DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,381,188

Tin Buồn - Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn qua đời tại Phường Bối Am, Bảo Lộc, VN.

Wednesday, June 10, 20203:39 PM(View: 780)
Tin Buồn - Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn qua đời tại Phường Bối Am, Bảo Lộc, VN.
Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn qua đời

Những bài thơ hay nhất của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn - Thica.net


Theo tin của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên từ VN:
Nhà Thơ Nguyễn Đức Sơn mất hồi 3g sáng 11/6 tại Phương Bối Am, Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam.

Nguyễn Đức Sơnnhà thơ quê gốc làng Thanh Lương, huyện Hương Trà,Thừa Thiên Huế[1], ông được giới văn nghệ yêu nước miền Nam trước năm 1975 gọi là một trong ba kỳ nhân của thời đó (hai người còn lại là Bùi GiángPhạm Công Thiện) [2]

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn sinh ngày 18 tháng 11 năm 1937 tại làng Dư Khánh, tỉnh Ninh Thuận [1]
Nguyễn Đức Sơn bắt đầu công việc viết của mình với bút hiệu Sao Trên Rừng[3]. Ông được coi là một người có cá tính đặc biệt. Tuổi còn trẻ nhưng thơ đã chớm hoài nghi, đã thắc mắc về những câu hỏi đầy tính siêu hình.
Theo sự sắp xếp của làng văn miền Nam trước năm 1975, ngoài việc được gọi là một trong ba kỳ nhân của làng văn nghệ, ông còn được sắp xếp theo kiểu "thuần văn học hơn" là một trong tứ trụ thi ca của miền Nam, ba người còn lại là Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên.[4]
Thi sĩ đã từng theo học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn nhưng nửa chừng bỏ học. Trong lý lịch trích ngang trong tập thơ Những Bài Tình Đầu, ông viết: " Sống vô gia cư, chết vô địa táng..." và tuyên bố: "Nếu trường Đại học Văn khoa Sài Gòn sản sinh ra được một nhà văn nhà thơ nổi tiếng tôi xin chịu chặt đầu."
Ông ở nhiều nơi Phan Rang, Sài Gòn, Bình Dương-Thủ Dầu Một, Blao-Lâm Đồng và sinh sống bằng nghề dạy học.
Năm 1979, Ông cùng gia đình mình rời bỏ chốn phồn hoa đô thị chuyển lên ngọn núi Phương Bối, Lâm Đồng để... sống một cuộc sống thanh tịnh[2].
Hiện ông sống tại Phương Bối, Bảo Lộc, Lâm Đồng, Ông nổi tiếng là lão thi sĩ vạn thông (vì ông trồng một vạn cây thông) với biệt danh Sơn Núi [2].

Các tác phẩm của ông ca ngợi tinh thần tự do, yêu đất nước. Một số tác phẩm tiêu biểu:Đã xuất bản 3 tập truyện ngắn Cát Bụi Mệt Mỏi (An Tiêm 1968), Cái Chuồng Khỉ (An Tiêm 1969), Xóm Chuồng Ngựa (An Tiêm 1971) và tập Ngồi Đợi Ngoài Hành Lang chưa in. Thơ: Bọt Nước (Mặt Đất 1966), Hoa Cô Độc (Mặt Đất 1965), Lời ru (Mặt Đất 1966), Đêm Nguyệt Động (An Tiêm 1967), Mộng Du Trên Đỉnh Mùa Xuân (An Tiêm 1972), hai tập cuối cùng là Tịnh Khẩu (An Tiêm 1973) và Du Sỹ Ca (An Tiêm 1973).

 



Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn

Mặc Lâm 


Một trong bốn tứ trụ thơ

 

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn sinh năm 1937 tại Dư Khánh, Ninh Thuận. Ông còn được biết qua bút hiệu Sao Trên Rừng. Ông làm thơ rất sớm và đã in ra nhiều tập thơ và truyện ngắn từ đấu những năm 60 cho tới năm 1973. Ông có bài viết đăng trên những tạp chí hay các tờ chuyên đề rất nổi tiếng của miền Nam như Thế Kỷ Hai Mươi, Khởi Hành, Bách Khoa, Sáng Tạo, Thời Tập, Thời Nay, Trình Bày, Đối Diện, Mai, Văn, Văn Nghệ… 

Giới văn nghệ miền Nam lúc ấy xem ông là một trong bốn tài năng thi ca mà có người gọi là tứ trụ thơ gồm: Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên. Bên cạnh đó ông còn nổi tiếng với tính lập dị và rất nhiều người cho rằng ông với Bùi Giáng và Phạm Công Thiện nhập lại thành những dị nhân trong văn học. 

