DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,866,601

Đãng Khâu - Mối Chúa: Mr. N. và những Mr. Canh Cong

25 Tháng Chín 20188:28 CH(Xem: 305)
Đãng Khâu - Mối Chúa: Mr. N. và những Mr. Canh Cong


Mối Chúa

blank


Mr. N. và những Mr. Canh Cong


(Trích tiểu thuyết Mối Chúa)

Để bạn đọc có thêm tư liệu cho hình dung của mình về những gì bố tôi phải trải qua, xin quý vị hãy đọc đoạn trích dưới đây, bổ sung thêm vào những gì tôi đã kể, nhưng dưới góc quan sát khác bao quát hơn những điều mà cả già Tâm và tôi chưa từng nghe. Bằng hiểu biết của mình, tôi không thấy có chi tiết nào trong đó là sự bịa đặt vu vơ của tác giả, như vài ý kiến từ đâu đó, mặc dù có thể ông hơi cường điệu. Chỉ xin nhắc lại lưu ý được tôi nói từ đầu, bố tôi trong tiểu thuyết là Mr. N.

Việc ngồi lì hàng nửa ngày, chầu chực để được gặp một đại nhân nào đó, từ lâu đã là công việc quen thuộc của Mr. N. Việc đó không còn là sự cố liên quan đến thời gian, mà giống như một thử thách lòng kiên nhẫn. Không có thành công nào dễ dàng. Vả lại, người được ban bổng lộc sẽ cảm thấy có giá trị cao hơn rất nhiều khi biết rằng suýt nữa thì nó về tay kẻ khác nếu mình ra về sớm hơn.

Mr. N. có thừa sự kiên nhẫn của một người am hiểu thời cuộc, hiểu tường tận con đường phải đi, cộng với bản tính cam chịu của người biết mình ở vị thế của kẻ muốn trên vạn người thì phải dưới vài người, vì thế, ông không bao giờ cảm thấy bực bội khi mắt hoa đi vì đói, trong khi mông và đùi tê cứng do ngồi lâu. Ông chấp nhận vô điều kiện thực tế cuộc sống dành cho những người ở tầng lớp như ông. Để gặp được người cần gặp, ông phải được dắt qua cả một con đường hầm hun hút, liên tục có những khúc quanh ngẫu hứng, nơi người ta ngồi chờ la liệt. Vì thế, nếu kẻ chỉ đường chưa đến, đôi khi chỉ vì hắn đã kín lịch, hoặc còn mải với những món sộp hơn, thì cứ phải chờ. Chờ vô điều kiện. Không được phép hỏi, hay nêu yêu cầu, nếu không muốn bị coi là kẻ thiếu tinh tế. Vì thế, việc của anh ta là tìm cách để nhún nhường, ép mình xuống như con gián. Tiếp theo phải có khả năng thực hành kế sách thả mồi bắt bóng. Rồi nữa, phải biết nói những lời có cánh để tâng bốc kẻ khác. Nhưng phẩm chất cuối cùng mới là quan trọng: không được coi thường từ con kiến trở đi. Một con kiến vốn chẳng ai để ý, lại có thể làm hỏng cả cơ nghiệp, thành vật chắn mà ngay xe tăng cũng không thể vượt qua.

Vì thế, những ngày đầu, ông phải cầu thân, lấy lòng những Mr. Canh Cong không bao giờ quan tâm đến cảm xúc của người khác. Họ được thuê chỉ để thể hiện điều đó là xong bổn phận. Đơn giản vì họ quá quen với việc ai đó phải chờ đợi trong cảnh người ra người vào không ngớt. Vả lại, chờ đợi để được ban thưởng, thì cứ để y ngồi, không việc gì phải thương xót! Họ gồm mấy gã đàn ông, cao to lực lưỡng, mặt như được đúc bằng đồng và một thê đội chó. Với những gã đàn ông, Mr. N. dễ dàng biến họ thành "tay trong" nhờ từng tập phong bì. Ngày nào cũng như ngày nào, những cái phong bì luôn nói thay lời chào đầy tình anh em với họ. Một thứ ngôn ngữ tuyệt vời, không thành lời nhưng có khả năng xuyên thấu con tim ngay cả một kẻ máu lạnh chỉ quen xỉa dao vào yết hầu người khác. Khó khăn lại ở mấy con chó. Chúng chả thiếu thứ gì, lại là chó thuộc hàng danh gia vọng tộc, nên không dễ mà hối lộ được chúng.

Ngày đầu tiên Mr. N. luôn có cảm giác bị hàng chục cặp mắt chó bao vây ở tứ bề. Ông rất bất an bởi điều đó, mặc dù lũ chó chẳng hề thể hiện sự đe dọa nào rõ ràng. Thỉnh thoảng con chó, có vẻ là thủ lĩnh trong đội cận vệ, lại ngáp nhẹ một cái, tuồng như nó quá chán khi cứ phải nằm nguyên ở một tư thế. Vài con khác thì nóng tính hơn, khi không giấu được mối ác cảm với kẻ cứ ngồi lì trên ghế phòng chờ hết ngày này sang ngày khác, ngay cả chạy ra ngoài ăn vội ăn vàng khi đến bữa cũng không dám, khiến chúng chẳng còn thời gian và tâm trí đâu để tí tởn bởi dù sao vẫn phải cảnh giác. Có con hé mắt nhìn, gầm gừ trong cổ họng, như muốn hỏi con khác: "Sao cái thằng chó kia gan cóc tía thế nhỉ, thử đớp cho nó một phát vào gấu quần xem có vãi tè ra rồi chạy mất dép không? Nó nghĩ chủ của mình nhiều thời gian thế hay sao? Ngữ nó có mà xách dép không đáng". Tất cả chỉ dừng lại ở cảm giác kèm theo chút tưởng tượng. Nhưng Mr. N. cứ thấy những ánh mắt chó rất đáng sợ. Ông biết rằng, không gây được mối quan hệ tốt đẹp với những ngài cẩu đặc tuyển kia thì thể nào cũng có ngày gặp nạn. Nhưng bằng cách nào bây giờ? Có hôm còn lại một mình, cảm thấy có gì bất nhã, Mr. N. cố nặn ra trò gì đó để lấy lòng mấy anh bạn tứ chi. Nghĩ mãi cuối cùng ông cũng tìm ra cách: thử cầu cạnh bằng ngôn ngữ của chó để may ra biết được chúng muốn gì.

Nhân lúc mấy gã đàn ông chui vào ga ra ô-tô chơi tá lả, giao lại việc trông nom cho bầy chó, Mr. N. bèn lân la đến gần con đội trưởng. Nó chẳng hề tỏ vẻ cảnh giác, cứ việc áp má xuống đất, hai mắt chỉ hơi hé hé.

- Gâu gâu... gâu gâu...!

Mr. N. vừa dứt lời, lập tức bọn cẩu đều nghển cả lên nghe ngóng rồi bật dậy ở tư thế sẵn sàng xé nát kẻ khiêu khích, miệng tru tréo những tiếng sủa rợn tóc gáy. Mr. N. sợ rúm hết cả người. May mà có mấy gã Canh Cong kịp lao ra quát trấn an những tên trợ thủ, ra hiệu cho chúng chưa có chuyện gì nghiêm trọng.

- Ông trêu tức chúng rồi đấy, người ta bảo chửi cha không bằng pha tiếng, ông quên rồi sao. Có khác nào ông vừa nhại chúng nó. Chúng nó mà điên lên vì nghĩ vừa bị ông giễu cợt thì ông liệu thần hồn.

- Ô, tôi thì lại nghĩ mình đang bày tỏ sự tôn trọng chúng. Tôi muốn nói với chúng rằng, mình có thể làm bạn, thay vì cứ cảnh giác nhau. Cũng giống như khi sang nước nào, mình cố nói bằng tiếng của họ, chả nhẽ vì thế mà họ cũng tức sao!

- Nếu ông nói những điều phạm húy mà không biết thì sao. Tôi hỏi ông có biết ngôn ngữ của chó không mà dám nói liều? Giả sử mấy câu ông vừa "sủa" thành câu chửi: Này lũ chó, tiên sư bố chúng mày, thì sao?

- Tôi hiểu rồi. Sơ suất. Sơ suất. Tôi sẽ không nói gì nữa.

