DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,345,336

Nguyễn Ngọc Chính - Những Mối Tình Của Nhà Văn Nữ Túy Hồng

Thursday, July 30, 20204:54 PM(View: 170)
Nguyễn Ngọc Chính - Những Mối Tình Của Nhà Văn Nữ Túy Hồng
          Những Mối Tình Của
                                           Nhà Văn Nữ Túy Hồng


blank

                                                         Nhà văn Túy Hồng (qua nét vẽ của họa sĩ Tạ Tỵ)



Trước đây, tôi có viết một bài về Túy Hồng, một trong 5 “nữ hổ tướng” của nền văn học Miền Nam, bên cạnh các nhà văn Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng và Trùng Dương. Bài viết này có nhan đề “Những mối tình của nhà văn nữ Túy Hồng” (*) khi bà còn sinh thời.

Chỉ mới đây thôi, ngày 19/7/2020, bà đã qua đời tại Hoa Kỳ, hưởng thọ 82 tuổi. Nhà văn nữ Túy Hồng đả bỏ lại sau lưng tất cả: một gia tài văn học với hàng loạt những chuyện ngắn sáng tác tại Việt Nam và Hoa Kỳ để theo chân người chồng là nhà văn Thanh Nam, qua đời năm 1985 tại Mỹ.

Túy Hồng có 9 tác phẩm đã xuất bản ở miền Nam Việt Nam trước 1975, và 5 tác phẩm xuất bản ở hải ngoại. Bà cũng là nhà văn nữ đầu tiên trong “5 nữ hổ tướng của văn học Miền Nam” đã lìa đời.

Trong bài viết này, chúng tôi chỉ muốn nói đến quá khứ của một người con gái Huế, gĩa từ miền Trung để vào Sài Gòn, vùng đất đã tạo cơ hội cho việc thăng hoa về văn chương với hàng loạt tác phẩm đã đem đến một chỗ đứng trong sự nghiệp văn chương của Miền Nam.

Nét đặc sắc trong văn của Túy Hồng là lúc nào cũng bàng bạc một xứ Huế mộng mơ. Trong “Tôi nhìn tôi trên vách” (1970), Túy Hồng kể:

“Huế là quê hương tôi, quê hương đang có vô số nhà cửa cần bán rẻ để người Huế vào Saigon tìm một chỗ ở cuối cùng. Tôi đã ở Huế từ trong bụng mẹ đến năm thứ hai mươi tám của cuộc đời. Huế đã mang thai tôi, đẻ ra tôi, cho đến khi tôi đi lạc vào Saigon này.

“Từ hai năm nay tôi ở nhà thuê, nói tiếng Bắc, ăn chả giò, ăn bún riêu, canh chua cá giấm, thịt bò vò viên, mía ghim và có một người yêu. Tôi vào Saigon không phải là một cuộc tháo thân vì không biết biết trước rằng trong tương lai Huế sẽ phải trải qua vụ đổ huyết bao la rợn gáy lịch sử là cái biến cố của sự chết năm Mậu Thân, Huế của tôi đã xích lại quá gần lịch sử!

“Bỏ Huế mà đi lòng tôi nhớ trời, nhớ khoảng thiên nhiên. Tôi không yêu một thứ vẻ đẹp cấm cung, một thứ vẻ đẹp hạn hẹp, mà yêu thênh thang cả một khoảng thiên nhiên. Huế đẹp từ một vũng nước đọng bên đường đến lượng cả con Hương giang, từ cọng rau muống bờ hồ đến cây phượng già xanh lục, có nhiều hôm đi xe đạp lên cầu ga nhìn dãy núi lam phía sau cầu Bạch Hổ mịt mịt mùng mùng mà tưởng cái phần hồn của từng kiếp người cũng có thể giăng dài, kéo dãy như vậy!

“Những đêm mùa đông, những con “ệnh oạng” kê mõm khắc khoải kêu than từ những ao rau muống… kêu chi mà khổ mà trầm thống! Thêm vào đó, tiếng rao hàng dài lê lết: Mua trứng lộn! Mua trứng lộn!… Trời ơi! Tiếng kêu của miếng ăn sao mà buồn đến thế!

“Nhức xương buốt tủy mất! Tưởng tượng mở cửa kêu vào chắc mình phải ôm cô hàng trứng mà khóc ngất! Rồi cái quán cơm, quán cơm cũng mang tên Âm Phủ ăn dưới ngọn đèn tù mù… và con đường Âm Hồn, tiếng chuông chùa Diệu Đế… Cực lòng quá, Huế ơi! Tôi đi… ở với Huế buồn lắm… vào Saigon họa may có một nụ cười, vào Saigon họa may có một người yêu!”

(hết trích)

blank
                                                                                    Tác phẩm “Tôi nhìn tôi trên vách”

Cho dù đang ở xứ Mỹ từ năm 1975, bà luôn nhớ đến Huế như trong truyện “Rau răm cay hoài ngàn năm”:

“Đêm qua tôi nằm ngủ ở Mỹ để mà nghe Huế mưa. Huế rơi từng sợi sương, Huế rớt từng sợi tơ vương, Huế rụng từng sợi chỉ ướt trước khi mưa đổ nước đầy sông Hương. Giữa khuya, tôi nhớ tới hai câu thơ cũ của Paul Verlaine:

“Il pleure dans mon coeur,
Come il pleut sur la ville.