Thơ Nguyễn Đức Sơn hầu như trái lại với cá tính của ông một cách đáng ngạc nhiên. Nếu khi nói ông thường tỏ ra bất cần đời thì khi viết ông lại trân trọng, trau chuốt từ con chữ một, ngay cả con chữ có dáng vẻ không thanh bai, cao quý mà nhiều nhà thơ tránh né ông vẫn dùng chúng một cách thông minh, hóm hĩnh và không thiếu chất triết học trong ấy.

 Là bạn với Phạm Công Thiện và Bùi Giáng, ba người chia sẻ với nhau những khác biệt nhưng cũng ôm ấp nhiều cái chung mà đôi lúc chính họ không nhận ra. Phạm Công Thiện lừng lững đi vào triết học nhìn hiện tượng tồn sinh như một bất chấp của con người trong lúc vẫy vùng để sống. Bùi Giáng đam mê cái bóng chính mình trên những vuông giấy lạnh lẽo dơ bẩn của bụi đường, của rác rưởi cuộc đời, trong khi đó Nguyễn Đức Sơn ngong ngóng nhìn đời, nhìn mình với những câu hỏi vừa ngây thơ vừa cao siêu không lời giải thích. Sơn bỏ chạy khắp bốn phương, giạt trôi như rơm khô trên từng con rạch cuộc đời mà hành trang chỉ là những thanh âm ngọng nghịu, không đủ để trở thành một tuyên ngôn của kẻ bỏ cuộc nhưng trong từng bài thơ của ông vẫn còn đó những dáng dấp của một thời hưng phấn: 

“Chửi ông cố nội tôi, chửi cha tôi tôi không giận chứ nói tôi giống Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, nhất là Bùi Giáng (nha… nha…) tôi mừng lắm mà tôi tin rằng Bùi Giáng nếu mà còn sống sẽ không đụng gì với tôi cả mà sau ngày phỏng dai…sau ngày giải phóng thì chính Bùi Giáng đã phá cái luật đó (nha… nha…) chứ tôi coi Bùi Giáng là cái thằng này ba sạo quá (cười) ạo quá đi, sạo quá mà. Mà quần chúng xin lỗi chứ nó ngu quá đi nó tường như vậy là hay (nha… nha…) Thằng Phạm Công Thiện hồi đó hồi trước giải phóng đi qua Mỹ lái máy cày mà nổi tiếng (cười). Nói tắt tôi định viết nhiều chuyện nhưng chưa được phép nói ra đây chắc có lẽ không đến nỗi xuống lỗ rồi mới viết.” 

Những lời lẽ giỡn hớt, đùa bỡn của nhà thơ như đọng lại một nỗi niềm mà nếu tinh ý người nghe có thể nhận ra trong đó là giễu cợt chính mình qua những khuôn mặt cố tri một thời cùng sống. Giễu cợt cả mình và cả thiên nhiên khi chạm phải sự dữ dội lạnh lùng của trời đất. Bài thơ “Một mình đi luồn vô luồn ra trong núi chơi” có lẽ đáng là một đặc trưng cho tính cách Nguyễn Đức Sơn: 

Khi thấm mệt tôi đi luồn ra núi

Cuối chiều tà chỉ gặp cỏ hoang sơ

Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi

Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô

Chân rục rã tôi đi luồn ra núi

Hồn rụng rời trước mặt bãi hư vô 

Nguyễn Đức Sơn không phải lúc nào cũng “luồn vô luồn ra” như một thiền sư, rất nhiều lúc ông lặng lẽ làm một công việc mà bất cứ một chàng trai nào cũng từng làm, mơ mộng và yếu đuối trước giai nhân:

 

Một đêm trăng mờ ảo

anh tìm về thăm em

phố buồn như hoang đảo

gió ngừng ru bên thềm

ánh đèn sao le lói

căn phòng sao đìu hiu

anh lặng người thầm hỏi

kiếp người sao tiêu điều

 

Anh đi vòng sau nhà

một mình như bóng ma

giật mình anh nghe thấy

có tiếng gì bay xa

 

Rồi đêm trăng mờ ảo

anh lại về thăm em

như lá vàng lảo đảo

anh lui về trong đêm
 

Nhà thơ, người luôn thắc mắc với trời đất, với sự quanh hiu lẫn mang mang hư vô của cõi nhân gian. Hãy nghe Nguyễn Đức Sơn diễn tả cái xúc cảm mang mang ấy: 