- Thế cũng lại không ổn. Bọn kia thấy ông định nói gì, bỗng im như thóc, chúng sẽ hiểu là ông coi chúng chỉ là giống chó, không đáng để ông mở miệng. Đành rằng nó là chó trăm phần trăm, nhưng nó cũng muốn có danh phận. Gọi ông ổng tên cúng cơm của nó, có phải là việc làm lịch sự không? Giống như khi ông gọi: Này mấy ông bảo vệ, mấy ông cửu vạn, mấy ông giúp việc... thì rõ ràng không sai, nhưng chúng tôi chạnh lòng lắm chứ. Cũng như khối kẻ tự coi chữ nghĩa đầy mình, làm chức nọ chức kia, ra oai ra dáng lắm, chỗ nào sang trọng cũng cố lọt cái mặt vào, nhưng đích thực chỉ là nô tài. Ông gọi họ là nô tài được chắc? Trong trường hợp vừa rồi, nếu là tôi thì tôi cũng thù ông. Nhưng tôi thù ông thì sẽ nói ra mồm, còn bọn cẩu kia mà thù thì chúng sẽ rình, chờ ông sơ hở là thịt. Thà chúng nổi cáu gầm rú lên, còn đỡ đáng sợ. Nổi cáu xong thì thôi, chứ găm mối thù thì càng ngày càng cắn sâu vào tim gan, tích tụ chứ không tan đi, để đến lúc nó mà phát nổ thì còn hơn núi lửa... Bọn tôi còn dè chừng chúng nữa là ông. Trông thế thôi, cứ đem mấy mạng người đổi lấy một mạng chó chắc gì ông chủ đã xuôi. Mà hỏi thật, ông chủ tôi làm gì mà ông cầu cạnh ghê thế? Tôi có thấy ông ấy làm gì đâu!

- Vậy tôi phải làm gì để chúng vừa lòng? - Mr. N. rõ ràng là lảng tránh trả lời người hỏi - Nói không được, im lặng cũng không được, tôi phải làm gì đây. Làm ơn mách cho tôi đi, đừng để bọn chó chúng nó thù tôi như ông nói. Tôi chỉ muốn kết bạn với chúng thôi. Nói thẳng ra, tôi muốn làm đẹp lòng chúng mà sao lại khó đến thế. Ông làm ơn đi...

- Sao không nói ngay từ đầu. Bọn chó nào khi tưởng mình quan trọng thì cũng hung tợn, thích ra oai nhưng ưa nịnh. Cấm ông được suy diễn từ chó sang người đấy nhé! Ông phải tìm cách để chúng thấy là ông đặt chúng ở vị trí rất cao. Cao lương mỹ vị chúng không thiếu, ông biết rõ mà. Chúng đang ở trong loại biệt thự hàng đầu, có máy lạnh bốn mùa, có bể tắm mát xa, có nước hoa hảo hạng để xực, như ông thấy. Nhưng chúng cũng đang bị đi đày đấy. Ông thử nghĩ xem, sức vóc trai tráng, lại ăn uống tẩm bổ như thế mà cái khoản kia bị hãm, thì khổ biết là nhường nào. Ông, và chúng tôi, liệu có nhịn được không? Ông thế nào không biết, chứ như tôi thì không thể chịu nổi. Chắc chắn là không? Vậy mà cái bọn kia, chỉ ăn rồi nằm dài, dái xệ xuống tận đất, nhìn cảnh thiên hạ tí tởn với nhau ngay trước mắt suốt ngày này sang tháng khác, đủ thấy chúng uất hận đến đâu. Nhưng chúng hiểu rõ ở đời không thể được cả nên chúng phải cam chịu. Chủ của chúng nuôi chúng để bảo vệ, nên giữ chúng phải luôn ở trạng thái sung mãn, vì thế cấm tiệt cái món làm nhão cơ kia! Chỉ cần thả ra cho theo cẩu gái một hôm là đến ruồi đậu mép chẳng buồn ngáp, nói gì đến việc xé nát con mồi! Tóm lại, bọn chúng chỉ thiếu bạn tình thôi. Nhưng không thể mang vào đây một nàng cẩu. Thứ nhất không ai cho phép. Nhưng giả sử được phép, thì nàng cẩu cũng khó mà toàn thây trong vài phút. Đám kia sẽ lao vào nàng, xé nát nàng ra vì không con nào chịu để mất phần, gây cảnh máu me là thứ tối kỵ ở đây. Vì thế, ông hãy mang cho chúng nó một con búp bê chó, kiểu như búp bê tình dục ấy, nhưng là chó, tất nhiên phải là chó cái. Thửa được loại của Nhật là nhất. Người Nhật cái gì họ cũng tính trước nhu cầu để sản xuất. Nó làm bằng chất liệu cao cấp, cái bộ phận kia, pín nữ ấy mà, y như thật. Nó lại biết cử động, biết phát ra tiếng rên theo lối động đực, biết ngoe nguẩy đuôi như mời chào ông anh đến mà thọc vào... Ông cứ thử mà xem, chúng không bò đến liếm chân nịnh bợ ông ngay, tôi xin mất cái đầu lâu này.

Nghe như chuyện hài, nhưng ngẫm ra đó là cách quá hay. Mr. N. bèn tức tốc sai người đến tận những đầu mối chuyên búp bê tình dục hạng sang, để đặt một nàng búp bê chó. Đúng là thị trường tự do, cái gì cũng được đáp ứng ngay một khi có nhiều tiền. Không mấy khó khăn, cuối cùng Mr. N. cũng đặt riêng được một nàng búp bê tình dục chó như mấy gã bảo vệ mách, chuyển từ Nhật về theo đường hàng không vừa được nâng hạng lên bốn sao. Nàng tầm tuổi teen, lông trắng nõn nà, điểm xuyết mảng màu nâu nhạt hình trái tim ở ngực. Nàng mông nẩy, ngực căng, mặc áo đỏ, thắt nơ vàng, dáng kiều yểu điệu. Suy ra thì thấy, chó Nhật sướng hơn chó ta nhiều. Vừa thả xuống đất, bật công tắc ngầm giấu ở dưới bụng, nàng đã lõn cõn chạy, miệng rên ư ử như lên cơn đói tình, đuôi ngoáy ngoáy, trông rất bắt mắt. Ngay lập tức mấy chú hung cẩu run bắn toàn thân, vươn mình dậy, canh chừng nhau như muốn hỏi: Ở đâu ra cái cô hoa hậu kia nhỉ? Khi biết là nàng đến chẳng vì riêng ai, thì con nào con ấy lao vọt ra, nằm phủ phục xuống, miệng xều rót rãi, nhìn người đẹp bằng cao su như muốn ăn sống nuốt tươi. Người đẹp hầu như chẳng nhìn thấy các đấng nam nhi, cứ lao thẳng về phía trước, khiến lũ chó phải rẽ ra bằng động tác bò lùi để không mang tiếng là bất nhã. Con đội trưởng ra mặt nạt đám đàn em chớ có khinh suất. Nhưng bản năng ham muốn mạnh hơn mọi ý thức về kỷ luật, kể cả kỷ luật ở mức treo cổ, nên những con chó khác bỏ ngoài tai, thi nhau bày tỏ sự ve vãn. Mỹ cẩu thì cứ tiếp tục vô tâm, đỏng đảnh và hồn nhiên, như thử thách sức chịu đụng có hạn của những kẻ khác giới. Hai chân sau của nàng cứ bải ra, thật là khiêu khích và có phần lõa lồ. "Đồ điếm!" Có vẻ như lời chửi rủa đó vừa buột ra từ miệng một con chó đực đang sùi bọt mép. "Ông sẽ cưỡng hiếp mày" - Một tiếng khác. "Chơi some đi anh em ơi, của trời không nên hưởng một mình". Những ánh mắt chó đỏ ngầu lên canh chừng nhau, rồi bất ngờ, gần như đồng loạt, cả bầy hung cẩu lao vào mục tiêu. Con nhanh chân thì ôm được cô nàng búp bê từ phía sau, nơi đắc địa nhất để hành sự. Con nào chậm chân hoặc lép vế thì đành nằm ngửa ngoạm vào bụng nàng, không chịu kém miếng. Trong phút chốc nàng mỹ cẩu gần như biến mất giữa đám quần cẩu giống đực hùng hục như một đàn sư tử đói mồi. Chúng rú rít, gầm gừ, ôm quặp, uốn cong người, lên cơn cực sướng, phun nước bọt ra tứ tung. Khi đám chó đàn ông vừa thở hồng hộc vừa tản ra như những kẻ kiệt sức, thì con búp bê chó chỉ còn lại là những mảnh cao su bẹp rúm, rách nát, bê bết bụi đất và ướt đẫm thứ nước nhầy nhầy như cháo yến bổ dưỡng mua một tặng một.

Chứng kiến màn quần giao đầy bạo liệt, Mr. N. và mấy gã đàn ông tỏ ra vô cùng thích thú. Bọn hung cẩu thì con nào con nấy trở nên hiền khô, nhìn đời đầy vẻ bao dung. Trong thâm tâm chúng rất biết ơn người vừa cho chúng thực sự được sống. Đã quá! Thế mới là cuộc đời tươi đẹp chứ! Chúng mong ông ta còn lâu mới xong việc để ngày ngày cứ phải qua ngồi trên chiếc ghế kia. Biết đâu lại có ngày ông ta hào phóng...

Thế là từ hôm ấy, Mr. N. trở thành bạn thân của bầy chó canh cổng. Ngày nào chúng cũng mong ngóng ông. Mỗi khi Mr. N. ngồi chờ trên chiếc ghế quen thuộc, những con chó, thay vì cảnh giác với ông, con nào con nấy thi nhau biểu lộ thái độ cầu cạnh, làm thân, cầu xin ông thương xót. Nhờ thế mà suốt cả đợt hàng tuần trời chờ đến lượt mình được Chúa gọi, ông có thể ra vào khu biệt thự ấy giống như một người về chính ngôi nhà của mình.