“Mưa rơi trong tim tôi
Như mưa rơi trên thành phố.

“Tôi không biết mỗi năm có bao nhiêu ngày Huế mưa và Huế lụt; nhưng ở đây, thành phố Portland trung bình thì chừng 152 ngày trời ướt…”
(hết trích)
 

Túy Hồng viết trong đoạn kết “Vô đề” (2008), kể về người tình Việt Nam tên Lương và người chồng Mỹ Jeffrey. Hai hình ảnh người đàn ông trong đời cô Tâm nổi lên tương phản với nhau và phần thắng lại về người chồng gặp sau này trên “đất khách quê người” chứ không phải người tình đã quen nhau từ trước: 


“Lương quay người, kéo Tâm vào bụng mình rồi cúi xuống hôn miệng nàng. Tâm gạt ra, bảo:


"Tôi biết thế nào rồi cũng có cái màn này. Một nhà tâm lý nói: Vợ chồng là hai người bị Trời lấy dây trói lại bắt sống với nhau, vợ chồng phải giữ hoà khí, không gây chiến, hai bên tương kính, không la hét nhau. Jeffrey và tôi chung sống trên ba mươi năm đầm ấm, hắn nói với tôi những lời tốt, những lời hiền…


“Lương, gặp lại Lương, tôi yếu mềm thương mến Lương, nhưng trước giờ phút cám dỗ này… tôi xét lại cái tình nghĩa giữa tôi và Jeffrey: giữa hai vợ chồng tôi, không có một lần nào gây lộn, không nói với nhau một lời xấu; cho đến giờ này, giữa chúng tôi, chỉ thấy những kỷ niệm tốt hiện ra… chỉ thấy cái đẹp hiện ra…


“Nếu, nếu một hình ảnh xấu nào hiện ra… thì… thì lúc này, tôi thuộc về Lương”.

(hết trích)


blank
Đám cưới Thanh Nam - Túy Hồng: 
Nhà văn Mạc Thu đứng cạnh chú rể Thanh Nam cầm ly rượu và Thanh Tâm Tuyền bìa phải cạnh cô dâu Túy Hồng.



Phải chăng đó cũng là thứ triết lý mang sắc thái “Huế… Rặc” dù đã bôn ba sang tận đất Mỹ vốn nổi tiếng là “văn minh, vật chất”. Càng đọc Túy Hồng người ta càng thấy cái tình cảm “chân quê” của vùng sông Hương, núi Ngự vẫn còn đâu đó trong tâm hồn một “cô gái Huế”. 
 

Bài viết này thay cho lời giã biệt một nhà văn nhân ngày… người con gái Huế ấy đã đi xa! 



19/7/2020


Giữa Nhã Ca và Túy Hồng [1] có nhiều điểm chung. Thứ nhất, cả hai đều sinh trưởng tại Huế và thành công trong văn nghiệp tại Sài Gòn. Thứ nhì, cả hai đều có chồng trong giới văn nghệ: Nhã Ca kết hôn với Trần Dạ Từ, có 5 người con trong khi Túy Hồng lập gia đình với Thanh Nam (mất tại Seattle năm 1985) với 4 người con.

 
Chất Huế có phần đậm nét trong văn của Nhã Ca, từ ngôn từ cho đến cảnh trí, nhưng lại chỉ bàng bạc trong những trang viết của Túy Hồng, thay vào đó là những trang viết “bạo” về sex, cụ thể hơn là những đoạn có liên quan đến nhục dục. Theo nhà văn Trần Phong Giao nhận xét: “… gái Huế chỉ nên là người tình chứ đừng nên bê về làm vợ” (sic). Kết cuộc là nhà văn Tuý Hồng và Nhã Ca đã phản đối tác giả Trần Phong Giao kịch liệt.  

 
Túy Hồng dạy học tại trường Trung học Hàm Nghi, phía sau cửa Thượng Tứ. Đây là một ngôi trường khiêm tốn, không nổi tiếng như Quốc Học và Đồng Khánh. Từ trường Hàm Nghi, Túy Hồng xin thuyên chuyển về trường Gia-Hội, nằm sau đầm sen trước tư dinh ông Hoàng Mười. Ký ức về Huế được dàn trải trên những trang viết:
 

“Những đêm rằm, tôi chèo thuyền về xóm Đập Đá đất khô cứng, ngó xuống thôn Vĩ Dạ xanh um hàng cau lả mình trong gió đa tình, trong ánh trăng Hàn Mạc Tử, lòng thấy nhớ những cuốn sách dày, những tập thơ mỏng, những tên tuổi người viết lách…
 