Mang mang trời đất tôi đi

Rừng im suối lạnh thiếu gì tịch liêu

Tôi về lắng cả buổi chiều

Nghe chim ăn trái rụng đều như kinh

Còn một mình hỏi một mình

Có chăng hồn với dáng hình là hai

Từng trưa nằm nghĩ đất dài

Phiêu phiêu nhẹ cái hình hài bay lên

Mù sương âm vọng tiếng huyền

Có con dơi lạ bay trên cõi đời

Sau xưa mắt đã ngợp rồi

Tôi nghe tôi chết giữa trời thinh không 

Chủ đề quê hương


BÂNG KHUÂNG: CHÙM THƠ NGUYỄN ĐỨC SƠN NĂM 1992


Nếu nhắc tới thi sĩ từ thập niên 40 trở về sau mà không nhắc tới chủ đề quê hương của họ thì thật có lỗi. Nguyễn Đức Sơn cũng không ngoại lệ. Khi nói tới quê hương hình như bất cứ thi sĩ nào dù ngông nghênh cách mấy cũng thấy lòng lắng xuống nhường chỗ cho những dịu dàng, trân quý nhất dành cho nó. Nguyễn Đức Sơn hỏi han, vỗ về và nhắc lại kỷ niệm như một cậu bé về làng hơn là một gã thi sĩ điên khùng nói về quê cũ: 

Tháng bảy dì về đơm nhãn

nhớ mang ra ít giạ chiêm

ruộng xưa cò bay thẳng cánh

gặt hái vừa độ trăng liềm

 

mười mấy năm rồi dì nhỉ

lạc loài xa mãi cố hương

giờ đây ngồi mà suy nghĩ

lòng dạ ai người không thương

 

quê mình ai còn ai mất

đi rồi gươm súng mùa thu

khóc mãi từng đêm lưu lạc

nói ra thêm oán thêm thù

 

ngõ về làm sao ngài ngại

xe cộ có dễ dàng không

kháng chiến người đi chưa lại

lúa khô héo cả ruộng đồng

 

ông ngoại chắc già ghê lắm

mấy người dì nữa nhưng thôi

đất cằn quê hương nứt rạn

kể thêm đau lòng dì ơi

 

dù sao cũng là xứ sở

đói nghèo đừng lạt tình thương

mười năm không cúng không giỗ

dì về ấm lại khói hương

 

tháng bảy dì về đơm nhãn

nhớ mang ra ít giạ chiêm

ở đây làm gì có bán

thấy người ta ăn bắt thèm. 

Đôi lúc Nguyễn Đức Sơn có nét tương đồng với Nguyễn Bính, hết tâm sự với người dì tới nhỏ nhẹ hỏi han tới chị. Trong từng khuôn chữ ấy người đọc gợn lên mối cảm hoài mà nhiểu chục năm sau không còn thấy nữa.
 

Giữa mùa nắng vàng hiu hắt

Về đây đôi mắt dịu hiền

Về đây cả bàn tay đẹp

Đi tìm thăm xứ người em

 

Ngõ hẹp lối vào gác trọ

Chiều trưa nhạt nắng bên thềm

Bỗng dưng sao lòng se thắt

Vương vương đếm mấy nỗi niềm

 

Gặp nhau sao mà không nói

Tuổi hiền mà cũng lao đao

Ơ kia làm sao chị khóc

Tình em vẫn như dạo nào

 

Chị bảo rằng đây mưa nắng

Bốn mùa em có buồn không

Em cười làm sao cay đắng

Chị ơi lệ ở trong lòng 

Thi sĩ, những kẻ nghịch đời. Cuộc sống chung quanh của một thi nhân hình như được tạo hóa nặn ra cho một mình anh ta. Cành hoa lìa cuống cũng làm họ khóc huống chi cả một cuộc phân lỳ và hơn thế là cuộc chiến tương tàn. Nguyễn Đức Sơn sinh ra trong thời đại của đói nghèo ly tán cùng chết chóc lầm than của chiến tranh, bằng ấy thứ cộng lại trên đôi vai người Việt khiến ông như hầu hết các thi sĩ khác tất cả đều có chung một ước mơ, ước mơ thanh bình. Vậy mà cách diễn đạt cái ước mơ ấy của Nguyễn Đức Sơn cũng rất khác với mọi người. Cái khác ấy làm nên một Nguyễn Đức Sơn khác biệt. 