Những người từ xa đến

(Trích tiểu thuyết Mối Chúa)

Vài lời của người kể:

Câu chuyện mà tôi định tường thuật tiếp, có nội dung gần giống với nội dung của chương "Những người từ xa đến" trong tiểu thuyết Mối Chúa. Có lẽ tác giả đã nghe ai đó kể lại, cộng với những thông tin mà ông ta thu thập được từ cái nhà máy thép, để dựng nên chương này. Tôi bắt gặp chính tôi trong đó khá nhiều, mặc dù không hoàn toàn là tôi. Bố tôi thì gần như là nguyên mẫu, kể cả bác lái xe cũng không khác già Tâm là mấy. Tôi cứ tự hỏi, đây là sự kỳ diệu của văn chương, hay ông tác giả kia đã bí mật thu thập thông tin về chúng tôi. Nhưng dù là thế nào, thì phải công nhận, những gì ông ta viết là khá chân thực.

Việt có hai việc dự định sẽ làm: một là về nơi công ty của anh đang có dự án sân gôn, gặp lại ông Huyện trưởng để nắm bắt tình hình, bàn những bước đi tiếp theo; và hai là về nơi có cái nhà máy thép do bố anh trúng thầu phần xây lắp nhiều năm trước mà mọi dư âm khốc liệt về nó chỉ còn lại trong bộ lưu trữ của Google. Một việc Việt làm vì lợi ích của công ty, còn việc kia, ngoài vẻ bề ngoài là học cách giải quyết của bố trong trường hợp tương tự, sâu xa hơn là vì sự thúc bách của lương tâm anh ta.

Việt quyết định tạm thời để ông Huyện trưởng cứ việc sốt ruột chờ đợi. Anh muốn ông ta nên biết thế nào là chờ đợi, để hiểu cho nỗi khổ của những người ngày ngày dài cổ chờ ông ta một cách vô vọng. Việt biết ông Huyện đang ngóng anh từng ngày. Ông muốn biết kết quả chuyên đi gặp Mr. Đại của anh, tỉ mỉ đến từng chi tiết, một phần còn cả do tò mò nữa. Bản thân ông cũng chưa có hân hạnh được diện kiến nhân vật huyền thoại ấy, dù chỉ là từ xa. Toàn mới chỉ nghe người nọ người kia kể lại, bằng giọng kính cẩn. Tự dưng mỗi khi nhắc đến Mr. Đại, ông cũng thường hạ giọng xuống mức chỉ vừa đủ để người đối diện nghe thấy. Nó chỉ hơn mức thì thầm một chút. Vì vậy, chắc chắn ông ta rất muốn nghe từ chính miệng Việt kể tỉ mỉ về Mr. Đại. Hẳn phải là một con người khác thường. Nhưng chủ yếu ông muốn biết cái giấy phép, tấm lá chắn bảo trợ cho quyền lực và quyền lợi của ông, hợp pháp hóa những đồng tiền ông nhận hối lộ đã về đến đâu, trong hành trình nó đi từ vũ trụ mênh mông tới bàn làm việc của Việt. Ông muốn có sự giúp sức mang tính pháp lý, có chỗ dựa là cấp trên để hù dọa đối thủ, vô hiệu hóa những đòn tấn công của đám thần dân hung hãn vì bị đẩy đến chân tường ở cái địa bàn do ông ta cai quản.

Mà họ thì đang rục rịch làm chuyện lớn gì đó, âm ỉ như quả bom nổ chậm.

Việt không báo cho ai về kế hoạch của mình. Nói là bị thúc bách bởi lương tâm khi Việt muốn lần lại quá khứ, chỉ là một phần suy nghĩ của anh. Thực chất anh rất muốn biết sự thật những gì bố anh đã làm, tại một dự án có những vấn đề tương tự như cái dự án sân gôn mà công ty của anh đang bị rắc rối. Mr. N. là người từng trải, dày dạn kinh nghiệm kinh doanh. Hẳn ông ta phải có hướng giải quyết nào đó, thì cuộc nổi loạn của những người dân mất đất và phải chấp nhận sống chung với ô nhiễm nhiều năm trước mới không kéo dài để ông có thể tiếp tục công việc. Ghê gớm hơn là sau đó chẳng ai nhắc đến họ nữa. Mọi chuyện cứ như chưa từng xảy ra, hoàn toàn biến mất khỏi ký ức cộng đồng.

Lần theo địa chỉ, Việt đến được cái nơi mà anh tin thể nào cũng còn ghi dấu những hình ảnh về bố mình, bởi theo phỏng đoán của anh thì ông can dự rất sâu vào từng biến cố. Từ xa anh đã trông thấy cái nhà máy thép, nơi bố anh thắng thầu phần xây lắp. Trái với hình dung của anh, nhà máy thép không có vẻ gì là nó đang ầm ầm sản xuất để ngày ngày cho ra những sản phẩm đặc trưng của nền công nghiệp hiện đại. Nhưng có lẽ Việt không thực sự quan tâm đến nó đang tồn tại thế nào. Lâu lắm mới có được thời giờ thảnh thơi, anh muốn dành mọi tập trung cho việc thưởng thức cảnh làng quê yên bình. Đó là một vùng quê thuần nông, còn giữ được những nét đẹp đơn sơ của đất đai, cây cối, nhà cửa, với từng đàn gia súc nhởn nhơ gậm cỏ, xung quanh là lũ chim sáo, chèo bẻo, từng đàn chim sẻ đồng chao lượn - những sinh vật đang chuẩn bị biến mất khỏi xứ sở này. Anh thấy tâm hồn tràn ngập một niềm phấn khích, nên bảo bác tài cho dừng xe để bước ra ngoài. Không khí giữa thu khiến bầu trời trong xanh, ngổn ngang mây trắng xốp với từng cơn gió nhè nhẹ mang theo hương thơm của lúa đang chín. Thấp thoáng trên những con đường chạy ra cánh đồng là cảnh những người nông dân đi làm bằng xe máy, lao vùn vụt, tạo ra một ấn tượng khá bất ngờ. Việt đã ở rất gần với cái nhà máy thép nhưng anh vẫn không muốn chú ý đến nó. Anh sợ chính mình sẽ phải đối mặt với những vấn đề mà ít nhiều anh đều có dính dáng vào. Anh đang cố giả định là mọi chuyện chẳng liên quan gì đến mình, đến cuộc đi ngẫu hứng này. Nhưng tự nhiên Việt cứ như người bước hụt.

- Nó đấy. Thứ mà cậu đi tìm chính là nó đấy.

Lời bác lái xe như tuột vào khoảng không mênh mông. Việt không đáp lại, chỉ im lặng nhìn. Mãi sau anh mới tìm cách hướng chuyện sang phía khác:

- Có vẻ như già biết rõ đường về ngay từ đầu, tại sao lại cứ bắt cháu phải tra trên bản đồ?

- Vì tôi nghĩ thô sơ là có thể cậu sẽ bị lạc, sẽ bỏ ý định tìm về cái nơi mà thú thật là tôi chẳng muốn quay lại, nhất là khi đi cùng với cậu.

- Có chuyện gì đã xảy ra?

- Cậu sẽ sớm biết. Tôi vụng kể lắm. Vả lại, khi trí nhớ dành cho việc tìm đường và lựa những cái ổ gà, thì mọi việc khác phải quên đi cậu ạ.

Việt không nói gì thêm. Anh quyết định vào thăm một vài gia đình nông dân ở những làng lân cận. Họ nhìn Việt không mấy thiện cảm, nhất là khi thấy anh ăn mặc như một ông chủ nhỏ. Nhưng những gì không phải chuyên môn mà anh học được khi còn ở nước ngoài, hóa ra lại rất hữu ích. Nhờ thế mà anh nhanh chóng tìm được cách hòa nhập vào với cuộc sống của họ, thay vì chỉ đứng quan sát. Anh trêu đùa đám trẻ, cho chúng thấy là mình khá nhiều trò nhộn, chẳng hạn như những màn ảo thuật đường phố đơn giản từng khiến đám sinh viên Anh quốc trầm trồ. Dần dà, mọi người không còn ác cảm với Việt nữa mà nhìn anh bằng ánh mắt hồn hậu muôn thuở của dân nhà quê.

Người đàn ông mà Việt bắt chuyện, vốn làm nghề xe ôm nhưng tổ tiên của ông truyền cho ông ta tí gen văn nghệ, đủ để vừa gõ trống, dập phách hay gảy đàn cò, vừa hát những làn điệu dân ca quan họ khá mùi mẫn. Lúc Việt và bác lái xe bước vào nhà, ông đang ngồi quay lưng lại màn hình, trên đó lời bài hát xuất hiện từ từ còn ông thì hát theo. Việt và ông lái xe không khỏi tròn mắt kinh ngạc khi lời và chữ khớp đến từng mi li mét. Không có bất cứ một sự sai sót nào, dù nhỏ. Ông bỏ mặc để Việt và người lái xe tự tìm chỗ ngồi, như bỏ mặc những kẻ không mời vô duyên nào đó nhưng thích xem thì cũng không cấm, cứ thế hát cho tận hết bài.