Những ngày thứ bảy, tôi phóng xe đạp lên đồi Vọng Cảnh, hướng về điện Hòn Chén, thả tầm mắt ngắm núi Ngự Bình trọc đầu,  nhìn xa xa về cửa Thuận An, rồi đăm chiêu ngắm Thành Nội êm đềm tĩnh lặng…


 
blank
Túy Hồng
 

Giữa khung cảnh trầm lắng của khung trời Huế đa tình đó, Túy Hồng nảy sinh tham vọng viết văn qua nhiều đêm thức trắng, vật lộn với truyện ngắn đầu tay và gửi đăng báo Văn Hữu ở Sài Gòn. Một tuần lễ trôi qua, tòa soạn Văn Hữu phúc đáp, trong thư trả lời có 1000 đồng tiền nhuận bút và những dòng chữ hồi âm của nhà văn Võ Phiến:

 
“Sao tôi khờ dại và ngu như bò! Sao tôi thật thà chất phác như trâu. Suốt thời gian làm việc ở sở thông tin Huế, tôi dốt nát và u mê như heo! Tôi không dám tìm gặp cô một lần, và không đủ can đảm làm quen với cô hồi đó! Xứ Huế đang yêu ai và có bao giờ sông Hương ngủ đò..  Chào cô!..”
 

Đó là bước khởi đầu trong văn nghiệp của Túy Hồng với 1000 đồng nhuận bút và cũng là “mối duyên văn nghệ” của một cô giáo xứ Huế với nhà văn nổi tiếng ở Sài Gòn. Túy Hồng và Võ Phiến thư từ qua lại đều đặn mỗi ngày. Nhưng vào một buổi sáng khi “nắng Huế hung hăng bốc nóng” Túy Hồng nhận được bức thư từ ông cai trường. Trong thư Võ Phiến… thú tội:“Anh xin thú thật với em một tội lỗi, vì một ngày kia em sẽ hỏi. Xin em tha thứ cho anh: anh đã lập gia đình từ lâu, và vợ chồng anh có bốn đứa con”.

 
Trong bài viết mang tựa đề Võ Phiến, Túy Hồng viết: “Đó là cái nghiệp của ít nhiều nhà văn và nhà thơ nữ miền Hương-Ngự, những kẻ tháo gỡ vòng dây trói Khổng Mạnh Huế để vào Nam hòa nhập với tự do Sàigòn. Những người viết nữ thường sa vào tay những kẻ đã có vợ và nhiều con. Nếu tôi là một ông thầy tướng số mù, (thầy bói thì phải mù, chứ thầy bói mà hai mắt mở thao láo thì nói ai nghe), tôi sẽ tiên đoán vận mệnh của các nhà văn nữ: văn chương thì rạng rỡ, nhưng tình duyên thì trắc trở. Những nhà văn nữ thường thích sinh sống ở Sàigòn hơn ở Huế, Vĩnh Long, Phan Rang. Sàigòn thông cảm tâm sự của họ hơn Huế, và những nơi khác. Sài gòn có đủ đàn ông để họ lãng mạn và làm bạn”.

 
Túy Hồng thú nhận một cách thành thật: “Tôi tham vọng viết truyện dài, nhưng không có thực tài, khả năng chỉ đủ để sáng tác truyện ngắn. Trong một truyện vừa không ngắn không dài, tôi miêu tả hình ảnh một tên đàn ông đểu giả gian dối, một kẻ ngọai tình với tôi và phụ tình với vợ. Nhiều đêm dài mất ngủ, cùng với hoa quỳnh ngày tàn đêm nở, tôi trút giận hờn vào những câu văn ác ôn. Tình yêu là một giọt máu mang số 35”.

 
Võ Phiến khuyên: “Em hãy liên lạc với tòa báo, nói với ông chủ bút gửi trả lại cái truyện ngắn đó… không đăng báo. Em mà để cái truyện ngắn đó đăng lên báo…  thì em lỗ, anh thì chẳng mất mát gì…

 
Em hãy thay đổi bút pháp, thay đổi giọng văn, đừng trút giận hờn vào bài viết. Đừng đùa với dư luận, đừng khai sự thật với độc giả.. Phải dấu kín, phải niêm phong bí mật lại. Dư luận độc địa lắm. Chúng ta không lấy được nhau thì chúng ta sẽ làm sui gia với nhau. Con anh sẽ lấy con em.”



 
blank
Túy Hồng với Tôi đơn ca
(Tranh của họa sĩ Chóe)
 

Túy Hồng từ Huế vào Đà Lạt chấm thi, tạm trú tại cư xá Bùi Thị Xuân và Võ Phiến từ Sài Gòn lên thành phố sương mù vài giờ trước đó. Đà Lạt ẩn hiện dưới ngòi bút của nhà văn nữ mới chập chững vào đời:

 
“Chúng tôi đi đêm dưới trăng mờ Dalat. Vườn nhà ai, những búp hoa quỳnh màu bạch ngọc đã uốn cong cánh từ chiều muộn để sẽ nở bung cánh ra khi màn đêm dần xuống. Mỗi bước đi của chúng tôi là mỗi nhịp đời nhẹ êm, mỗi hé nở âm thầm của quỳnh hoa, mỗi hơi thở dài sâu của câm lặng tình cảm. Bóng tối chụp lên cảnh vật, nhưng ánh trăng cũng sáng soi chiếu xuống vòm cây cành lá. Đêm nhẹ êm, thế giới về khuya tĩnh lặng, hương quỳnh-tương thơm dịu trời mây. Trong thời gian và không gian này, quỳnh hoa sẽ bung nở với trăng, với khoảng không bao la và với bóng tối lan tràn  để khi đêm hết, quỳnh hoa sẽ tàn vì mặt trời chói sáng, quỳnh hoa sẽ chết đúng vào ngày mai với ánh thái dương nóng cay. Cuộc đời của hoa quỳnh chỉ trường thọ được một đêm thôi”.