Mai kia tan biến hận thù

Giữa đêm sao chiếu mịt mù phương đông

Cha về ôm cả biển sông

Duỗi chân duỗi cẳng nằm không một đời

Cho con cha hứa một lời

Đuổi mây thiên cổ rong chơi tối ngày

Thu nào tóc bạc òa bay

Có con chỉ trỏ mới hay tuổi già

Cúi hôn trời đất đậm đà

Cha tan theo bóng trăng tà vạn niên 

Sau 30 tháng 4 cuộc đời nhà thơ đổi thay cùng với sự trở mình của đất nước. Trong môi trường đầy biến động ấy có thể làm nhà thơ dị thường thêm một chút, cay đắng hơn một chút nhưng hình như người đọc thấy sự dí dỏm tinh đời trong từng nhận xét của ông qua cách ông nhỉn một giai cấp mới, giai cấp đảng viên. Trong bài: “Tâm sự với một Đảng viên trí thức muốn ra khỏi Đảng” ông viết: 

Anh đi cách mạng bao năm

Từ rừng đến phố dao găm chưa xài

Vẫn chưa dứt điểm sòng bài

Tấm thân ê ẩm khuya dài đau sao

Cứ yêu tha thiết đồng bào

Tuy nhiên hễ thấy máu trào thì ngưng 

Trả lời tạp chí Bách Khoa trước năm 1975 Nguyễn Đức Sơn thú nhận: "Tôi viết vì bị thúc đẩy bởi một lực ở đằng sau và được thu hút bởi một lực ở phía trước. Đó là những ma lực làm tôi cảm khoái huyền diệu xa xăm. Thứ cảm khoái này kéo dài được chứ không ngắn như nhục cảm. Viết được một đoạn hay tôi đi lên đi xuống thưởng thức và khoái chí. Nên tôi nghĩ rằng sáng tác cho mình trước hết." 

Hơn 40 năm sau Nguyễn Đức Sơn hình như không còn cái hạnh phúc của “đi lên đi xuống” đó nữa, ông trả lời cùng một câu hỏi của trước đây 40 năm mà như tự hỏi lại mình: 

“Tôi ngay bây giờ tôi định làm chương trình một bãi thơ lớn lắm, bãi thơ không phải bãi c..không biết có được không (nha… nha…) bây giờ không thể trả lời ngắn được. Tôi không biết tôi viết cho bây giờ hay cho mai sau, tôi không biết được đâu vì nói sao cũng đúng hết mà nói sao cũng trật hết (nha..nha..) Bây giờ tôi đang đứng giữa đồi lên nhà xa lắm mà móc cái điện thoại ra từ trong túi áo, kim băng (nha… nha…) cây kim băng còn dính lòng thòng… 

Tôi chỉ muốn làm một người bình thường thôi ngay những người Mỹ tới đây tôi dã dặn trước con cái đừng cho họ vô nhà (nha… nha…) để cho họ khỏi hiểu lầm gì hết tôi muốn bình yên. Hiện bây giờ tôi đang bị giời leo cái bệnh ở dơ trong bụi bặm, giời leo nó khó chịu vô cùng bây giờ nhức nhối đôi khi bực bội không thể chịu được. Giời leo nha anh biết không?  Không phải bà leo không phải trời leo nha…” 

Nguyễn Đức Sơn có thể là một dị nhân của thi ca Việt Nam qua tính cách, đời sống cũng như nói năng trong ngôn ngữ đời thường, tuy nhiên ông không thể là một dị nhân trong sáng tác của mình vì trong mỗi vuông đất thi ca của riêng ông con người Việt Nam thấy in đậm bóng của họ trong đó. Thơ ông không tách ra khỏi cuộc đời để trở thành dị thường, nó bình thường dễ cảm và đáng ngạc nhiên nhất là rất đậm chất trữ tình của những tâm hồn dân giã .

Mặc Lâm
(từ: RFA)


                         CHIA BUỒN


hoa tang
Nhận Được Tin Buồn: Nhà Thơ Nguyễn Đức Sơn mất hồi 3g sáng 11/6 tại Phương Bối Am, Bảo Lộc, Lâm Đồng, Việt Nam.
Thành Kính Chia Buồn Cùng Tang Quyến. Cầu nguyện hương linh nhà thơ Nguyễn Đức Sơm sớm về Cõi Vĩnh Hằng.