Việt vỗ tay reo lên đầy vẻ xã giao:

- Tuyệt quá!

- Anh cần gì? - Ông nghệ nhân ngừng hát và quay lại nhìn hai vị khách - Không thấy là tôi đang luyện nghề à?

- Cháu xin lỗi, vì cháu thấy chú hát mượt mà quá, nên tò mò muốn được làm quen. Cháu rất mê quan họ Bắc Ninh.

- Thật thế hả? Anh là của hiếm đấy. Ngồi xuống đi, từ giờ anh và bác sẽ là khách của tôi. Mà anh thấy tôi hát mượt thật à - Mặt ông nghệ nhân sáng bừng lên, đầy vẻ hãnh diện - Anh có biết hát quan họ có cả thảy bao nhiêu làn điệu và muốn đạt yêu cầu thì phải thế nào không?

- Cháu không biết.

- Thế thì để tôi giảng cho mà nghe.

Ông nghệ nhân dân gian tự giới thiệu tên là Hào Quang, trái hẳn với vẻ mặt tối om lam lũ của ông, vốn người nơi khác, cách đây mấy chục năm đi lính đóng quân ở bên kia sông. Người có số đào hoa nên gái làng theo ầm ầm. Những lần trốn trại vượt sông sang bên này tán gái, ông đều phải rất khổ sở mới thoát ra được để trở về. Bọn gái làng bu lại - ông hãnh diện bảo thế - thi nhau cắn cho nát vai mới chịu buông ra. Ông phải lòng một trong số những cô gái ấy. Cứ tưởng chỉ hò hẹn nhau bằng lời, ai ngờ cô ta lại táo tợn thế. Một lần cô kéo ông vào ruộng ngô, bảo phải cho cô khám trước, rồi mới nói lời yêu đương sau. Cô bảo lệ của làng như vậy, cứ phải to và dài. Ông đành làm theo và thấy cô gái rú lên mừng rỡ. Thế là nhận lời, muốn làm vợ ngay tại chỗ. Hôm ấy ông về doanh trại như một tên lính thất trận, quần áo bê bết đất. Nhưng rồi ông chợt nhận thấy đất ở đây trù phú, thơm tho, gái lại to mông, rộng háng, đậm tình - ông cười rất tâm đắc - nên quyết định ở lại. "Nói thật với bác và anh, tôi cũng là loại ‘thập thành’ nhưng bập vào với gái ở đây là nghiện luôn. Cứ như mình đang lội ruộng ấy... Phải cái ruộng tốt, nó nuốt luôn mất chân mình, kể cả đứt khớp cũng không rút ra được..."

Việt ra vẻ kiên nhẫn nghe và tán thưởng. Sau đó phải nghe tiếp ông hát vài bài cho thỏa cơn ngứa nghề, rồi mới nhẩn nha vào chuyện. Việt khéo léo đưa ra mấy nhận xét về phong cảnh, xuýt xoa khen đẹp, trầm trồ mô tả những cánh đồng lúa như thảm vàng. Anh cứ tưởng nghe những lời tâng bốc ấy, ông nghệ nhân sẽ tán thưởng theo, như một chút tự hào đầy sĩ diện về cái nơi mình sống. Nhưng sau khi nghe khách khen nức nở, ông vẫn chẳng biểu lộ xúc cảm nào. Thậm chí nó cứ khiến ông chìm dần vào một mối suy tư nào đó.

- Còn gì nữa đâu mà anh khen đẹp. Độ hơn chục năm trước mà anh có mặt ở đây, không biết anh còn ngây ngất đến đâu. Giờ thì chỉ còn lại rác rưởi và lòng căm thù thôi...

- Bác nói thế là sao ạ? - Việt làm ra vẻ ngạc nhiên.

- Chẳng sao cả, tại anh gợi ra thì tôi cũng nói lại thế thôi. Tự dưng anh làm tôi mất hết cả hứng... Mà anh là ai, ở đâu, đến đây với mục đích gì thế?

Tuy hỏi gay gắt vậy nhưng có vẻ ông nghệ nhân dân gian không chờ câu trả lời. Thay vào đó ông chỉnh dây của cây đàn bầu nhưng rõ ràng tâm trí đang tán loạn. Mãi không vừa ý, ông bèn hát chay. Ông hát bài Giữa tối hôm rằm nhưng lời chẳng ăn nhập gì vào với nhau. Tất cả cứ rời rạc, như những tiếng nấc nối lại thành cả một chuỗi. Bất ngờ ông dừng lại, chỉ tay về phía cái nhà máy thép:

- Mọi sự khốn nạn bắt đầu từ khi con quái vật kia xuất hiện. Tiên sư cha nó!

Việt cố nén tình cảm xuống để không sớm lộ thân phận. Anh vờ nhìn theo, làm ra vẻ ngạc nhiên, hỏi:

- Con quái vật nào ạ?

- Anh không nhìn thấy gì sao? - Giọng ông nghệ nhân bất ngờ đầy sát khí - Nó chọc bẩn cả bầu trời của chúng tôi suốt mấy năm nay. Nó cưỡng bức mẹ đất của chúng tôi, đẻ ra toàn quái thai. Mà có cho chúng tôi được đồng tiền bát gạo nào sạch sẽ ra hồn đâu.

Việt cố cười to, như là đang nghe một câu chuyện rất thú vị nhưng trong lòng anh mọi thứ bắt đầu xáo trộn:

- Bác có khiếu hài hước thật đấy. Cái nhà máy thép sao lại là con quái vật? Nó là bộ mặt của một nền công nghiệp hiện đại đấy chứ.

- Cứt! May ra chỉ có cứt! - Tự dưng ông Quang văng tục, bắn cả nước bọt - Nghe anh nói, tôi lại thấy ngứa hết cả tiết. Tôi nói để anh biết cái nhà máy thép của nợ ấy còn hơn cả con quái vật. Từ khi có nó, chính xác hơn từ khi bọn cá mập chó chết đem nó về đây, chúng tôi bắt đầu sống trong khốn khổ.

- Thế mà cháu thì lại nghĩ khác. Có cái nhà máy ở giữa một vùng thuần nông, tận dụng được biết bao là nhân công lúc nông nhàn, cả hai bên cùng có lợi, chả lẽ không phải như vậy? Với lại con em các bác sẽ học được lối làm việc đúng giờ giấc của những người công nhân công nghiệp.

- Anh nói y như sách ấy nhỉ. Mà cũng giống hệt những gì chúng tôi đã nghe. Chắc cái đám ấy cũng lấy ra từ cuốn sách mà anh vừa trích. Họ khiến chúng tôi phát rồ lên về viễn cảnh tương lai. Loại như tôi đây bét ra cũng có một chân bảo vệ, mặc đồng phục, ngày ngày đeo còi oai phong lẫm liệt duy trì trật tự trong khi từ y tế, lương lậu... đều được bảo hiểm, nghĩa là về già chẳng phải lo lắng bất cứ thứ gì. Nhà máy sẽ biến một vùng quê chỉ biết làm ra lúa giá trị thấp, thành một vùng có nhiều sản phẩm công nghiệp, sản phẩm điện tử. Này nhé, họ bảo có nhà máy thép, sẽ có nhà máy sản xuất ô-tô, điện thoại, hàng tiêu dùng... Nó sẽ kéo theo điện, than, đường giao thông, bến cảng, bệnh viện - mẹ kiếp, tôi nhớ rõ cái thằng nói những điều đó mặt như cú vọ, lẫn lộn giữa l và n cứ loạn cả lên, nghe mà tức hết cả dái - Nói khí vô phép bác và anh - Nó còn bảo có cả sân bay nữa cơ. Chỉ còn thiếu sân bay vũ trụ nữa thôi. Rồi là sẽ kéo theo khách du lịch ầm ầm đổ về... Vùng quê của chúng tôi sẽ lung linh (thằng cha nói ngọng thành nung ninh, lộn hết cả ruột) sáng suốt ngày đêm như thành phố bên sông. Bọn gà qué sẽ gáy loạn xì ngậu vì lẫn lộn - đúng hơn là nẫn nộn - giữa đêm và ngày, rất sướng cái lỗ tai - hắn bảo cái nỗ tai. Chúng tôi sẽ tha hồ tiêu thụ nông sản - thằng cha nói thành lông sản - bán hàng thủ công, mở nhà hàng, làm dịch vụ - nó bảo nàm dịch vụ, chết tiệt cái giống hai lưỡi - ... Ối cha cha, không thể nào kể hết những thứ lợi lộc - vâng, nợi nộc mới đúng giọng hắn.