 
Phải chăng hoa quỳnh ẩn dụ một mối tình sớm nở tối tàn? Cũng tại Đà Lạt, Võ Phiến tâm sự với Túy Hồng:

 
“Anh không ham muốn em từ phút ban đầu, cũng không ham muốn em sau cái phút anh nhìn em qua cửa kính cư xá Bùi Thị Xuân, mà anh chỉ yêu em bởi vì những câu văn đầu tay em viết trong truyện ngắn gửi đăng báo… Yêu đời sống, chúng ta hãy đầu cơ khả năng, thì giờ và lòng thành vào văn chương. Anh cho nghệ thuật tất cả tài sản tinh thần của anh. Con đường anh đi là con đường văn nghệ, chấp nhận sống và chết, trừu tượng và cụ thể. Anh không phải là họa sĩ, nhưng anh có màu sắc nét vẽ; anh không phải là nhạc sĩ nhưng anh có âm thanh tiếng động.”

 
Tình yêu của họ cũng tựa như hoa quỳnh. Theo lời của Túy Hồng, nó kết thúc ngay tại Đà Lạt trong một tình huống khiến người đọc ngỡ ngàng:“Khi chúng tôi ngang qua quân trường võ bị, bỗng có một người đàn bà đi ngược chiều, tay dắt một đứa con gái mặc áo đầm. Võ Phiến mặt mày tái xanh, sợ hãi, vụng về hoảng hốt quýnh lên:Vợ anh, em tìm xe về đi”.

 
Võ Phiến có một nhận xét rất “trắng trợn” về Túy Hồng: “Em không bằng Nguyễn Thị Hoàng, em thua kém Nguyễn Thị Thụy Vũ. Họ kính nể người yêu, họ không oán trách người tình, không căm giận những người đàn ông mà họ đã thương. Còn em, em không tốt, em nói xấu anh dữ dội trong truyện ngắn em viết..”
 

Túy Hồng cũng nhận xét về chính mình một cách thẳng thắn: “Em là gái trời cho không đẹp, và trời không cho một đàn ông. Một cô gái đã già, một nữ giáo chức cô đơn dạy học ở một tỉnh lỵ chậm tiến… nhưng tôi không Huế một chút nào cả, tôi nhanh chóng hội nhập đời sống Sàigòn. Hồi đó, tôi nói tiếng Bắc, phát âm rõ từng chữ và đúng giọng, nhưng không bắt chước được giọng Nam”.


 
blank
Thủ bút của Túy Hồng
 


Chuyện Túy Hồng-Võ Phiến vẫn chưa chấm dứt ở Sài Gòn. Túy Hồng gửi bản thảo Những sợi sác không để dự thi Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1970 cùng với Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ… và hội đồng giám khảo gồm Nguyễn Mạnh Côn, Mai Thảo và có cả… Võ Phiến!

 
Trong vai trò giám khảo, Võ Phiến loại bỏ Những sợi sắc không với lý do “tác giả chỉ đánh máy bản thảo chứ không gửi sách”. Trong phiên họp cuối cùng, hội đồng giám khảo cho biết sẽ không có tác phẩm trúng giải nhất, mà chỉ có hai tác phẩm đoạt giải nhì đồng hạng vì không hội đủ sự đồng tình của cả ba giám khảo.

 
Nhà văn Thanh Nam [3], khi đó đã gắn bó với Túy Hồng, nhận xét: “Có những kẻ nhớ lâu và giận lâu..  Anh, một người con gái anh đã quen và đã yêu thì không bao giờ anh ghét.  Anh công bằng nói rằng Võ Phiến thù em.”

 
Túy Hồng chỉ nghĩ một cách thật đơn giản:“Văn không phải là người. Những gì tôi viết ra.. đều là đùa nghịch giỡn chơi thôi. Tôi chỉ biết một điều về Võ Phiến là ông ta rất thương yêu vợ…” Ở một bài khác, Túy Hồng viết: “Tôi chưa thấy một người đàn ông nào thương vợ nhiều như thế, yêu vợ kỹ như thế. Vợ anh, vợ anh...  cái miệng cứ tía lia vợ anh vợ anh, làm như người ta sắp giựt mất. Bà Võ Phiến tên cúng cơm là Viễn Phố”.  
 