                                                                                   Bạn Văn

Thành Tôn - Cung Tích Biền - Phạm Phú Minh - Trịnh Cung - Song Thao - Nguyễn Vy Khanh - Trần Thế Phong - Nguyễn Lương Vỵ - Hà Nguyên Du - Đông Nghi - Trịnh Y Thư - Trần Hoài Thư - Phan Xuân Sinh - Trần Doãn Nho - Nguyễn Xuân Thiệp - Nguyễn Thanh Châu - Lý Thừa Nghiệp - Lâm Chương - Rừng (Kinh Dương Vương) - Phan Tần Hải - Trầm Phục Khắc - Vương Trùng Dương -  Luân Hoán - Nguyễn Văn Sâm - Trần Văn Sơn - Võ Kỳ Điền - Ngọc Hoài Phương - Ann Phong - Thái Tú Hạp & Ái Cầm - Lương Thư Trung - Triều Hoa Đại - Phạm Cao Hoàng - Khắc Minh - Vương Hoài Uyên - Trần Thị Cổ Tích - Cao Hoàng (Seattle) - Hồ Thành Đức & Bé Ký - Mang Viên Long - Đoàn Văn Khánh - Phù Sa Lộc - Nguyễn Đình Thuần - Phan Chánh Khánh - Đặng Châu Long - Ngô Thị Mỹ Lệ - Nguyên Minh - Huỳnh Liễu Ngạn - Trần Thanh Ngọc (Triều Giang) - Thy An - Trần Văn Phê - Cao Thoại Châu - Khánh Trường - Ngô Tịnh Yên - Nguyên Lạc - Trần Đức Phổ - Đức Phổ - Hồ Ngạc Ngữ - Đoàn Thị Phú Yên - Nguyễn Thị Bạch Vân - Nguyễn An Bình - Hồ Chí Bửu - Võ Anh Kiệt - Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Nguyễn Đình Từ Lam - Nguyễn Minh Phúc - Nguyễn Lệ Uyên - Nguyễn Hàn Chung - Lê Văn Trung - Huy Tưởng - Đặng Phú Phong - Trần Thoại Nguyên - Đinh Trường Chinh - Hoàng Lộc - Trần Triết - Võ Quê - Nguyễn Miên Thảo - Thiếu Khanh - Hoàng Kim Oanh - Hạ Đình Thao - Nguyễn Phú Yên - Vũ Trọng Quang - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Đặng Tiến - Phạm Văn Hạng - Vương Ngọc Minh - Nguyễn Đức Tùng - Nguyễn Hữu Thụy - Hoàng Xuân Sơn - Trương Văn Dân & Elena - Trương Điện Thắng - Bùi Chí Vinh - Thanh Bình Thân Mến - Mạc Phương Đình - Lê Hoàng Tuấn Kiệt - Phạm Hồng Ân -  Trần Yên Hòa...


                                                             Đồng Thành Kính Phân Ưu                               

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, September 2, 20207:29 AM(View: 291)
Nhà phê bình văn học - dịch giả - nhà văn Huỳnh Phan Anh đã mất lúc 16h45 Chủ nhật, 30.8 tại San Jose (tức 6h45 sáng thứ Hai, 31.8.2020 - giờ Việt Nam), hưởng thọ 81 tuổi (ông sinh năm 1940 - tuổi canh thìn).
Saturday, August 29, 20207:38 AM(View: 306)
Nhà văn và dịch giả Đỗ Phương Khanh, từng là quản lý trị sự tuần báo Thiếu Nhi ở Sài Gòn trước năm 1975, vừa qua đời hôm Thứ Tư, 26 Tháng Tám, tại Wesminster, California, hưởng thọ 84 tuổi.
Wednesday, August 26, 20208:14 AM(View: 317)
Hữu Loan, Dzũng Chinh, Vũ Anh Khanh, ba con người tuy hoàn cảnh và đường đời khác nhau nhưng đã tình cờ gặp nhau nơi con đường cái quan, trên đường tranh đấu,
Sunday, August 16, 20207:47 AM(View: 336)
Tháng Bảy này là ngày giỗ thứ tám của nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Cái chết của một nhà văn, nhà thơ bao giờ cũng để lại những ngậm ngùi cho người đọc, nhưng dư âm lâu dài nhất thường đọng lại trong những người đã từng một thời cùng viết lách với tác giả.
Wednesday, August 12, 20207:51 PM(View: 383)
Nhận được Tin Buồn: em trai của Nhà Văn Nguyên Minh, Chủ Biên Tập San Quán Văn, tại Sài Gòn, là nhà sưu tập tranh Nguyễn Chí Sơn vừa thất lộc tại Sài Gòn ngày 11 tháng 8. 2020 hưởng thọ 63 tuổi. Xin Chia Buồn cùng nhà văn Nguyên Minh