Ông dừng lại và hát i a một làn điệu chèo như để thư giãn. Sau đó đột ngột tiếp vào câu chuyện:

- Nhưng chả có cứt gì cả. Cứt cũng bói không ra. Tất cả chỉ là bánh vẽ. Họ chỉ cần một thứ duy nhất ở chúng tôi, đó là đất. Họ không cần gì hơn ngoài mấy trăm mẫu đất. Mà toàn loại bờ xôi, ruộng mật ngay cả nuôi chim trời cũng không hết thóc. Cứ ra đồng là có cá mang về nhắm rượu. Giờ thì anh thấy đấy, đất chết bởi váng dầu, xỉ than và bụi sắt, chẳng cây con nào xung quanh bán kính vài cây số có thể sống bình thường được trong khi nhà máy thì nghe nói sắp bỏ hoang vì thua lỗ. Toàn đồ phế thải mua lại của Tàu. Nó chạy được vài năm thì đấy, nằm đắp chiếu, chờ người ta đem chôn. Trong khi đó những người phải di dời thì thành dân phát vãng, con cái vô nghề nghiệp, làm đĩ, làm cướp, ra phố ngủ vật ngủ vạ chờ vét cống, đào mả thuê, dọn đồ phế thải độ nhật qua ngày. Nhiều người chết vì uất ức, bệnh tật.

Việt như thấy có một dòng điện quất dọc sống lưng. Chả lẽ cơ sự lại như vậy? Liệu khi lập dự án nhà máy thép, những con thú điện tử có lường tới thảm họa như ông Quang vừa kể? Kinh hoàng nhất là cái thông tin nhà máy sắp bỏ hoang. Bố anh, Mr. N. can dự đến mức nào trong cái dự án này? Còn những bí ẩn gì xung quanh con "quái vật" kim loại kia? Đó là những câu hỏi mà thật lòng Việt vừa muốn, vừa không muốn nghe trả lời. Nó quá sức chịu đựng của anh.

- Nghe bác nói thì cái nhà máy thép ấy chỉ toàn gây tai họa, chả lẽ nó không đem lại chút lợi lộc gì cho bà con nông dân?

- Cộng vào, trừ đi, chia ra... thì chúng tôi chỉ toàn mất. Bây giờ thì mất hết. Nhưng sao bỗng dưng anh lại quan tâm đến những chuyện đau lòng này? Tôi đang cố để quên nó đi, để sống yên ổn nốt quãng đời còn lại. Giờ tôi chỉ còn biết chờ nhà ai có đám, cả hiếu lẫn hỷ để đến hát kiếm cơm. Ruộng đất mất sạch, sót lại thửa nào thì cũng không thể cấy trồng, anh bảo còn biết làm gì.

Ông ra hiệu chấm dứt câu chuyện ở đó. Hai vị khách biếu ông gói chè, hộp bánh ngoại và mấy trăm ngàn rồi xin phép ra về. Ông không nhìn những món quà, không tiễn mà nhắm tịt mắt hát điệu Giã bạn. Việt hiểu đó cũng là cách ông bày tỏ thâm tình, ít nhất vì ông tin rằng anh không phải là người đến để mang cho ông tai họa.

Việt bèn hỏi thăm và tìm vào nhà một ông giáo già. Đây cũng là kỹ năng anh có được nhờ đọc sách. Một vùng đất nào đó mà người ta muốn tìm hiểu, nhất định phải tìm bằng được người có uy tín về học vấn. Theo suy đoán đó của Việt thì người ấy nhất định phải làm nghề dạy học hoặc thầy thuốc. Và anh đã không sai.

Việt tự giới thiệu mình là người du học từ nước ngoài về, muốn đi điền dã để không bị cảm giác mất gốc. Ông giáo tóc bạc trắng, đúng với hình dung quen thuộc của nhiều người, nhìn những vị khách bằng cặp mắt không định phán xét, tra hỏi bất cứ điều gì.

- Mời bác và anh vào, chúng tôi không được gọn gàng như ở phố đâu!

- Cháu lại thấy những thứ bừa bộn kia có một trật tự rất thú vị, nó giống như đang tuân theo nhịp sinh thái cổ xưa.

Ông giáo nhìn Việt, có phần ngạc nhiên nhưng chỉ thoáng qua. Trong khi chờ khách yên vị thì ông giáo đi súc ấm, pha trà.

- Mời các vị uống nước. Hẳn các vị đã đi thăm nhiều nhà trong làng?

Việt thật thà kể là anh mới chỉ gặp ông nghệ nhân làng tên là Quang, nhưng có vẻ như anh đã khiến ông ấy phật ý vì những lời thăm hỏi hình như không đúng lúc cho lắm.

- Tôi hiểu rồi - Ông giáo già đón lời - Chẳng riêng anh đâu, ngay tôi đây nhiều phen cũng khiến ông ta nổi cáu. Mọi việc bắt đầu từ khi có cái dự án nhà máy thép. Tính tình người dân chúng tôi đều đổi khác. Hung khí tràn ngập trong nhà ngoài ruộng. Cứ có to tiếng là tôi lại sợ rúm lại và hình dung ra cảnh máu me. Ngày trước chúng tôi có tiếng là thuần hậu. Giờ thì tất cả chẳng thể trở lại như lúc ban đầu được nữa. Cũng chẳng biết trách ai.

Việt không vội tìm hiểu ngay điều anh đang cần. Kinh nghiệm mách anh là không thể vội được. Vội vã sẽ chỉ thấy được phần bên ngoài. Cần phải moi ra bí mật từ gan ruột những con người này.

- Chắc cụ đã thôi dạy học từ lâu?

- Năm nay tôi vào tuổi thất thập rồi. Mọi việc đều mũ ni che tai lâu rồi.

Chả nhẽ ông cụ đoán được mục đích chuyến thăm viếng đường đột của mình - Việt thầm nghĩ. Nhưng nhìn ánh mắt ông giáo, anh lại thấy những tâm sự ngược lại. Có vẻ như ông giáo có những bí mật không muốn giữ một mình và sẽ san sẻ với ai đó mà ông thấy tin tưởng.

- Các vị thấy làng quê chúng tôi thế nào?

- Dạ thưa, rất đẹp ạ. Nhưng điều cháu thích thú hơn là mặc dù thời gian biến đổi, cái hồn cốt nhà quê vẫn còn thấp thoáng trong rất nhiều ứng xử. Xin các cụ đừng để mai một.

- Anh sinh sống ở Tây mà vẫn nghĩ được thế về xứ sở, thật đáng ngưỡng mộ. Nhiều người bỏ mất nó ngay cả khi sống trong sự bao bọc của nó. Cũng đáng là một mất mát lắm.

- Liệu có phải do hoàn cảnh mà thành ra thế, hoàn cảnh can thiệp rất mạnh vào vấn đề bản sắc cụ ạ.

- Có, nhưng đó là với những người cái gốc còn nông. Nhưng xin lỗi, đừng bắt già này múa may những thứ không thông thạo. Cả đời tôi chỉ dạy bọn trẻ cấp một, gõ đầu thước dạy chúng những điều đơn giản lắm.

Việt cân nhắc và thấy đã đến lúc chuyển đề tài, sang mối quan tâm mà vì thế anh cất công về đây.

- Thưa cụ, cụ vừa nói một câu khiến cháu rất tò mò, đó là mọi sự bắt đầu từ khi có cái nhà máy thép. Mọi sự tốt lên hay xấu đi ạ?

- Thành thực thì tôi không phải là người giỏi tính nhẩm. Tôi chỉ cảm thấy qua quan sát thôi. Nó phải dùng từ thảm họa mới đủ mô tả mức độ rủi ro mà chúng tôi đang phải gánh chịu, từ cái nhà máy thép ấy.

- Cụ không phải là người đầu tiên nói ra cái cảm giác ấy. Chính ông Quang cũng nói như vậy, thậm chí còn với giọng điệu căm thù là khác.

- Ông ấy có lý do để căm thù. Còn tôi thì không, tôi chỉ là người bàng quan đứng bên ngoài, thậm chí còn là kẻ tiếp tay, nên tôi không có quyền nói theo tình cảm của mình, mà bằng nhận biết mang tính khoa học. Thực sự là một thảm họa.

- Cụ làm cháu tò mò quá. Cứ chuyện nọ dây sang chuyện kia. Có lẽ cháu nên ở lại đây nghe cụ nói chăng?

- Già này làm sao quyết định được điều đó. Nhưng nếu anh tin tưởng, tôi sẽ dần dà kể cho anh nghe những sự thật không giống như anh đang nghĩ.

- Cụ biết cháu đang nghĩ về cái sự thật nào mà lại khẳng định là nó không giống với sự thật cụ muốn kể? Cháu đang đi tìm nó kia mà?

- Tôi biết là anh không về đây vô cớ, hỏi những chuyện vu vơ. Nhất định là anh có liên can gì đó hoặc có ý định gì đó. Nhưng tôi không thóc mách vào chuyện riêng của anh. Mỗi người có lý do cho hành động của mình. Tôi chỉ xin hỏi, anh và bác muốn biết những chuyện đó để làm gì?

- Vì cháu muốn biết sự thật. - Việt đáp bằng thứ giọng nghiêm trang.