 
 
blank
Võ Phiến và vợ
 


Mối tình Thanh Nam-Túy Hồng cũng có nhiều điều đáng chú ý. Gặp nhau năm 1966, và chỉ một tháng sau họ lấy nhau, khi đó, theo lời Túy Hồng, “Thanh Nam đã là một lực sĩ đuối sức trên hai vòng đua tình và tiền”.

 
“Khi một phụ nữ gặp gã đàn ông chưa quá vài lần mà đã ngủ với hắn ngay và lấy hắn làm chồng liền, đó là hoả hoạn của tình dục, của hoang dâm bấy lâu đè nén đã thừa cơ bật dậy. Những cuộc hôn nhân vội vã như thế này thường xuyên có thể đưa đến đổ vỡ, nhưng Thanh Nam và tôi lì lợm chung sống với nhau hoài bên bầy con bốn đứa. Hôn nhân của chúng tôi đứt đôi chỉ vì có một cái chết”.

 
Túy Hồng tiết lộ qua bài tản mạn mang tựa đề Thanh Nam: “Chín năm chung sống với nhau ở Saigon, Thanh Nam không phải là người chồng tốt. Chúng tôi lấy nhau có đám cưới nhưng không có hôn thú. Khi con gái đầu lòng học hết lớp mẫu giáo, chàng mới chịu đóng tiền đút lót một ông lý trưởng ở Quảng Nam để ông ta cấp cho một tờ hôn thú lậu và làm giấy thế vì khai sinh cho con”.

 
Dưới con mắt Túy Hồng, Thanh Nam, chỉ là “một văn sĩ nhỏ nhưng chơi toàn với những tay lớn”, nên đã nhờ một ông thiếu tá giới thiệu với một bác sĩ quân y để xin một giấy chứng nhận bị bệnh thần kinh để nghỉ phép ăn lương. Túy Hồng làm ở đài phát thanh bốn năm mà vẫn lãnh thêm lương giáo chức.

 
Sau đó Thanh Nam nhờ nhà báo  Lê Phương Chi giới thiệu Túy Hồng với ông giám đốc Khai Trí để bán tất cả những tác phẩm đã viết, đang viết, và sẽ viết với một số tiền trả trước. Thanh Nam nói: “Em cứ làm theo lời anh. Trời phạt anh chịu.”

 
Không biết nói chơi như vậy có đúng hay không nhưng những ngày tháng cuối cùng của Thanh Nam bên Túy Hồng tại Seattle là cả một chuỗi bi kịch kể từ khi bác sĩ tuyên bố Thanh Nam bị chứng ung thư cổ họng. Để chữa trị, ống nhựa, ống hút đặt trong mũi, trong miệng khiến Thanh Nam không nói được. Hai người chỉ dùng giấy bút để nói chuyện...



 
blank
Thanh Nam
 


Túy Hồng kể lại: “Từ ngày mất tiếng nói, chàng viết: “Ngày xưa ăn chơi, sang Mỹ bỏ chơi chỉ còn ăn... Một thằng khoái ăn ngon như anh mà trời không cho đớp”. Rồi lại viết: “Cái khổ của kiếp người là chỉ có một đời để sống mà lại có quá nhiều đời khác để mơ.”

 
Thanh Nam đọc sách, ôm kinh Phật tụng âm thầm, cố gắng tập thể dục thực hành những lời thiền chỉ dạy. Hàng phục vọng tâm, an trụ chân tâm. Có những đêm thức giấc, đứng sau cửa kính mờ, Thanh Nam nhìn  ra ngoài trời không trăng sao, có những ngày an phận nín câm, Thanh Nam đi tới đi lui, ngồi nằm...

 
Có khi con cái tan trường về, Thanh Nam vui cười nấu ăn, coi tivi, lòng thư thái an lành như lá bạch dương êm ái chạm vào nhau khi có gió. Còn tôi ngồi bên cạnh, tôi nghe bộ tiêu hoá của chàng réo sôi ùng ục, đồ ăn cử động trong bao tử, chuyển từ ruột non tới ruột già xuống hậu môn.

 
Bằng hũu đến thăm, gửi thư gửi thiệp chúc mừng. Thơ và văn, thiền và thuốc, và những cơn đau khủng khiếp vỡ đầu bể ngực từ cái ống nhựa đặt trong cổ thay thế cho thanh quản, khí quản gì đó phải cắt bỏ vứt đi, và từ những phản động hoá học của thuốc mê, thuốc tỉnh, thuốc viên, thuốc nước, thuốc bột, trụ sinh, an thần, morphine.. .



 
Trước khi đi vào hôn mê, Thanh Nam đã viết xuống: “Người nghệ sĩ có những lúc sống cẩu thả, buông thỏng dây cương luân lý, nhưng em nên nhớ rằng từ ngày lấy em, anh không bao giờ phản bội thể xác em.

