ, dơ

dáng...

Nhưng thơ Hoàng Cầm chỉ thật sự là thơ khi ông có cảm xúc chân thật,

lời thơ tuôn trào theo bản năng tự nhiên, hồn nhiên. Hễ ông cố gò theo lý trí thì

thơ chỉ có xác (xác Kinh Bắc và cả xác tình dục) chứ không có hồn. Nguyễn

Đình Thi, Huy Cận cho thơ Hoàng Cầm là trò chơi chữ, là chủ nghĩa hình thức.

Đọc thơ Hoàng Cầm giống như tiêu tiền. Những đồng tiên lấp lánh ánh

vàng ánh bạc. Nhưng lẫn vào tiền thật, có vô số tiền giả. Đúng thế, thơ Hoàng

Cầm có vàng bạc thật, (tôi gọi là siêu thơ) và có không ít vàng bạc giả.


(còn tiếp)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, March 31, 201112:00 AM(View: 16517)
Chiều nay, trong cuộc họp, trước mặt quan khách, Phan Chấn phê bình tôi là đọc bản thảo không kĩ. Có phải là hai lần ông gặp Phan Chấn buổi sáng để ông mớm cho Phan Chấn lên giọng phê bình tôi trong cuộc họp buổi chiều, để làm giảm uy tín tôi trước mặt quan khách…
Monday, March 21, 201112:00 AM(View: 16199)
Còn khoảng một cây số nửa xe bắt đầu vào thị trấn. Con đường như thấp dần xuống với những thân cây vươn cao lên.
Saturday, March 12, 201112:00 AM(View: 11098)
Tiếng chân của Huyền không thay đổi từ bao nhiêu năm nay , nghe không lẫn được. Nặng. Tất tưởi. Lật đật. Gót chân chứ không phải gót ngọc. Cái tướng Huyền vất vả. Từ một chuyển dáng nhỏ nhặt. Mỗi bước đi của Huyền đều lay chuyển theo nó rất nhiều không khí. Và chỉ cần dõi theo những bước chân nó từ góc này tới góc nọ , di chuyển tới đâu , tôi cũng đã biết Huyền đang làm những gì.
Friday, March 4, 201112:00 AM(View: 16465)
Các đội công tác vùng đồng bằng hạ lưu sông Hồng kéo về tổng kết đợt ở huyện lỵ, đông có đến cả nghìn con người. Suốt tháng triền miên nghe kể thành tích và những anh những chị rễ, chuỗi ở xã lấy lên nay đã thành cán bộ đội vừa khóc vừa nói về cuộc đời bị đày đoạ xưa kia.
Tuesday, February 22, 201112:00 AM(View: 10727)
Phượng Hồng! Phượng Hồng! Phượng Hồng! Bỏ trường, bỏ lớp, bỏ dòng sông. Từ em vội bước theo chồng. Tôi chiều lăng tẩm ngóng trông Phượng Hồng! Phượng Hồng! Phượng Hồng! Phượng Hồng! Một lần đi, em về không? Ngậm ngùi xác phượng, nỗi lòng khuôn viên. Chiều mưa, tóc rối ưu phiền. Em gương lược tới những miền phôi pha ...