- Thế thì được. Anh sẽ biết hết sự thật. Tôi cũng có ý chờ ngày nói ra những điều một mình tôi mang không nổi. Tôi sẽ khởi đầu bằng chuyện vì sao tôi thấy mình là kẻ liên can.

Ông giáo làng bắt đầu nhẩn nha kể.

... Hôm đó là một ngày thứ Bảy đẹp trời. Nếu ai đi từ thành phố về, sẽ thấy rất nhiều rạp cưới đủ màu sắc. Con đường trước kia lổn nhổn những sỏi, vừa mới được thảm nhựa phẳng lì, chạy uốn lượn qua những khu dân cư nghèo nàn đang ngày một đông đúc, tạo cảm giác về một sự thay da đổi thịt nào đó.

Nhưng hôm đó con đường vốn bình yên bị khuấy động bởi một đoàn gần chục chiếc ô-tô rất lạ mắt. Cái thì lùn tịt như sắp áp bụng xuống đất, cặp đèn thô lố như hai mắt cá đuối, cái thì vuông từ đầu đến đít, y hệt chiếc hòm đựng thóc đóng bằng gỗ sung ngâm thời mấy chục năm trước, cái thì cao lênh khênh chẳng khác gì con bọ cạp... Chúng - dưới mắt người dân quê giống với lũ quái vật - được sơn đủ thứ màu xanh, đỏ, tím, vàng... Không ai biết đoàn xe xuất phát từ đâu và sẽ dừng lại ở địa điểm nào trong số gần chục ngôi làng bám dọc theo con đường. Theo hướng từ thành phố về, chúng nối đuôi nhau ầm ầm chạy, cuốn theo nào bụi, rơm rạ và tạo ra một cơn lốc cát sỏi ở phía sau. Người đi đường chỉ còn cách dạt nhanh xuống rệ, tạm rẽ ngoặt vào con ngõ nhỏ nào đó. Mặc những lời chửi bới, những tiếng la hét, đoàn xe vẫn không giảm tốc độ. Nhưng sự khó chịu của những người dân quê bỗng chuyển nhanh sang sự tò mò. Đoàn xe chở những ai, đi đâu và tại đấy họ có việc gì. Họ có vẻ từ xa đến.

Hóa ra họ tìm đến nhà ông giáo làng.

Lúc ấy ông giáo đang ngồi chẻ nan để đan giỏ, một nghề làm thêm khi về hưu, bán cho những người làm nghề bắt tôm trên con sông chạy phía sau làng. Tôm cá hồi ấy vẫn luôn đủ để nuôi khá nhiều người trong cả vùng. Những chiếc giỏ của ông giáo làng được tin là sẽ mang lại may mắn hơn những chiếc giỏ mua ở chợ. Vì thế, ông đan bao nhiêu đều có người hẹn mua hết từ trước. Thấy nhà có khách sang, ông giáo vội dẹp bỏ đám đồ nghề, vào buồng thay bộ đồ lụa tơ tằm màu vàng do học trò tặng để ra tiếp. Người thanh niên có khuôn mặt lanh lợi, vẻ đầy tự tin trong từng cử chỉ, bèn sà ngay xuống đống giỏ tôm, sờ nắn, vuốt ve bằng thứ giọng trầm trồ rồi thay cho lời làm quen, anh ta hỏi ông giáo:

- Cụ bán tất cả cái đống này cho con nhé. Bao nhiêu tiền con cũng trả.

Ông giáo cười, bảo:

- Các anh chị đến thăm làng chúng tôi, vào nhà tôi thì hẵng xơi nước đã, mua bán gì thì để sau.

- Con không hỏi đùa đâu. Mỗi cái giỏ của bố là một kiệt tác. Con sẽ treo chúng ở một nơi xứng đáng, còn hơn cả cung điện của vua chúa xưa kia, cho những người nào phải bỏ rất nhiều tiền ra thì mới có cơ hội ngắm, hơn là ngâm nó xuống sông để nhử mấy con tép còm.

- Nhưng nó chỉ có tác dụng khi ngâm xuống sông thôi. - Ông giáo cũng nhã nhặn đùa lại.

- Con không tin. Rồi bố sẽ thấy.

Khi chủ khách đã ngồi quanh chiếc bàn gỗ sơ sài và những cốc nước vối ủ kỹ đã được rót ra, người thanh niên bắt đầu giới thiệu:

- Con tên là Dụng, làm nghề doanh nhân, còn những người này - Anh ta chỉ một vòng - đều là cộng sự thân thiết của con. Hy vọng bố con mình có sự hợp tác tốt ngay từ đầu. Để tỏ lòng kính trọng bố, chúng con xin có chút quà mọn...

Một phụ nữ trong đoàn vội đặt lên bàn, trước mặt ông giáo, cái gói vuông vức mà chị ta vẫn xách theo. Một người khác đặt chồng lên gói nhỏ khác hình chữ nhật trong khi ông giáo ý tứ nhìn đi chỗ khác.

- Một chút quà mọn, chả đáng gì. Đây là hộp sâm loại đặc biệt, từ tận xứ Cao Ly mang về, để bố bồi bổ. Từ khi trồng trên núi đá, trong khí hậu mát mẻ và tinh khiết, phải mất hơn mười năm mới được thu hoạch, phải ngần ấy năm mới hội đủ tinh khí của trời đất. Còn đây là chút tiền để bố... uống rượu chơi những khi trăng thanh gió mát! Rồi bố sẽ thấy, nó chỉ bằng một mẩu nhỏ số tài sản kếch xù của bố. Chết thật, ai lại để cho ông giáo của làng, kho tri thức vàng của làng sống đạm bạc thế này, còn thua cả ông giáo Thứ túng quẫn quanh năm trong tiểu thuyết Sống mòn của cụ Nam Cao trứ danh. Cụ mà cứ sống kham khổ như vậy là chúng con tổn thọ lắm đấy.

Ông giáo không chờ nghe hết những điều người thanh niên tên là Dụng nói bằng thứ giọng lưu loát nhưng cứ lẫn lộn giữa chữ l và chữ n, theo thói quen khách khí nhà quê, vội đứng dậy đẩy món quà về phía khách:

- Tôi có làm gì giúp các anh đâu mà lần đầu quen biết đã nhận nhiều quà thế này. Nhận thế là thất đức, người nhà quê chúng tôi vẫn dạy nhau thế.

Dụng cười tủm, đầy vẻ thích chí:

- Con mê bố ngay mất rồi. Lâu lắm con mới lại được gặp người có dung mạo tiên ông và tính cách khí khái kiểu ông thầy đồ xưa như bố. Các cụ học nhiều chữ thánh hiền cũng khác bọn trẻ chúng con học hành láo nháo bây giờ. Nhưng bố lại quên mất rằng, báo hiếu các cụ cũng là cách để chúng con tích đức đấy. Bố sợ thất đức mà không sợ cho chúng con cũng bị thất đức nếu bố từ chối hay sao.

- Kệ các anh các chị, lão già nhất định không nhận đâu. Học trò cho quà mọn là mớ rau con cá lão cũng không dám nhận.

- Thôi, bố không nhận thì giữ giúp chúng con, để lần sau bố con mình cùng đánh chén. Hôm nay chúng con vào thăm bố, trước hết vì nghe danh bố từ lâu. Bố là cây cột trụ của cái làng cái xã này. Nhất định bố phải giúp chúng con.

- Nếu giúp được gì thì cũng là phúc cho lão già, có gì thì các anh các chị cứ nói.

- Vâng, thưa bố! - Dụng lễ phép - Thế hệ các bố có công giành lại non sông đất nước từ tay ngoại xâm, thì thế hệ chúng con có trách nhiệm biến cái non sông ấy thành gấm vóc, không chỉ giàu mà còn phải đẹp. Thế nghĩa là bố con ta đều làm cách mạng, đều là những người cùng đội ngũ, là những đồng chí thân thiết của nhau. Khi mới đặt chân đến làng này, nói thật là con rất xấu hổ cho bản thân mình. Mình là lớp con cháu thì ngồi xe ô-tô sang trọng, trong khi bà con công lao trời bể còn phải sống trong lam lũ, nghèo khó. Không chấp nhận mãi thế này được bố ạ. Phải thay đổi. Phải giàu có. Người già tuổi bố, cống hiến cả đời, sao cứ phải ngồi đan giỏ năm này sang năm khác, trong khi bọn trẻ, thế hệ tương lai thì chưa kịp lớn đã thành người già, đã về với quá khứ chỉ vì cơ cực.