 
Đôi mắt Thanh Nam to nhưng cạn và mờ đục, lúc đó ánh lên, nhìn thẳng mặt tôi. Tôi thấy tôi hiện diện trong cái nhìn thật thà đó: ở chàng, tình nghĩa vợ chồng cũng quý báu như lòng hiếu hữu ái mộ bạn hiền.


 
blank
Thanh Nam của ngày xa xưa
 


Như đã nói, hai nhà văn Nhã Ca và Túy Hồng có nhiều điểm chung nhưng giữa họ cũng có một điểm khác biệt lớn: truyện của Nhã Ca dựa vào bối cảnh chiến tranh trong khi Túy Hồng lại dựa vào tính dục của con người.

 
Các nhà phê bình thường cho rằng nhiều nhà văn nữ có lối viết mới hơn, kêu hơn, vào sâu hơn trong vấn đề tình dục, nhưng vấp phải cái hỏng ở phần xây dựng nhân vật. Họ không vẽ được cái mặt và cái chân tướng của người đàn ông, nghĩa là không thể hiểu một cách cặn kẽ tâm lý đàn ông.
 
 
Nhân vật của Túy Hồng thường là cô giáo trong khi Nguyễn Thị Thụy Vũ lại khai thác đối tượng là các cô gái bán bar. Lê Châu nhận xét: “Đọc văn đàn bà ngày nay, ta nhận thấy đàn ông trong các tác phẩm hình như phải nhận một hình phạt nho nhỏ nào đó.  Phải chăng trên cõi đời này đàn bà đã yêu đàn ông nhiều hơn họ được yêu lại? Phải chăng khi đọc họ, ta nghe được tiếng kêu buồn của tình yêu không được thoả mãn?”.

 
Nhà phê bình Nguyễn Văn Lục trong bài Phụ nữ và vấn đề tình dục trên Hợp Lưu năm 2005 viết: “Trước đây, thập niên 60-70, đã có Tuý Hồng viết rất bạo dạn, dữ dội. Gái Huế đa tình… nay đã có nhà văn như Tuý Hồng buông thả, phóng khoáng, mở toang … ” 

 
Theo ông, âm hộ như một cánh cửa giải phóng phụ nữ và đồng thời là một bản cáo trạng về kinh nguyệt, màng trinh, mòng đóc và chuyện sinh đẻ. Trong khi đó, nhà phân tâm học Sigmund Freud định nghĩa female hormone là “những giọt dầu dâm dục trong cơ thể đàn bà, những giọt mỡ màu xám chì trong máu, những giọt nhớt từ các  phần mềm của phái yếu nhiễu ra, và cũng là những giọt nước mắt béo từ ngọn nến tình dục muộn màng”.

 
Nhà văn nữ người Pháp, Francoise Sagan, là một hiện tượng trong văn học VNCH với các tác phẩm như Bonjour Tristesse (Buồn ơi chào mi, Nguyễn Vỹ dịch năm 1959), Un certain sourire (Có một nụ cười, Nguyễn Minh Hoàng dịch) và Dans un mois, dans un an (Một tháng nữa, một năm nữa, Bửu Ý dịch năm 1973). Sagan đưa ra một lối viết thật ngắn, lối sống, lối nghĩ thẳng băng đến thản nhiên, đến vô tình. Và đặc biệt hơn cả, quan hệ tình dục ngang trái, khác đời của một nữ sinh còn trên ghế nhà trường trực tiếp tác động trên đời sống thanh thiếu niên thành thị miền Nam.

 
Các nhà văn nữ vào những thập niên 60 như Nguyễn thị Hoàng, Túy Hồng, Lệ Hằng, Nguyễn thị Thụy Vũ có những nét gì trùng hợp với Sagan? Chúng ta không dám khẳng định họ “bắt chước” Sagan nhưng khi đọc các tác phẩm của họ, người đọc cảm thấy hình như phảng phất đâu đó không khí của Sagan.

 
Nguyễn Văn Lục viết: “Sagan tả những liên hệ tính dục một cách phơn phớt, không đào sâu, không đậm đặc, “không mặn”, không sống sượng như Túy Hồng hay Nguyễn thị Thụy Vũ. Đọc những nhà văn viết mặn này xong là khát nước. Lối văn của Sagan cụt, hụt hẫng, hững hờ, không màu mè, diêm dúa. Mục đích của Sagan không phải là mô tả những scènes tình dục cho bằng muốn nhắn gửi: cuộc đời chẳng có gì quan trọng, ngay như chuyện làm tình...”

 
Túy Hồng trong bài phỏng vấn của Hoài Nam, Phụ nữ và Văn chương, trình bày quan điểm của mình về lớp nhà văn nữ sau này ở hải ngoại như Lê thị Thấm Vân, Trịnh Thanh Thuỷ, Nguyễn thị Thanh Bình, Nguyễn thị Ngọc Nhung… và ở trong nước như Vi Thùy Linh, Đỗ Hoàng Diệu…:

 
“Viết là tưởng tượng – fiction – căn cứ trên thực tại – fact.  Tôi yêu fiction dựa trên fact..  Nghệ thuật có giá trị khi nó là sự thật, không phải của giả. Tình dục không cho ta một nắm to của cái cảm xúc gọi là “sướng”, và không gây cho ta một chỗ đau nào đó trên thân thể. Sự thật, giây phút tuỵệt đỉnh lúc ân ái chỉ diễn ra chừng năm bảy tích tắc kim đồng hồ, và cái lượng đam mê cũng nhỏ thôi chứ đâu có bự như những nhà văn nữ lớp mới đã tả. Sự thật thì ít nhưng chúng ta đã xít ra cho nhiều. Sự thật thì bé nhưng chúng ta đã xé ra cho to”.