Những gì mà con muốn thưa với bố chỉ là: tại cái làng này sắp tới sẽ mọc lên một cái nhà máy thép hiện đại, công suất cả triệu tấn một năm. Con biết bố muốn hỏi ngay xem sao lại xây nhà máy thép ở đây? Con không để bố phải chờ lâu: nơi đây có đủ điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa cho một cái nhà máy thép lớn. Phía sau có sông, tiện việc chuyên chở hàng ra cảng, đến những vùng khác. Trên bộ thì có con đường quốc lộ bốn làn xe trước mặt, tha hồ thuận tiện về lưu thông. Thủy bộ đều tiện. Nếu thuận lợi thì rồi còn có cả sân bay nữa cũng không quá khó. Vậy là than, dầu, quặng sẽ đi theo đường bộ từ phía Bắc về, còn thành phẩm là phôi thép và thép các loại thì theo đường sông đi ra biển, lên tàu viễn dương xuất khẩu bốn phương tám hướng. Đất nước mình trời ban cho tài nguyên mênh mông, chỗ nào cũng có mỏ sắt, mỏ bô-xít để chỉ việc đào lên mà bán lấy tiền... sao cứ phải nghèo mãi? Vì mình chưa biết khai thác, chưa biết biến nó thành sản phẩm chất lượng cao đem bán để lấy tiền đô, tiền ơ, tiền yên về làm vốn ngoại tệ cho nước nhà. Lợi nhuận từ nhà máy sẽ góp phần làm giàu cho đất nước, trong đó nhất định phải có làng mình.

Bố có một câu hỏi quan trọng nhưng sẽ không bao giờ nghĩ ra để hỏi con. Vậy thì con sẽ hỏi thay: Chúng tôi, những người nông dân, bao nhiêu đời chỉ trông vào đất đai, nay không còn đất nữa thì chúng tôi sống bằng gì, con cháu chúng tôi lấy gì để ăn?

Đáp: Vì cứ bám vào đất đai, canh tác cù lần nên đời này qua đời khác đều nghèo đói. Một héc ta đất trồng lúa, với vô số mồ hôi nhỏ xuống, được bao nhiêu thóc. Số thóc đó quy ra tiền, sau khi trừ chi phí về giống, công xá, phân gio, thuốc thang với cả chục loại thuế, phí, còn lại được bao nhiêu? Đấy là đang giả thiết chỉ toàn gặp mưa thuận gió hòa. Con không muốn nói rõ con số vì nó chỉ càng làm đau lòng tất cả mọi người có mặt ở đây. Con chỉ khẳng định không ai trên thế gian này làm giàu được từ cây lúa. Phải làm cách khác bố ạ. Chẳng hạn tới đây, khi xây nhà máy thép, tức là công nghiệp hóa nông thôn, cũng một héc ta đó sẽ sinh lời gấp mười, thậm chí một trăm lần. Bố có hình dung gấp một trăm lần là bao nhiêu không? Chắc chắn bà con ở đây nằm mơ cũng không thấy. Vậy mà nó hoàn toàn là sự thật. Thay vì bì bõm theo con trâu, đầu tắt mặt tối chỉ để mỗi ngày lấy vài chục ngàn, thì rồi đây, toàn bộ bà con sẽ thành công nhân, làm dịch vụ cho công nhân và các loại khách của nhà máy. Có cả trăm thứ việc, đều thơm tho sạch sẽ, nhẹ nhàng với số tiền công gấp cả chục lần đang chờ bà con. Mà lại ăn trắng mặc trơn. Đó mới là cái đích của phát triển bố ạ. Còn cứ lý thuyết suông rằng thế này rằng thế nọ mà không quy cụ thể ra tiền, ra thóc, ra vàng... thì chúng con không phải là loại người ấy.

Dụng nói thao thao một hồi, được tiếp sức bởi những ánh mắt tán thưởng của đám người đi cùng. Ông giáo ngồi nghe như vịt nghe sấm. Nhưng cũng chỉ mình ông thể hiện cảm xúc căng thẳng, còn những người khách kia thì họ thể hiện sự hớn hở ra mặt, thỉnh thoảng lại đồng loạt gật đầu như bổ củi, vỗ tay đôm đốp. Thấy ông giáo cựa quậy trên ghế như muốn hỏi lại, Dụng vội xua tay:

- Bố cứ cho phép con nói hết đã. Chưa xong vấn đề đâu. Hiện tại là thế, còn tương lai sẽ ra sao. Tương lai mới là quan trọng. Bọn trẻ lớn lên sẽ làm gì để ăn? Xin thưa, nếu người già còn biết làm những việc mà con vừa nói, thì bọn trẻ chẳng cần ai phải dạy cũng thừa biết cách kiếm tiền. Nhà máy thép mọc lên, sẽ mời gọi các nhà máy sản xuất công nghiệp, hàng dân dụng, hàng phụ trợ cho ngành sản xuất ô-tô, xe máy... về đóng đô ở đây. Rồi là trăm nhu cầu tiêu dùng khác... Bởi vì công nhân sẽ nườm nượp. Người đến đâu là kéo theo vô vàn nhu cầu đến đó. Bán hàng tiêu dùng a, ăn uống a, nhà nghỉ a... những nhu cầu đó sẽ phải cần vận chuyển, đầu bếp, người phục vụ, dọn dẹp, nhân viên mát xa, nhân viên các loại văn phòng... cứ thế sẽ phải cần đội ngũ phiên dịch viên năm, bảy thứ tiếng, đội ngũ bảo vệ, đội ngũ đưa đớn khách, đội ngũ lái xe, đội ngũ tiếp viên... Con dự tính, trong mười năm tới đây, làng này không thể cung cấp đủ nhân lực. Rồi còn siêu thị, tiệm ăn, cứ là mọc nhanh hơn nấm gặp mưa! Sẽ có những con cá mập tư bản mò đến. Tiền luôn đầy túi chúng. Với bọn cá mập béo ú ấy thì cứ tha hồ móc hầu bao của chúng mà không sợ thất đức. Con tạm thời chỉ trình bày với bố như vậy.

Dụng nói không hề vấp váp khiến suy nghĩ của ông giáo cứ phải đứt hơi đuổi theo. Ông giáo thấy mồ hôi rỉ ra trên toàn thân. Ông vội lấy khăn lau liên tục nhưng nó cứ như vỡ òa qua lớp da nhăn nheo của ông, không tài nào cản được. Ông giáo đâm ra bán tín bán nghi những điều mình nghe được. Không hiểu nó thật đến đâu? Nếu đúng như anh ta nói mà ông vẫn cố hữu ngăn cản, a dua với dân làng ngăn cản thì hóa ra ông đọc sách cũng như không, chẳng biết đâu là phải, đâu là trái. Nhưng nếu đó là những lời lừa mị, sau này bà con khổ sở thì chả hóa ông thành kẻ tiếp tay bán rẻ mọi người. Vào thời điểm đó, dân làng của ông đang quyết rào đường ngăn cản công nhân xây dựng, tạo ra một sự cố lớn về thông tin. Các đài báo ầm ầm kéo về, đưa tin loạn xạ. Nhưng tại thực địa thì người dân dựng lều trại, thay nhau canh chừng. Bản thân ông giáo cũng có chân trong đội tiếp tế thực phẩm, cũng gián tiếp tham gia chống lại dự án nhà máy thép. Giờ nghe người đại diện cho chủ đầu tư, cũng là cán bộ Nhà nước giải thích cặn kẽ, ông đâm ra không biết phải hành động thế nào mới là đúng. Nếu Nhà nước đã có chủ trương, chắc phải tính kỹ thiệt hơn cho dân. Nhưng tại sao người làng thì nhất định ngăn cản vì duy nhất một lý lẽ là họ không muốn mất đất và sống trong ô nhiễm. Những người khách đến từ xa này đã biến ông giáo thành ra là người đứng giữa.

Ông bỗng giật thót mình khi nhìn vào gói quà:

- Nghe anh nói, già này sắp xuống lỗ cũng thấy mừng cho làng cho nước. Nhưng tôi hỏi, có phải là chủ trương của Nhà nước không, hay là của một nhóm người nào đó thôi?

Dụng ngửa cổ cười toáng lên:

- Không nói một nhóm, mà kể cả một ngàn nhóm có mọc thêm sừng thêm cánh cũng không dám tự ý làm một việc thay trời đổi đất như vậy. Chỉ Nhà nước mới có quyền. Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhà nước chỉ có mỗi việc là toàn tâm toàn ý lo cho dân, muốn người dân sung sướng ngang bằng các nước giàu có trên hành tinh, nhưng không phải lúc nào Nhà nước cũng nói rõ ra mọi thứ. Lộ thiên cơ mất cụ ơi! Bọn gián điệp kinh tế lúc nào cũng nhan nhản ra đấy. Xây dựng một công trình to lớn, tốn kém hàng chục ngàn tỷ đồng tất nhiên phải là chủ trương từ rất cao, cao tít mù tăm, nơi mà chúng con có tu bảy kiếp cũng không bén mảng đến được, chỉ dám ngửa cổ nhìn lên, như nhìn lên thăm thẳm trời xanh trên kia thôi. Cụ nói mà con lạnh hết cả người. Cái cổ con có phải bằng đồng đâu mà không sợ bị chặt.

- Vậy đã là chủ trương từ trên, thì chúng tôi đâu dám cãi lại. Các anh bảo thế nào thì chúng tôi sẽ nghe theo như vậy.