 
blank
Thủ bút và chữ ký của Túy Hồng
(Tranh do Tạ Tỵ vẽ)
 
===
 
Chú thích:

 
[1] Túy Hồng: tên thật Nguyễn Thị Tuý Hồng, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1938 tại Chí Long, Phong Điền, Thừa Thiên. Tốt nghiệp đại học sư phạm Huế. Đoạt giải Văn học Nghệ thuật của VNCH năm 1970. Định cư tại Mỹ năm 1975, tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ.
 
Tác phẩm đã xuất bản:
 
  • Thở dài (nhà xuất bản Đời Mới 1965, Kim Anh tái bản 1966)
  • Vết thương dậy thì (nhà xuất bản Kim Anh, 1966)
  • Trong móc mưa hạt huyền (nhà xuất bản Đồng Nai, 1969)
  • Tôi nhìn tôi trên vách (nhà xuất bản Đồng Nai, 1970)
  • Những sợi sắc không (Giải Văn chương toàn quốc, nhà xuất bản Khai Trí 1971)
  • Biển điên (nhà xuất bản Văn Khoa, 1971)
  • Bướm khuya (nhà xuất bản Đồng Nai, 1971)
  • Nhánh tóc sợi dòn (1972)


blank
 Nhánh tóc sợi dòn


 
  • Mối thù rực rỡ
  • Eo biển đa tình (1973)
  • Trong cuối cùng
  • Sạn đạo
  • Tay che thời tiết
  • Mưa thầm trên bông phấn
  • Thông đưa tiếng kệ

 
blank
Eo biển đa tình
 


[2] Võ Phiến: tên thật là Đoàn Thế Nhơn, sinh năm1925, tại Trà Bình, Bình Định. Ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc của VNCH vào năm 1960 với tác phẩm Mưa Đêm Cuối Năm. Ông là tác giả của 4 tiểu thuyết, nhiều tập truyện ngắn, 9 tập tùy bút, một tập thơ và hàng chục tác phẩm phê bình, tiểu luận, truyện dịch.

 
Những năm gần đây ông đã cho xuất bản 7 bộ sách về Văn học miền Nam 1954-1975, dày gần 2000 trang, chú trọng về tiểu thuyết, thơ, kịch, ký và tùy bút. Trong lãnh vực nghiên cứu văn học, bộ Văn học miền Nam của Võ Phiến, dù gây nhiều tranh cãi sôi nổi và dù còn một số hạn chế, vẫn là một trong những thành tựu lớn nhất. Bộ sách không những giúp người đọc nhận diện một khía cạnh khác trong tài năng của Võ Phiến mà còn cung cấp cho người đọc một khối tài liệu đồ sộ, đáng tin cậy về một nền văn học từng một thời phồn thịnh nhưng ngỡ đã bị quên lãng.

 
Tác phẩm đã in:
 
Tiểu thuyết: Giã từ (Bách Khoa, Sài-gòn, 1962), Một mình (Thời Mới, 1965), Đàn ông (Thời Mới, 1966), Nguyên vẹn (Người Việt, California, 1978).
 
Truyện ngắn: Chữ tình (Bình Minh, Quy Nhơn, 1956), Người tù (Bình Minh, 1957), Mưa đêm cuối năm (Tự Do, Sài-gòn, 1958), Đêm xuân trăng sáng (Nguyễn Đình Vượng, 1961), Thương hoài ngàn năm (Bút Nghiên, 1962), Về một xóm quê (Thời Mới, 1965), Truyện thật ngắn (Văn Nghệ, California, 1991).
 
Tùy bút: Thư nhà (Thời Mới, 1962), Ảo ảnh (Thời Mới, 1967), Phù thế (Thời Mới, 1969), Đất nước quê hương (Lửa Thiêng, 1973), Thư gửi bạn (Người Việt, California, 1976), Ly hương (in chung với Lê Tất Điều, Người Việt, California, 1977), Lại thư gửi bạn (Người Việt, 1979), Quê (Văn Nghệ, 1992).
 
Tiểu luận: Tiểu thuyết hiện đại (bút hiệu Tràng Thiên, Thời Mới, 1963), Văn học Nga Xô hiện đại (Thời Mới, 1965). Tạp bút, ba tập (Thời Mới, 1965-66), Tạp luận (Trí Đăng, 1973), Chúng ta qua cách viết (Giao Điểm, 1973), Viết (Văn Nghệ, 1993), Đối thoại (Văn Nghệ, 1993).
 
Biên khảo: Văn học miền Nam tổng quan (Văn Nghệ, 1986), Văn học miền Nam, 6 tập, gồm 3 tập về truyện, 1 tập ký, 1 tập kịch - tùy bút và 1 tập thơ (Văn Nghệ, 1999).
 
Dịch thuật: Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà (Stéfan Zweig) (Thời Mới, 1963), Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại (André Maurois) (Thời Mới, 1964), Truyện hay các nước, 2 tập, cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng (Thời Mới, 1965), Ông chồng muôn thuở (Dostoyevsky) (1973).
 
Toàn bộ tác phẩm Võ Phiến được in lại trong Võ Phiến Toàn Tập, 9 cuốn (Văn Nghệ, 1993).


 
blank
Tạp chí Văn, số đặc biệt về Võ Phiến

 

[3] Thanh Nam (1931 – 1985): Nhà văn, nhà thơ tên thật là Trần Đại Việt, người làng Mỹ Trọng, Nam Định. Năm 1946, mới 15 tuổi, Thanh Nam đã được tờ báo Thiếu Nhi tại Hà Nội đăng thơ và mời cộng tác và viết một số Sách Hồng cho nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh.

 
Ông bắt đầu viết vào năm 1950, mới 19 tuổi, dùng bút hiệu Thanh Nam. Theo Tuý Hồng, bút hiệu Thanh Nam là ghép bởi Hà thành (Hà Nội) và Thành Nam (Nam Định), sau đó bỏ bớt dấu huyền trong chữ Thành.

 
Thanh Nam vào Sài Gòn năm 1953, trước hiệp định Genève chia đôi Nam Bắc. Chỉ sau mấy tháng, được mời làm Tổng Thư ký báo Thẩm Mỹ, viết truyện ngắn, truyện dài, bình thơ độc giả,  phụ trách nhiều mục khác như Phụ nữ Gia Đình, Gỡ Rối Tơ Lòng …  và còn ký nhiều tên con gái như Sông Hương, Cô Hồng Ngọc, Bà Bách Lệ, Tôn nữ Đài Trang… Năm 1960, ông cũng hợp tác với nguyệt san Hiện Đại do Nguyên Sa và Thái Thủy chủ trương và còn là Tổng Thư ký tuần báo Nghệ Thuật. Năm 1966, ông cộng tác trên tuần báo Kịch Ảnh.

 
Thanh Nam cùng Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Tô Kiều Ngân và nhiều văn nghệ sĩ khác phụ trách chương trình thơ nhạc Tao Đàn trên Đài Phát thanh Sài Gòn, Đài Quân đội… đặt lời ca cho một số nhạc phẩm, trong số đó phải kể đến bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống. Thanh Nam còn cộng tác với nhiều nhật báo tại Sài Gòn qua nhiều loạt truyện dài viết theo kiểu feuilleton, rất được đông đảo độc giả ưa thích.

 
Tác phẩm đã xuất bản của Thanh Nam:
 
·         Hồng Ngọc (1957)
·         Người nữ danh ca (1957)
·         Buồn ga nhỏ (1962)
·         Giấc ngủ cô đơn (1963)
·         Còn một đêm nay (1963)
·         Cho mượn cuộc đời, bầy ngựa hoang (1965)
·         Giòng lệ thơ ngây (1965)
·         Những phố không đèn (1965)
·         Mấy muà thương đau (1968)
·         Thuế sống, Xa như dĩ vãng, Gã kéo màn,  ….
·         Đất khách (1983)
·         Hồi ký 20 năm viết văn làm báo (viết dang dở trên tờ Văn, 1984).


                                                                                          Nguyễn Ngọc Chính
                                                                             (từ: emails)


                                   * 



                                   *

                                        Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks!

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, April 10, 20208:58 AM(View: 628)
Trưa ngày 30-4-1975. Chiếc xe tăng với lá cờ xanh đỏ và ngôi sao vàng húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập. Đó là tiếng gõ cửa của định mệnh, tiếng chuông báo tử cho số phận miền Nam.
Tuesday, March 31, 20202:25 PM(View: 2019)
(h. PNT) TRẦN YÊN HÒA hơn năm mươi lăm năm THƠ là tập thơ phản ánh tâm trạng của nhà thơ qua nhiều thể loại thơ
Thursday, March 19, 20206:51 PM(View: 505)
“Phố Hoài” là tác phẩm mới nhất của nhà văn Trần Thị Trường. Như tác giả cho biết, cuốn sách được chị viết trong 10 năm.
Tuesday, March 17, 202010:05 AM(View: 534)
Là một định nghĩa quả quyết khi nhận được tập thơ của thi sĩ Nguyễn thị Khánh Minh gởi tặng vào đầu năm 2020. Tác giả tập thơ Ngôn Ngữ Xanh cho tôi một ấn tượng hào sảng khi đọc trọn tập thơ với những phụ lục khác nhau
Sunday, March 15, 20204:29 PM(View: 548)
Đó là cái nhãn hiệu mà người ta gán cho tôi khi tôi có tập truyện ngắn đầu tiên được in ra. Điều này tôi thấy vui vui, mình viết khơi khơi, lung tung lang tang mà được cái mác như vậy. Thật ra, tôi chỉ là một người thích kể chuyện, nhà văn nữ, danh xưng này quá cao sang, quá tầm với tôi.