- Ấy không, bố đừng nghĩ thế. Bố và bà con nông dân có nhiều quyền lắm. Đất đai ông cha để lại, rừng ruộng do tổ tiên mình khai phá, sông ngòi, ao hồ đều là tài sản sinh lời, có được nhờ đổ xuống cả tấn mồ hôi, nước mắt, đâu dễ mà ai đó muốn lấy không? Bà con có cho chúng con cũng không dám nhận. Bà con mà chưa thỏa mãn thì cả đội quân trang bị xe tăng, pháo binh, tên lửa, tàu chiến, máy bay tối tân hiện đại thì cũng xin cứ đứng ở đầu làng nhé. Y như bên nước Mỹ ấy.

- Thế các anh định nhờ tôi giúp chuyện gì? - Ông giáo hỏi bằng thứ giọng run run, không rõ do ông sợ hay xúc động.

- Chúng con đến thăm bố, trước hết vì kính trọng một người cao tuổi, người cha tinh thần của làng, có uy tín lớn với bà con, có công với cách mạng, có thể làm gương cho con cháu. - Dụng nói như ghi âm sẵn - Giả dụ sau đây khi chúng con thực hiện chủ trương xây nhà máy thép, thì chúng con muốn bố đi đầu chấp hành. Một lời của bố còn mạnh hơn cả một đạo quân. Bố cứ nghỉ ngơi, việc đến đâu, chúng con xin báo cáo bố đến đấy. Mà chúng con cũng chưa đến lượt. Mọi việc đã có các đại nhân lo. Họ ở tít ngôi cao, nhưng biết hết mọi chuyện. Giờ chúng con phải về bẩm báo với họ là bố đã đồng ý giúp đỡ, và cũng để còn chuẩn bị cho những việc quan trọng khác. Chúng con sẽ sớm quay lại.

Những vị khách lễ phép đứng dậy. Ông giáo như vừa thoát cơn bóng đè, lật đật đứng dậy theo, cầm hộp quà đưa lại cho Dụng nhưng anh ta cứ cười cười gạt đi. Cuối cùng ông giáo bắt anh ta phải lấy toàn bộ số giỏ tôm mà anh ta ngỏ ý mua lúc mới vào nhà. Dụng và những người đi theo đoàn vội ôm từng bó giỏ mang ra xe, ai cũng sung sướng tràn trề, như họ vừa kết thúc mỹ mãn một phi vụ làm ăn lớn.

Còn lại một mình, ông giáo như người sắp phát điên, tâm thần tán loạn. Ông cứ đi ra cửa lại quay vào, vẻ mặt đầy bất an. Nếu là chủ trương từ trên, thì nhất định phải chấp hành - ông giáo lẩm bẩm để trấn an mình. Thế hệ những người như ông coi việc làm trái chủ trương là phản quốc. Rồi ông để nguyên gói quà, đặt vào ngăn kéo, như cất giấu một tang vật phạm pháp.

Lúc đó cầm đầu lực lượng biểu tình của làng chống lại dự án nhà máy thép là một anh bộ đội phục viên, tên Bích, được bà con cử làm người đại diện. Anh này chỉ có một cô con gái đang ở tuổi học trò. Anh ta có máu anh hùng nông dân, tính tình cương trực, coi thường cường quyền. Đám cán bộ xã, vốn là những người ủng hộ dự án nhà máy thép, rất ngứa mắt với những hành vi của Bích, nhưng không dám động vào anh ta. Ông giáo đang nhẩm tính sẽ chọn ngày đẹp, mời anh ta đến để tường thuật lại những gì ông nghe được từ miệng của Dụng, đại diện cho tiếng nói của Nhà nước, tiện thể công khai luôn với anh ta cả gói quà. Nhưng ông giáo mới chỉ nghĩ thế thì Bích đã mò tới. Anh ta hỏi độp luôn ông giáo:

- Cái đám cướp đất vừa nãy hối lộ thầy những gì để đối lấy sự ủng hộ của thầy?

Ông giáo vội đưa gói sâm và gói tiền còn nguyên vẹn ra cho Bích thấy, anh ta chỉ nhìn qua rồi bảo ông cất đi trước khi nói rành rõ từng từ:

- Ngần ấy để họ mua thầy, để thầy đồng ý bán chúng tôi, biến cả làng thành ăn xin ăn mày ư? Đúng là quân chó má. Thằng Bích này còn sống thì đừng có đứa nào xơ múi dù chỉ một cây cỏ lác ở cái làng này.

Bích yêu cầu ông giáo đứng sang một bên, mọi việc để anh ta và bà con tự lo liệu lấy. Ông giáo không biết nói thế nào, chỉ tay nọ đánh vào tay kia, mặt ông càng trở nên khắc khổ.

Mọi việc xảy ra sau đó chỉ chưa đầy một tháng. Bà con nông dân, dưới sự dẫn dắt của Bích, không chấp nhận cho xây nhà máy thép, đồng loạt tiếp tục biểu tình nằm. Những túp lều mọc thêm lên như nấm. Mỗi nhà trong làng cử ít nhất một người. Những người còn lại tiếp tế cơm, chăn màn, nước uống. Lực lượng của xã vào thuyết phục bị bà con la ó đuổi phải bỏ của chạy lấy người. Huyện cử người xuống điều đình cũng không xong. Bà con đồng loạt đưa ra lý lẽ rằng, đất không thể làm ra được. Chỉ có ngần ấy thôi, nên phải bảo vệ. Nhà máy thì phải xây ở những vùng đất bạc màu, còn đất tốt thì nhất định phải giữ để dành, nếu không con cháu có thể đeo vàng mà chết đói. Bà con nghe theo Bích, quyết không nhân nhượng bất cứ đoàn cán bộ nào. Cuối cùng phải nhờ đến mưu kế của ông N.

Ông giáo làng mải kể không để ý đến vẻ bối rối của Việt. Bởi vì ông N. chính là bố của anh, mọi người vẫn kính trọng gọi là Mr. N. Anh biết chắc như vậy chứ không thể có ông N. nào khác. Việt phải cố trấn tĩnh để có thể biết nhiều hơn những gì mình cần. Ông giáo làng mà biết con trai của ông N. đang ngồi trước mặt, chẳng hiểu ông có kể tiếp hay không.

- Cụ biết gì về ông N., ông ấy có phép thần gì ạ? - Việt hỏi bằng thứ giọng cố không để lộ ra chút cảm xúc nào.

- Ông ấy cũng đến gặp tôi - Ông giáo đáp - nhưng chỉ để hỏi xem quan điểm của tôi thế nào. Tôi bảo tôi sẽ nghe theo chủ trương của cấp trên. Ông N. không xảo ngôn như anh thanh niên có tên là Dụng. Đó là một người lịch lãm, đi nhiều hiểu rộng, rõ là thâm trầm. Mọi lời ông ấy nói đều rất khúc chiết, có lý, có tình và đặc biệt là rất dễ lọt tai. Ông ấy có vẻ bất đắc dĩ phải làm những việc không thể dừng lại. Nhưng tôi tin rằng mọi việc sau đó đều do ông ấy nghĩ ra cả. Cụ thể thế nào, anh nên gặp thẳng anh Bích mà hỏi. Chỉ xin đừng nhắc đến tôi trước mặt anh ta. Với anh ta và nhiều dân làng, tôi là kẻ bán đứng họ. Tôi thành thật không muốn nhớ lại bất cứ chuyện gì liên quan đến cái nhà máy thép oan nghiệt ấy nữa.

Ông giáo nói xong thì dùng khăn chấm chấm vào khóe mắt. Việt không bao giờ hình dung nổi đó là những giọt nước mắt cuối cùng của một ông già hiền hậu. Vài tháng sau đó ông treo cổ tự vẫn, chỉ để lại mấy dòng di chúc, trong đó có câu: "Tôi tự chết để chuộc tội với bà con và mong xóa được án cho chính bản thân mình".





                                                                        Đãng Khâu
                                                                                                                                                 (còn tiếp)




                                        *
                                                                        Mời tìm đọc:


Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
Click vào:





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Mười Hai 20186:09 CH(Xem: 24)
Đúng như ông Huyện trưởng dự liệu, khi huyện mời anh em ông Miện lên thông báo về việc chấm dứt hợp đồng khu đầm cá
04 Tháng Mười Hai 201811:22 CH(Xem: 135)
Một việc bất ngờ xảy ra, nằm ngoài mọi dự liệu của chúng tôi và tôi chỉ được xem qua video
27 Tháng Mười Một 20187:00 CH(Xem: 104)
Thật cứ như là giữa ông Sinh và tôi có thần giao cách cảm. Trong khi tôi đang cố
20 Tháng Mười Một 20187:37 CH(Xem: 150)
Bỗng có lúc tôi muốn thử đưa ra hình dung trước về Mr. Đại, một nhân vật cho đến lúc này vẫn vô cùng bí ẩn nhưng rõ ràng
13 Tháng Mười Một 20186:45 CH(Xem: 165)
Cái giá mà ông Huyện trưởng đưa ra ngầm ý nhắc tôi đừng tưởng mọi việc cứ thế mà xong